VII/ Công việc
kiến thiết
Khi chiếm xong một xứ thì chỉ
mới là bắt tay vào việc.
Năm đó, Ibn
Séoud bốn mươi tám tuổi. Một
chiến sĩ vạm vỡ như ông, thì tuổi
bốn mươi tám còn là tuổi xuân.
Ông hăng hái đem hết tinh thần
để kiến thiết nước Ả Rập Séoud.
Tinh thần tôn
giáo của dân chúng dưới thời
Hussein đã xuống quá rồi. Thánh
địa Mecque thành một nơi buôn
bán, điếm đàng, trụy lạc. Ông
triệu tập một hội nghị các dân
tộc A Rập liên hiệp để họ giải
quyết lấy với nhau vấn đề chấn
hưng luân lý và tôn giáo; ông
không dự những buổi họp, chỉ
theo dõi thôi. Nhưng họ chẳng
làm nên chuyện gì cả, sau mười
lăm ngày bàn cãi, vấn đề càng
hóa rối thêm. họ cãi nhau như mổ
bò, mạnh ai nấy nói, mà kẻ nào
nói thì kẻ ấy nghe. Có người bỏ
vấn đề tôn giáo , bàn đến chính
trị mà quên rằng lần trước Ibn
Séoud đã tuyên bố quyền trị
phải ở trong tay ông vì chỉ có
ông mới không phải là tay sai
của ngoại quốc, mới giữ cho
Thánh địa khỏi chịu ảnh hưởng
của Anh, Pháp, Ý... Có kẻ vốn
quen tính nô mệ, nhất định xổ
tiếng Anh ra để khoe giọng
Oxford hay Cambridge, khinh miệt
tiếng của tổ tiên, tiếng của
kinh Coran.
Ông bất bình, ra
lệnh giải tán rồi đặt những luật
để trừng trị những kẻ nào phạm
những điều cấm trong kinh Coran
Việc thứ nhì là
lập lại sự trị an trong sa mạc.
Dưới triều đại Hussein, đời sống
ở Hedjaz không được bảo đảm.
Cướp bóc giết chóc liên miên.
Ngày nào cũng gặp thây ma trên
đường. Tới mùa hành hương, số
tín đồ bị giết và cướp bóc tăng
vọt lên. Người ta đâm chém nhau
vì một miếng bành, một đồng
tiền. Không một con đường nào
là yên ổn, không một làng nào
không bị cướp đánh. Nạn hối lộ
tràn lan khắp xứ. Kẻ phạm tội
không bị xử. Thành thử dân phải
tự xửa lấy. Hễ bị cướp thì cướp
lại, bị giết thì có người thân
trả thù. Máu đổi máu.
Ibn Séoud ra
lệnh rất nghiêm. Hễ bắt được kẻ
trộm thì tòa xử chặt một bàn
tay, tái phạm thì chặt nốt tay
kia. Hễ giết người thì bị xử tử.
Say rượu mà nói bậy thì phại hai
mươi hèo.
Các chiến sĩ
trong quân đội Ikwan ngày đêm đi
khắp nơi để trừ kẻ gian. Luật lệ
thi hành răng rắc, không vị
tình, không thương hại, không sợ
kẻ quyền quý. Chỉ trong ít
tháng, xứ Hedjaz không còn đạo
tặc nữa. Đồn lũy của người Thổ
hồi xưa dựng lên hóa ra vô ích.
Một thương nhân để quên một gói
đồ trên đường thì một tháng sau
trở lại vẫn y nguyên chỗ cũ, vì
không một bộ hành nào dám mò
tới.
Ông Gérald de
Gaury viết trong cuốn Arabia
Phoenix: "Sự trị an ở xứ Ả
Rập Séoud thực lạ lùng, khắp Âu
châu có lẽ không nước nào được
như vậy."
