Ibn Séoud

Vietsciences-Nguyễn Hiến Lê        20/12/2005

 

"Con đã học được cái đao cao rộng nhất ở đời rồi đó, con đã học được đạo Vạn năng, tức đạo kiên nhẫn"

Ibn Séoud (1881-1953) Vị anh hùng nhờ kiên nhẫn trong nửa thế kỷ mà tạo nên được  một quốc gia phú cường giữa sa mạc

1 2 3 4 5

 

VII/ Công việc kiến thiết

Khi chiếm xong một xứ thì chỉ mới là bắt tay vào việc.

Năm đó, Ibn Séoud bốn mươi tám tuổi. Một chiến sĩ vạm vỡ như ông, thì tuổi bốn mươi tám còn là tuổi xuân. Ông hăng hái đem hết tinh thần để kiến thiết nước Ả Rập Séoud.

Tinh thần tôn giáo của dân chúng dưới thời Hussein đã xuống quá rồi. Thánh địa Mecque thành một nơi buôn bán, điếm đàng, trụy lạc. Ông triệu tập một hội nghị các dân tộc A Rập liên hiệp để họ giải quyết lấy với nhau vấn đề chấn hưng luân lý và tôn giáo; ông không dự những buổi họp, chỉ theo dõi thôi. Nhưng họ chẳng làm nên chuyện gì cả, sau mười lăm ngày bàn cãi, vấn đề càng hóa rối thêm. họ cãi nhau như mổ bò, mạnh ai nấy nói, mà kẻ nào nói thì kẻ ấy nghe. Có người bỏ vấn đề tôn giáo , bàn đến chính trị  mà quên rằng lần trước  Ibn Séoud đã tuyên bố quyền trị phải  ở trong tay ông vì chỉ có ông  mới không phải là tay sai của ngoại quốc, mới giữ cho Thánh địa khỏi chịu ảnh hưởng của Anh, Pháp, Ý... Có kẻ vốn quen tính nô mệ, nhất định xổ tiếng Anh ra để khoe giọng Oxford hay Cambridge, khinh miệt tiếng của tổ tiên, tiếng của kinh Coran.

Ông bất bình, ra lệnh giải tán rồi đặt những luật để trừng trị những kẻ nào phạm những  điều cấm trong kinh Coran

Việc thứ nhì là lập lại sự trị an trong sa mạc. Dưới triều đại Hussein, đời sống ở Hedjaz không được bảo đảm. Cướp bóc giết chóc  liên miên. Ngày nào cũng gặp thây ma trên đường. Tới mùa hành hương, số tín đồ bị giết và cướp bóc tăng vọt lên. Người ta đâm chém nhau vì một miếng bành, một đồng tiền. Không  một con đường nào là yên ổn, không  một làng nào không bị cướp đánh. Nạn hối lộ tràn lan khắp xứ. Kẻ phạm tội không bị xử. Thành thử dân phải tự xửa lấy. Hễ bị cướp thì cướp lại, bị giết thì có người thân trả thù. Máu đổi máu.

Ibn Séoud ra lệnh rất nghiêm. Hễ bắt được  kẻ trộm thì tòa xử chặt một bàn tay, tái phạm thì chặt nốt tay kia. Hễ giết người thì bị xử tử. Say rượu mà nói bậy thì phại hai mươi hèo.

Các chiến sĩ trong quân đội Ikwan ngày đêm đi khắp nơi để trừ kẻ gian. Luật lệ thi hành răng rắc, không vị tình, không thương hại, không sợ kẻ quyền quý. Chỉ trong ít tháng, xứ Hedjaz không còn đạo tặc nữa. Đồn lũy của người Thổ hồi xưa dựng lên hóa ra vô ích. Một thương nhân để quên một gói đồ trên đường thì một tháng sau trở lại vẫn y nguyên chỗ cũ, vì không  một bộ hành nào dám mò tới.

Ông  Gérald de Gaury viết trong cuốn Arabia Phoenix: "Sự trị an ở xứ Ả Rập Séoud thực lạ lùng, khắp Âu châu có lẽ không nước nào được như vậy."

Ông Jean Paul Penez trong bài "Une enquête chez les les fils d'Ibn Séoud"  cũng  nhận, "Xứ đó là xứ yên ổn nhất thế giới, một xứ mà đức  hạnh là sự bắt buộc... Trên khắp cõi A Rập trong suốt năm, tội sát nhân cướp bóc  lại ít hơn Paris một ngàỷ. Được như vậy là nhớ dân chúng theo đúng  kinh Coran.