Ông Jean Paul
Penez trong bài "Une enquête
chez les les fils d'Ibn Séoud"
cũng nhận, "Xứ đó là xứ yên ổn
nhất thế giới, một xứ mà đức
hạnh là sự bắt buộc... Trên khắp
cõi A Rập trong suốt năm, tội
sát nhân cướp bóc lại ít hơn
Paris một ngàỷ. Được như vậy là
nhớ dân chúng theo đúng kinh
Coran.
Từ trước, Séoud
với vài cận thần lo mọi việc
trong nước. Nay ông thấy cần
phải lập nội các như các nước
tân tiến, cũng có đủ các bộ Nội
vụ, Tài chánh, Ngoại giao, Canh
nông, Tư pháp, Quốc phòng...
Nhưng lựa đâu đưọoc người để
giao những trách nhiệm đó. Trong
xứ Nedjd thiếu hẳn nhà trí thức
có tân học thì làm sao canh tân
quốc gia được? Ông có óc rộng
rãi, không kỳ thị ngoại tộc,
tiếp đón tất cả các nhân tài dù
là Ba Tư, Ấn Độ, Syrie, Ai
Cập... miễn họ có huyết thống A
Rập và theo đạo Hồi hồi. Thành
thử nội các đầu tiên của ông
gồm một người ở Quasim, một
người ở Ai Cập, một người Syrie,
một người Palestine, một người
Liban. quyết định đó thực là
sáng suốt có lợi về cả phươn
diện nội trị lẫn ngoại giao vì
gây cảm tình với các dân tộc
Syrie,
Liban...
Khi trưởng nam
của ông mất, hoàng tử Saud được
làm đông cung thái tử. Độc giả
còn nhớ Saud sinh ở Koweit đúng
vào lúc ông chinh phục được kinh
đôRyhad. Từ hồi 18 tuổi, chàng
theo cha trong các cuộc hành
quân, tỏ ra rất can đảm, được
lòng sĩ tốt, vì sống chung với
sĩ tốt một cách rất bình dị. Năm
1934, trong một cuộc hành hương
ở Mecque, chàng lấy thân che
cho cha để cha khỏi bị bốn tên
thích khách ám hại.
Faycal, em của
Saud được làm phó vương ở
Hedjaz, rồi sau làm thủ tướng
nhờ óc sáng suốt, cấp tiến, hiểu
biết nhiều về Tây phương.
Còn nhà vua thì
lãnh nhiệm vụ khuếch trương và
tân thức hóa đội quân Ikwan. Ta
nên nhớ khi ông mới lên ngôi
thì A Rập còn là một xứ lạc hậu,
bán khai, năm 1928 mà cả xứ
Hedjaz chỉ có 12 chiếc xe hơi
đều là của hoàng gia, khí giới
chỉ có ít súng trường và gươm
giáo. Đất đai thì mênh mông mà
dân số thì thưa thớt. Xứ A Rập
Séoud có tới 1.750.000 cây số
vuông (toàn thể bán đảo A TRập
là 2 triệu cây số vuông) mà dân
số sau đại chiến thứ nhì , theo
Larousse Universel, được sáu
triệu người
[1], riêng miền
Nedjd chỉ có 3 triệu. Ba triệu
dân phải nuôi 50 000 sĩ tốt của
đội Ikwan, kể cũng đã là một
gánh nặng; vì nếu theo tỉ số đó
thì nước Ấn độ 300 triệu dân
phải nuôi năm triệu quân lính.
Khi đã bình định
xong, ông vẫn giữ quân số đó,
nhưng một nửa là hiện dịch, còn
một nửa là trừ bị, cho về làm
ruộng tại các đồn điền, khi nào
hữu sự sẽ gọi ra. Tuy nhiên ông
bắt họ phải thường luyện tập.
Ông mua súng liên thinh, xe
thiết giáp, đại bác rồi nhờ các
nhà quân sự Anh, Mỹ huấn luyện.