Từ trước, Séoud với vài cận thần lo mọi việc trong nước. Nay ông thấy cần phải lập nội các như các  nước  tân tiến, cũng có đủ các bộ Nội vụ, Tài chánh, Ngoại giao, Canh nông, Tư pháp, Quốc phòng... Nhưng  lựa đâu đưọoc người để giao những trách nhiệm đó. Trong xứ Nedjd thiếu hẳn nhà trí thức có tân học thì làm sao canh tân quốc gia được? Ông có óc rộng rãi, không kỳ thị ngoại tộc, tiếp đón tất cả các nhân tài dù là Ba Tư, Ấn Độ, Syrie, Ai Cập... miễn họ có huyết thống A Rập và theo đạo Hồi hồi.  Thành thử nội các đầu tiên của ông  gồm một người ở Quasim, một người ở Ai Cập, một người Syrie, một người Palestine, một người Liban. quyết định đó thực là sáng suốt có lợi về cả phươn diện nội trị lẫn ngoại giao vì gây cảm tình với các dân tộc  Syrie, Liban...

Khi trưởng nam của ông  mất, hoàng tử Saud được làm đông cung thái tử. Độc giả còn nhớ Saud sinh ở Koweit đúng vào lúc ông chinh phục được kinh đôRyhad. Từ hồi 18 tuổi, chàng theo cha trong các cuộc hành quân, tỏ ra rất can đảm, được lòng sĩ tốt, vì sống chung với sĩ tốt một cách rất bình dị. Năm 1934, trong một cuộc hành hương ở Mecque, chàng  lấy thân che cho cha để cha khỏi bị bốn tên thích khách ám hại.

Faycal, em của Saud được làm phó vương ở Hedjaz, rồi sau làm thủ tướng nhờ óc sáng suốt, cấp tiến, hiểu biết nhiều về Tây phương.

Còn nhà vua thì lãnh nhiệm vụ khuếch trương và tân thức  hóa đội quân Ikwan. Ta nên nhớ khi ông  mới lên ngôi thì A Rập còn là một xứ lạc hậu, bán khai, năm 1928 mà cả xứ Hedjaz chỉ có 12 chiếc xe hơi  đều là của hoàng gia, khí giới chỉ có ít súng trường và gươm giáo. Đất đai thì mênh mông  mà dân số thì thưa thớt. Xứ A Rập Séoud có tới 1.750.000 cây số vuông (toàn thể bán đảo A TRập là 2 triệu cây số vuông) mà dân số sau đại chiến thứ nhì , theo Larousse Universel, được sáu triệu người [1], riêng miền Nedjd chỉ có 3 triệu. Ba triệu dân phải nuôi 50 000 sĩ tốt của đội Ikwan, kể cũng đã là một gánh nặng; vì nếu theo tỉ số đó thì nước Ấn độ 300 triệu dân phải nuôi năm triệu quân lính.

Khi đã bình định xong, ông vẫn giữ quân số đó, nhưng  một nửa là hiện dịch, còn một nửa là trừ bị, cho về làm ruộng tại các đồn điền, khi nào hữu sự sẽ gọi ra. Tuy nhiên ông  bắt họ phải thường  luyện tập. Ông  mua súng  liên thinh, xe thiết giáp, đại bác rồi nhờ các nhà quân sự Anh, Mỹ huấn luyện. Các  kỵ sĩ A Rập phản khán, vẫn chỉ thích múa gươm, cưỡi ngựa, không chịu dùng những  máy móc của "tụi quỷ" đó, nghĩa là không  chịu lái xe, bắn súng. Họ bảo thắng trận không  nhờ khí giới mà nhờ Allah. Chính Mahomet nếu không có thiên thần xuống trợ chiến thì không thắng được trận Beder. Nếu ta dùng những  khí giới của tụi quỷ đó thì thiên thần sẽ sợ hãi, Allah sẽ nổi giận, không được  ơn trên giúp nữa, ta tất phải thua. Muốn mạnh thì phải tăng lòng tin lên, tụng kinh ăn chay cho nhiều vào, chứ đừng dùng những  khí giới mới

Chúng ta đừng cười họ. Mới hồi đầu đại chiến thứ nhất tại đất Nam này, một số đông ùn ùn theo Phan Xích Long và tin rằng hễ theo bùa của Phan thì súng bắn cũng không bị thương. Mà có lẽ trong đại chiến vừa rồi cũng vẫn còn một số người tin như vậy. Tôi sở dĩ chép lại lời các kỵ sĩ A Rập chỉ để độc giả thấy Ibn Séoud đã gặp những nỗi khó khăn ra sao khi muốn tân thức hóa xứ sở. Khó khăn hơn Mustapha Kémal trong kế hoạch tân thức hóa Thổ Khĩ Kỳ nữa vì dân Thổ đông hơn, lại tiếp xúc với phương Tây nhiều hơn, thiếu nữ quý phái của họ tuy bị cấm cung thật nhưng cũng có nữ giáo sư Pháp lại dạy và được đọc những sách Pháp từ Rousseau với Hugo. Còn các nhà tu hành A Rập, tức hạng người có học, có uy tín đối vơi dân chúng, thì tới khoảng 1930, vẫn không tin rằng dùng một cái máy nhỏ, có thể cách nhau hàng trăm cây số nói chuyện với nhau được. Thánh kinh Coran có dạy điều đó đâu? Đúng là bị quỷ lừa gạt rồi. nghe nó thì chết.

Ibn Séoud phải triệu tập các vị tu hành lại ở trong điện, bảo một vị đọc những câu đầu trong kinh Coran trước ống điện thoại rồi một vị khác  ngồi trong  một phòng rất xa cũng ở trong cung, cầm ống nghe. Lúc đó họ mới nhận rằng không phảo là lời của quỷ, vì giọng nói rất quen thuộc, vả lại quỷ nào lại tụng kinh của Chúa!

Một lần khác, một vị đạo sư nào đó có đức hạnh, ngấm ngầm chống ông, phá ông, ông được tỉ mật vụ cho hay, phái mời vị đó lại một phòng giấy, cầm ống điện thoại lên nghe. Nghe được  mấy câu, vị đó xanh mặt lên: hành động của mình được kể tỉ mỉ, rành rọt ở trong máy. Sau cùng có câu: "Ta tha lỗi cho đấy, nhưng từ đây đừng nói xấu nhà vua nữa nhé" . Ông ta vội vàng quỳ xuống, hứa sẽ trung thành.

Đó, Ibn Séoud  phải dùng những thuật như vậy, lúc thì ngọt, lúc thì xẵng, mới thuyết phục được quốc dân theo con đường mới.

Muốn cho nước phú cường thì phải nhờ canh nông và kỹ nghệ. A Rập vốn là một xứ mục súc, phải tiến tới giai đoạn nông nghiệp trước rồi sau cùng mới qua giai đoạn kỹ nghệ. Vì vậy từ khi mới khôi phục được gian san, Ibn Séous đã lập ngay những khu đồn điền. Nhưng những khu đó chỉ phát triển tới một lúc nào thôi. Vì thiếu nước. Mà nước kiếm ở đâu bây giờ? Cả xứ không có một con sông lớn, suốt năm chỉ mưa xuống có bảy phân nước. Chỉ còn mỗi một cách là đào giếng, đào giếng trong sa mạc.

Từ xưa dân bản xứ vẫn truyền khẩu những chuyện có vẻ hoang đường. họ kể rằng có một thời xa xăm nào đó xứ A Rập không khô cháy như ngày nay, trái lại, cây cỏ khắp nơi xanh tốt, rừng rú âm u [2]. Họ lại tin rằng những giếng nước , cách nhau hàng trăm cây số nhưng vẫn thông ngầm với nhau ở dưới đất. Họ cam đoan rằng có lần liệng một cái chén bằng gỗ xuống  một cái giếng, ít lâu sau thấy chén đó hiện  lên ở mặt nước trong một cái giếng cách nơi đó hai trăm cây số. Họ còn bảo nhìn mức nước trong giếng lên cao họ biết chắc rằng ở một miền xa nào đó đã mưa lớn. Ở bờ vịnh Ba Tư, những người mò trai gặp những luồng nước ngọt ở đáy biển, dưới lớp nước mặn

Ibn Séoud không cho những chuyện đó là hoang đường. Ông ngờ rằng dưới lớp cát có nhiều dòng nước, hễ đào lên tất gặp. Ông  mời các  nhà chuyên môn Mỹ tới tìm nước cho ông, và họ tìm thấy rất nhiều nước  ở dưới cát, cả trong những  miền khô khan nhất. Họ nhận xét rằng dân A Rập như có một giác quan thứ sáu , đoán chỗ nào có nước thì quả nhiên chỗ đó có nước [3]

Một lần họ đào tại Ryhad một cái giếng sâu 170 thước, rộng 30 thước, gặp một giòng nước lớn. Ibn Séoud hay tin lại coi, đứng trên miệng giếng ngó mặt nước lấp lánh ở dưới sâu một hồi, khi ngưng  mặt lên, nước  mắt chảy rong ròng. Nhà vua thích quá, vỗ vai viên  kỹ sư, bảo:

- Ông  Edwards, ông đã làm được một phép màu. Ở đây với tôi mười lăm năm nữa và chúng ta sẽ biến đổi địa ngục này thành thiên đàng.