Các kỵ sĩ A Rập phản khán, vẫn
chỉ thích múa gươm, cưỡi ngựa,
không chịu dùng những máy móc
của "tụi quỷ" đó, nghĩa là
không chịu lái xe, bắn súng. Họ
bảo thắng trận không nhờ khí
giới mà nhờ Allah. Chính Mahomet
nếu không có thiên thần xuống
trợ chiến thì không thắng được
trận Beder. Nếu ta dùng những
khí giới của tụi quỷ đó thì
thiên thần sẽ sợ hãi, Allah sẽ
nổi giận, không được ơn trên
giúp nữa, ta tất phải thua. Muốn
mạnh thì phải tăng lòng tin lên,
tụng kinh ăn chay cho nhiều vào,
chứ đừng dùng những khí giới
mới
Chúng ta đừng
cười họ. Mới hồi đầu đại chiến
thứ nhất tại đất Nam này, một số
đông ùn ùn theo Phan Xích Long
và tin rằng hễ theo bùa của Phan
thì súng bắn cũng không bị
thương. Mà có lẽ trong đại chiến
vừa rồi cũng vẫn còn một số
người tin như vậy. Tôi sở dĩ
chép lại lời các kỵ sĩ A Rập chỉ
để độc giả thấy Ibn Séoud đã gặp
những nỗi khó khăn ra sao khi
muốn tân thức hóa xứ sở. Khó
khăn hơn Mustapha Kémal trong kế
hoạch tân thức hóa Thổ Khĩ Kỳ
nữa vì dân Thổ đông hơn, lại
tiếp xúc với phương Tây nhiều
hơn, thiếu nữ quý phái của họ
tuy bị cấm cung thật nhưng cũng
có nữ giáo sư Pháp lại dạy và
được đọc những sách Pháp từ
Rousseau với Hugo. Còn các nhà
tu hành A Rập, tức hạng người có
học, có uy tín đối vơi dân
chúng, thì tới khoảng 1930, vẫn
không tin rằng dùng một cái máy
nhỏ, có thể cách nhau hàng trăm
cây số nói chuyện với nhau được.
Thánh kinh Coran có dạy điều đó
đâu? Đúng là bị quỷ lừa gạt rồi.
nghe nó thì chết.
Ibn Séoud
phải triệu tập các vị tu hành
lại ở trong điện, bảo một vị đọc
những câu đầu trong kinh Coran
trước ống điện thoại rồi một vị
khác ngồi trong một phòng rất
xa cũng ở trong cung, cầm ống
nghe. Lúc đó họ mới nhận rằng
không phảo là lời của quỷ, vì
giọng nói rất quen thuộc, vả lại
quỷ nào lại tụng kinh của Chúa!
Một lần khác,
một vị đạo sư nào đó có đức
hạnh, ngấm ngầm chống ông, phá
ông, ông được tỉ mật vụ cho hay,
phái mời vị đó lại một phòng
giấy, cầm ống điện thoại lên
nghe. Nghe được mấy câu, vị đó
xanh mặt lên: hành động của mình
được kể tỉ mỉ, rành rọt ở trong
máy. Sau cùng có câu: "Ta tha
lỗi cho đấy, nhưng từ đây đừng
nói xấu nhà vua nữa nhé" .
Ông ta vội vàng quỳ xuống, hứa
sẽ trung thành.
Đó, Ibn
Séoud phải dùng những thuật như
vậy, lúc thì ngọt, lúc thì xẵng,
mới thuyết phục được quốc dân
theo con đường mới.
Muốn cho nước
phú cường thì phải nhờ canh nông
và kỹ nghệ. A Rập vốn là một xứ
mục súc, phải tiến tới giai đoạn
nông nghiệp trước rồi sau cùng
mới qua giai đoạn kỹ nghệ. Vì
vậy từ khi mới khôi phục được
gian san, Ibn Séous đã lập ngay
những khu đồn điền. Nhưng những
khu đó chỉ phát triển tới một
lúc nào thôi. Vì thiếu nước. Mà
nước kiếm ở đâu bây giờ?
Cả xứ không có một con sông lớn,
suốt năm chỉ mưa xuống có bảy
phân nước. Chỉ còn mỗi một cách
là đào giếng, đào giếng trong sa
mạc.