Từ đó, khắp nơi, toàn dân hăng hái tiếp tay sửa lại những giếng cũ, khai thêm những giếng  mới, đào kinh, đắp đập, kết quả là kiếm thêm nước để nuôi được 400.000 người và 2.000.000 súc  vật nữa. Hàng trăm ngàn dân du mục  dắt lạc đà, dê, cừu đi lại các giếng nước, vừa đi vừa tụng  kinh y như để dự những  cuộc lễ, nhộn nhịp không  kém cuộc di cư của dân Mỹ trong thế kỷ trước để tìm vàng ở miền Tây.

Có nước rồi thì thêm ruộng, thêm vườn, thêm gia súc. Các kỹ sư canh nông Mỹ lại được  mời qua để nghiên cứu đất đai và phương pháp trồng trọt. Những đất đã bỏ hoang từ mấy ngàn năm, nhờ có nước  mà phì nhiêu lạ lùng, hơn cả miền Texas ở Mỹ. Lúa mì, lúa mạch, cà chua, cà rốt, dưa, tỏi, cà... chỉ cần gieo xuống là mọc lên xum xuê. Mỗi mẫu ở Texas chỉ sản xuất được bốn tạ rưỡi lúa mì, thì ở đây sản xuất được tới mười bảy tạ. Ibm Séoud vội vàng lập ra một bộ canh nông, mà từ xưa tới nay xứ A Rập chưa hề có.

Sản xuất được nhiều rồi thì nghĩ đến vấn đề đàu tải, giao thông. Không thể dùng hoài phương pháp cổ lỗ là chở trên lưng lạc đà, mà phải lập những đường xe lửa. Nhưng tiền đâu? Lợi tức của dân quá thấp, dân số lại ít, sa mạc thì mênh mông, không thể tăng thuế quá sức chịu đựng của dân được. Vấn đề quả thực là nan giải.

May thay, một phép mầu nữa lại xuất hiện, nhờ Allah phù hộ. Năm 1920, một người Anh tên là Frank Holmes đào giếng ở cù lao Barhein, trên vịnh Ba-Tư, ngoài khơi Hasa, chủ ý là để kiếm nước mà không ngờ lại kiếm được dầu lửa, mà người Âu gọi là "hắc kim" (vàng đen), đó là cái "gân của chiến tranh".

Từ thời thượng cổ, người Chaldée đã biết dùng chất đó để làm hồ cất nhà, người Ai Cập dùng để ướp xác. Họ không biết lọc, để nguyên chất ở dưới mỏ mà dùng. Rồi tới giữa thế kỷ XIX, một Đại tá Mỹ tên là Drake tìm được nhiều mỏ ở Pennsylvannie, dầu lửa mới dùng để đốt đèn. Đầu thế kỷ XX người Anh khai được nhiều mỏ ở Ba Tư.

Frank Holmes mua được mỏ Bahrein của một hào mục bản xứ, về Luân Đôn gạ bán lại cho các công ty dầu lửa Anh. Nhưng những công ty này đương khai thác những mỏ ở Ba Tư không xuể, vả lại không tin rằng ở A Rập có những  mỏ lớn, cho nên không thèm mua, Holmes phải bán lại cho một công ty nhỏ của Mỹ, công ty Gulf Oil.

Rồi bỗng tới năm 1930, người ta thấy một nhóm du mục Bắc phi (Bédouin) đổ bộ lên Hasa, có kẻ rất khả nghi. A Rập gì mà không tụng kinh, không biết tiếng A Rập, mà đi đâu cũng  lén lút, lẩn mặt, không  muốn tiếp xúc với ai cả! Ibn cho điều tra kín. Ty mật vụ phúc trình rằng họ là những người ngoại quốc giả trang. Ibn Séoud ra lệnh bắt, tra hỏi. Họ thú là người Mỹ lại tìm mỏ dầu lửa. Ông thả họ ra và để họ tự ý hoạt động. Họ đào nhiều nơi, thấy rằng có một lớp dầu lửa liên tục từ dãy núi Caucase ở Nga với A Rập, ngang qua Mésipotamie và Ba Tư. Dầu lửa tìm được rất tốt mà có lẽ cũng rất nhiều.

Tin đó bay ra, các cường quốc nhao nhao lên. Mỹ, Anh, Hòa Lan, Đức, Nga, cả Nhật nữa phái đại diện tới xin yết kiến Ibn Séoud.

Phòng khách bộ Tài chánh lúc nào cũng chật những nhà kinh tài. Nhà nào cũng năn nỉ được tiếp kiến trước, nhà nào cũng nguyện làm lợi cho A Rập chớ không nghĩ đến tư lợi. Sao mà họ tốt thế? Nhưng nhà vua không gấp. Có người tâu rằng bắt họ đợi cả tuần lễ, e phật lòng họ, ông đáp:

- Để mặc trẫm, trẫm là nhà tu hành biết cách cư xử với hạng tín đồ hành hương đó.

Ông suy nghĩ kỹ, sau cùng nhận đơn của công ty Gulf Oil, tức công ty đã mua lại quyền khai thác những mỏ ở Brahrein của Holmes. Có người hỏi sao ông  lại chọn  lựa một công ty nhỏ nhất, ông đáp:

- Công ty đó là công ty Mỹ. Công ty Mỹ không bị chính phủ Mỹ chi phối mạnh mẽ, vả lại Mỹ ở xa ta, ít dòm ngó ta, sau cùng  người Mỹ đã giúp ta được nhiều việc như đào giếng, cải thiện nông nghiệp.

Bạn bảo là khôn ư? Không, dại đấy. Ông chưa biết những  mánh khoé của bọn kinh doanh Anh nên đã đi sái một nước cờ.

Anh bị hất cẳng, đổ quạu, tìm cách phá. Hồi đó các công ty Anh làm chua tể trên khu cực từ Ba Tư tới Ai Cập. Hầu hết các mỏ dầu lửa lớn là về họ.  Họ muốn làm mưa làm gió gì thì làm. Lịch sử cạnh tranh về dầu lửa ở Tậy Á [4] trong nửa thế kỷ nay giá chéo kỹ lại thì hàng ngàn trang vẫn chưa đủ. Những bậc thông  minh nhất trong giới kinh tài, chính khách, luật gia của mọi cường quốc đấu trí với nhau kịch liệt, tìm mọi cách để hất cẳng nhau, ngầm phá nhau,  nay kết liên, mai phản bội, thôi thì đủ mánh khoé trâng tráo nhất, tài tình nhất, chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi. Tôi chỉ xin tóm tắt trong ít hàng vụ Gulf Oil thôi.

Tôi đã nói Ibn Séoud đi lỡ một nước cờ, ông không ngờ bị người Anh phá, viện những hiệp ước này nọ ký với Pháp, Thổ, Ba Tư, Đức, Hòa Lan... để yêu cầu công ty Gulf Oil đừng đào thêm giếng nào nữa nếu không có sự thỏa thuận của công ty quốc tế dầu lửa, và nếu không nghe lời  thì chết chịu vì tất cả các công ty liên kết kia  sẽ phá giá, ngăn cản trong việc chở chuyên. Ibn Séoud  cò ngờ đâu Anh muốn giữ độc quyền dầu lửa ở miền Tây Á và thành trì của họ kiên cố đến thế. Chú  chích choè Gulf Oil đành chịu thua, bán lại quyền khai thác cho công ty Mỹ Bahrein Oil, mà công ty này chỉ là một chi nhánh của công ty khổng  lồ  Standard Oil ở Californie. Bán với giá rẻ mạt năm vạn Mỹ kim. Trong lịch sử hiện đại chưa có vụ nào mà hời cho người mua  như vậy. Công ty Standard Oil lại hợp tác với công ty Texas Oil cũng của Mỹ, thành công ty California Arabian Standard Oil, viết tắt là C.A.S.O.C. như vậy đủ sức cạnh tranh với những công ty của Anh trên thị trường Á châu. Ở đời này phải có nanh vuốt mới sống được.

Từ đó dầu lửa A Rập mới sản xuất mạnh mẽ, năm 1935 là 174.000 tấn, năm năm sau tăng lên tới 3.000.000 tấn. Các nhà máy lọc dầu mọc lên như nấm ở bờ vịnh Ba Tư, tàu bè ra vô tấp nập, mà vàng cứ tiếp tục tuôn vào kho của Ibn Séoud. Ông  khôn  khép không bán đứt, ông bảo đất cát trong xứ là của toàn dân chứ không phải của ông, ông chỉ bằng  lòng cho thuê trong  một thời hạn nào đó thôi, hết hạn nghĩa là tới năm 2000 thì tất cả máy móc, nhà cửa sẽ về ông hết.

Và ông  lo xa, dạy dỗ dân chúng để đến năm 2000 người A Rập có thể tự khai lấy phú nguyên của họ, khỏi phải nhờ người ngoại quốc, nên một mặt ông  phát triển những đường giao thông, nhất là đường hỏa xa, một mặt mở trường dạy chữ, dạy nghề. Trong một diễn văn, ông bảo:

"Độc lập về chính trị mà làm gì nếu không có sự độc  lập về kinh tế? Chúng tôi tân thức  hóa xứ này không  phải để cho nó mất tự do, mà chính là để cho nó có thể hưởng được sự tự do. Xin các bạn phương Tây đừng hiểu lầm tôi... Xưa kia dân tộc A Rập ngài ngại người ngoại quốc thật đấy, vì nỗi khốn khổ của họ luôb luôn do người ngoại quốc gây ra cả. Nhưng tinh thần đó đã thay đổi rồi, vì tôi thấy giới thượng  lưu A Rập rất thân thiện với các nhà  kỹ thuật ngoại quốc.

"Nhưng xin các bạn ngoại quốc đừng nuôi ảo vọng: tình thân thiện đó , muốn giữ nó thì các bạn phải biết giữ tục lệ và tín ngưỡng của chúng tôi. Tôi muốn rằng các  bạn tới đây với tư cách giáo sư, chứ không phải tư cách ông chủ, tới đây làm khách chứ không  phải xâm lăng. Xứ A Rập nhờ Trời lớn lắm, có thể thỏa mãn tất cả các tham vọng, trừ tham vọng này: chiếm đất của nó."

Thực ra là không còn úp mở gì cả. Ibn Séoud nhắm ai đó. Các kỹ thuật gia đó là dân nước nào vậy? Chắc độc giả còn nhớ. Nhưng chính những kỹ thuật gia đó nghe diễn văn lại không thấy khó chịu, còn mến phục  nữa. Vì chính họ cũng  là những dân thuộc địa đã tự giải phóng, chính họ đã phải chiến đấu như người A Rập để giành lại quyền tự do

Mới băt đầu thịnh vượng được trong mấy năm thì đại chiến lại nổ. Lần này Ibn Séoud không chưng hửng nữa. Ông đã đoán trước nó phải tới. Vả lại ông đã là một duốc vương đáng kể rồi, chứ không còn là hạng tầm thường hồi 1914 nữa

Chiến tranh vừa phát ông đem ngay đội quân thiện chiến Ikwan lên đóng ở phương Bắc và phương Tây. Biết đâu chừng đại chiến thứ nhất làm cho đế quốc Thổ sập thì đại chiến này chẳng làm cho đế quốc Anh sập theo. Và nếu đế quốc Anh sập thì ông sẵn sàng để thay thế họ, chiếm lấy Irak và cả một miền theo bờ Địa Trung  Hải, từ Ai Cập tới Thổ.

Chỉ trong mấy tháng, Pháp phải nằm bẹp dưới gót giày của Đức, rồi Anh lâm nguy. Chính thủ tướng Churchill phải nhận rằng những năm 1940, 1941, "người Anh chỉ ráng giữ cho khỏi chìm lỉm cũng đủ mệt đừ rồi". Nhưng nguy thì nguy, họ vẫn cố nắm lấy miền Tây Á, để khỏi phải mất cái "gân của chiến tranh" tại Ba Tư, khỏi mất liên lạc với Ấn Độ, hòn ngọc của đế quốc Anh. Cho nên họ đem quân Ấn lại đổ bộ ở Bassorah, bất chấp cả hiệp ước Anh-Irak.

Irak chống lại, họ nhanh tay dẹp được. Dẹp xong, Churchill tuyên bố giữa quốc hội: "Hú hồn, nhưng nay mọi sự đã yên rồi".

Kế đó, Anh đuổi được người Pháp ra khỏi Syrie mặc dầu bị tổn thất rất nặng.

Sau cùng họ mới quay lại yêu cầu Ibn rút hết quân đội đóng ở biên giới Koweit đi, đừng dòm ngó mồi đó nữa. Ibn biết chưa phải lúc, đành nghe lời, đợi cơ hội khác.

Anh đã khôn, chiếm Bassorah trước vì căn cứ đó quan trọng vào bực nhất trong đại chiến vừa rồi. Tướng Rommel của Đức cũng đã nhắm điểm đó, hẹn với Nhật sẽ gặp nhau tại đó, nhưng Anh cố giữ và Đức không dám tấn công.

Nhờ làm chủ tịch vịnh Ba Tư, Anh mới tiếp tế được khí giới , nguyên  liệu cho Nga từ năm 1941 trở đi. Anh, Nga phân công với nhau: Anh chở tới Bassorah rồi Nga chở tới dãy núi Caucase

Anh gởi cho Nga cao su Singapore, thiếc Malaisie, chì Miến Điện và Úc, nhưng bao nhiêu cũng không đủ. Staline cứ đòi tăng hoài, tăng gấp đôi, gấp ba vẫn chưa bằng lòng. Churchill đành cầu cứu Roosevelt. Roosevelt vui vẻ nhận liền,  cuối năm 1941 tuyên bố rằng Mỹ sẽ lo hết vấn đề tiếp tế Nga để cho Anh được rảnh tay. Bạn Đồng Minh với nhau mà! Và một khi Mỹ đã tận lực giúp thì phải biết là đắc lực! Năm 1943 chở 138.000 xe cam nhông, 912.000 tấn thép, 100.000 tấn thuôc súng, hằng trăm cây số đường rầy, 1,5 triệu tấn thức ăn, 9.000 tấn hạt giống và vô số máy móc đủ loại.

Cảng Bassorah hẹp quá, vì nằm trên sông, không tiếp nhận hết những vật đó, người Anh muốn mượn hải cảng  và đường lộ của Ả Rập Séoud, trên vịnh Ba Tư.

Ibn Séoud lúc đó đương túng tiền, đã mượn trước 6.800.000 Mỹ kim của công ty C.A.S.O.C. để mua khí khới cho quân đội Ikwan mà vẫn còn thiếu, cần dùng 10 triệu Mỹ kim nữa. Cho nên ông đáp:

- "Bà con muốn mượn đường thì mược nhưng xin trả tiền cho chúng tôi! Muốn mượn hải cảng cũng được, nhưng xin trả tiền cho chúng tôi! Mà trả bằng vàng hoặc bằng Mỹ kim kia, chứ chúng tôi không chịu Anh kim"

Anh đổ quạu. Quân vô ơn này trước kia ngửa tay xin mình 5 ngàn Anh kim một tháng  mà bây giờ lên chân dữ, đòi tống tiền mình mà lại chê không thèm Anh kim! Anh muốn trừng phạt cho biết tay, nhưng Mỹ vội can:

-"Tụi Ả Rập đó là tụi cuồng tín. Tấn công nó thì nó chống cự lại tới cùng. Nó có thể đốt hết các mỏ dầu lửa được lắm. Mà thuật du kích của nó cũng đáng sợ dấy. Tôi mới cho bác  mượn 425 triệu Mỹ kim, thôi thí cho nó 10 triệu đỉ

Anh bắt buộc phải nghe lời. Ibn mỉm cười nhận tiền vì có nhân viên Mỹ cho hay trước rằng tiền đó chẳng  phải là của Anh đâu.

Sở dĩ Roosevelt chơi cay với Anh như vậy vì mấy năm trước người con trai của ông, đại úy James đã lãnh sứ mạng qua dò xét tình hình miền Tây Á, và về tường trình rằng dân chúng miền đó không  ưa người Anh, mà tài nguyên lại rất nhiều, Mỹ nên len chân vào đi.

Anh trao tiền cho Ibn Séoud và đòi hỏi những quyền lợi này nọ về chánh trị. Mỹ đâu chịu để cho Anh dùng tiền của Mỹ để làm lợi cho Anh, phản động  lại liền, ghi ngay Ả Rập vào danh sách những xứ được hưởng luật Cho mượn và cho thuê; thế là tha hồ muốn tiếp tế cho Ibn bao nhiêu cũng được, chẳng cường quốc nào nói ra nói vào nữa.

Chính ra đạo luật đó chỉ để giúp những nước dân chủ bị bọn phát xít hăm dọa. Ả Rập Séoud không bị phát xít hăm dọa mà lại càng không  phải là một nước dân chủ. Nhưng Thượng nghị viện không chất vấn và thông qua với đại đa số thăm thuận.

Tới tháng Hai năm 1945 Roosevelt nhân ghé Ai Cập, mời Ibn Séoud lại đó để cùng nhau hàn huyên. Ông đã không mời Churchill dự mà đến phút chót mới nói qua cho Churchill hay. Churchill tím mặt. Roosevelt tiếp đón Ibn cực kỳ long trọng, y như một gengleman tiếp một công chúa Ả Rập vậy. Người Mỹ phái một khu trục hạm đặc biệt tới Djeddah để đón, rồi biết tánh nhà vua quen ngủ lều, nên may một cái lều trắng căng trên boong tàu.

Khi hai bên gặp nhau, Roosevelt nhã nhặn chào trước:

- Được gặp nhà vua, tôi mừng quá. Tôi có thể giúp Ngài được gì?

Ibn Séoud đáp:

- Được tổng thống tiếp đón ân cần như vậy, thực quá vinh dự cho tôi, nhưng tôi không có ý xin Ngài điều gì hết. Thưa Tổng thống, tôi cứ tưởng ngài muốn gặp tôi tức Ngài có điều gì muốn hỏi tôi chứ?

Roosevelt vẫn giữ nụ cười tình của ông, nhưng trong lòng đã ngài ngại. Bà công chúa phương Đông này cao tới hai thước  năm phân, khó xử thật.

Hàn huyên một lát, Roosevelt vào đề, xin Ibn cho một số dân Do Thái trốn Hitler được lập nghiệp ở Palestine. Ibn cương quyết đáp "không", lấy tư cách là giáo chủ của đạo Hồi-hồi ông phải bênh vực đồng bào của ông ở Palestine nếu không thì các dân tộc Ả Rập sẽ coi ông còn ra gì nữa? Lý do đó hợp với "hoàng kim quy tắc" của người Mỹ quá, [5] Roosevelt không biết đáp ra sao.

Rồi tới vấn đề chính trị, Ibn hứa cho Mỹ thuê vài căn cứ của ông trong thời hạn năm năm, hứa không tấn công đồng minh, không giúp sức Đức, Ý -Độc giả để ý lúc đó vào tháng 2 năm 1945, chiến tranh đã sắp kết liễu- bù lại, Mỹ phải tôn trọng sự độc lập của Ả Rập, phải giúp khí giới cho ông, phải giúp ông giải thoát những dân tộc Ả Rập còn bị ách ngoại xâm. Mỹ không thể không nhận lời được vì chính Mỹ đã tuyên bố chính sách thuộc địa phải chấm dứt kia mà.

Sau cùng mới tới vấn đề quan trọng nhất, vấn đề dầu lửa. Hai bên bàn cãi khá gay gắt, rút cục  thỏa thuận với nhau rằng:

- Ibn Séoud chỉ cho thuê mỏ dầu thôi, không bán. -cho thuê trong thời hạn sáu chục năm, tới năm 2005, hết hạn, tất cả các giếng, dầu, nhà máy, dụng cụ đều thuộc về Ả Rập.

- Mỹ phải trả cho Ả Rập từ 18 đến 23 xu, mỗi thùng dầu chở ra khỏi xứ.

- Công ti Aramco có thể khai thác trên một khu vực rộng 1.500.000 cây số vuông [6]  (từ năm 1944 công ti C.A.S.O.C đã đổi tên là Arabian-American Oil Co -Aramco)

Sau này Roosevelt nói rằng trong đời ông chưa gặp một người nào mà "đá" như quốc vương Ả Rập. Ông rút tỉa được rất ít của con người nghị lực gang thép đó.

Rất ít? Có lẽ Roosevelt quá tham. Nội hiệp ước về dầu lửa đó đủ cho Mỹ thu lại hết những phí tổn trong thế chiến vừa rồi, có lẽ còn lợi nhiều nữa là khác.

Chính phủ Anh hay tin đó, nhăn mặt. Bị Mỹ hất cẳng ở Ả Rập Séoud thì uy thế ở phương Đông từ nay bị giảm nhiều

Ai biểu trước kia khinh khỉnh Ibn Séoud?

 

============

[1] Chúng ta cũng nên ngờ con số này. Bộ La Rousse Universel nổi tiếng mà chứa những lỗi rất lớn. Như về Arabie bản in năm 1948 của bộ đã ghi: 2 triệu cây số vuông, 5triệu dân, rồi ít hàng sau về Arabie Séoudite ghi 1.750.000 cây số vuôn, 6 triệu dân. Về Yemen ghi: 62.000 cây số vuông,  3 triệu rưỡi dân. Như vậy Arabie bao trùm Arabie Séoudite, Yemen với nhiều xứ nữa mà dân số lại kém Arabie Séoudite tới 1 triệu

[2] Lời đó đúng: hàng  vạn năm trước  khi Âu Châu còn bị băng  phủ thì A Rập xanh tốt. Sau khi băng  lùi về Bắc  cực thì A Rập mới thành sa mạc.

[3] Các con lạc đà và ngựa sống trong sa  mạc cũng đánh hơi nước  rất tài. Trong cuốn Sur les traces de Bouddha, ông René Grousset có kể rằng  một lần con ngựa của Huyền Trang không chịu tiến theo đường đã định, mà đòi theo một đường  khác. Huyền Trang  lấy làm lạ, để cho nó đi theo ý nó: một lúc sau, nó đưa ông tới một giếng nước.

[4] Chúng tôi dùng danh từ này để gọi miền mà người Pháp gọi là Cận Đông

[5] Golden rule: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân

[6] Trước kia công ty C.A.S.O.C. chỉ được khai thác vùng Bahrein

 

Xem tiếp bài 5

 

1 2 3 4 5

 

           © http://vietsciences.free.fr  http://vietsciences.org  Nguyễn Hiến Lê