Từ xưa dân bản
xứ vẫn truyền khẩu những chuyện
có vẻ hoang đường. họ kể rằng có
một thời xa xăm nào đó xứ A Rập
không khô cháy như ngày nay,
trái lại, cây cỏ khắp nơi xanh
tốt, rừng rú âm u
[2]. Họ lại
tin rằng những giếng nước , cách
nhau hàng trăm cây số nhưng vẫn
thông ngầm với nhau ở dưới đất.
Họ cam đoan rằng có lần liệng
một cái chén bằng gỗ xuống một
cái giếng, ít lâu sau thấy chén
đó hiện lên ở mặt nước trong
một cái giếng cách nơi đó hai
trăm cây số. Họ còn bảo nhìn mức
nước trong giếng lên cao họ biết
chắc rằng ở một miền xa nào đó
đã mưa lớn. Ở bờ vịnh Ba Tư,
những người mò trai gặp những
luồng nước ngọt ở đáy biển, dưới
lớp nước mặn
Ibn Séoud không
cho những chuyện đó là hoang
đường. Ông ngờ rằng dưới lớp cát
có nhiều dòng nước, hễ đào lên
tất gặp. Ông mời các nhà
chuyên môn Mỹ tới tìm nước cho
ông, và họ tìm thấy rất nhiều
nước ở dưới cát, cả trong
những miền khô khan nhất. Họ
nhận xét rằng dân A Rập như có
một giác quan thứ sáu , đoán chỗ
nào có nước thì quả nhiên chỗ đó
có nước
[3]
Một lần họ đào
tại Ryhad một cái giếng sâu 170
thước, rộng 30 thước, gặp một
giòng nước lớn. Ibn Séoud hay
tin lại coi, đứng trên miệng
giếng ngó mặt nước lấp lánh ở
dưới sâu một hồi, khi ngưng mặt
lên, nước mắt chảy rong ròng.
Nhà vua thích quá, vỗ vai viên
kỹ sư, bảo:
- Ông
Edwards, ông đã làm được một
phép màu. Ở đây với tôi mười lăm
năm nữa và chúng ta sẽ biến đổi
địa ngục này thành thiên đàng.
Từ đó, khắp nơi,
toàn dân hăng hái tiếp tay sửa
lại những giếng cũ, khai thêm
những giếng mới, đào kinh, đắp
đập, kết quả là kiếm thêm nước
để nuôi được 400.000 người và
2.000.000 súc vật nữa. Hàng
trăm ngàn dân du mục dắt lạc
đà, dê, cừu đi lại các giếng
nước, vừa đi vừa tụng kinh y
như để dự những cuộc lễ, nhộn
nhịp không kém cuộc di cư của
dân Mỹ trong thế kỷ trước để tìm
vàng ở miền Tây.
Có nước rồi thì
thêm ruộng, thêm vườn, thêm gia
súc. Các kỹ sư canh nông Mỹ lại
được mời qua để nghiên cứu đất
đai và phương pháp trồng trọt.
Những đất đã bỏ hoang từ mấy
ngàn năm, nhờ có nước mà phì
nhiêu lạ lùng, hơn cả miền Texas
ở Mỹ. Lúa mì, lúa mạch, cà chua,
cà rốt, dưa, tỏi, cà... chỉ cần
gieo xuống là mọc lên xum xuê.
Mỗi mẫu ở Texas chỉ sản xuất
được bốn tạ rưỡi lúa mì, thì ở
đây sản xuất được tới mười bảy
tạ. Ibm Séoud vội vàng lập ra
một bộ canh nông, mà từ xưa tới
nay xứ A Rập chưa hề có.
Sản xuất
được nhiều
rồi thì nghĩ
đến vấn đề
đàu tải,
giao thông.
Không thể
dùng hoài
phương pháp
cổ lỗ là chở
trên lưng
lạc đà, mà
phải lập
những đường
xe lửa.
Nhưng tiền
đâu? Lợi tức
của dân quá
thấp, dân số
lại ít, sa
mạc thì mênh
mông, không
thể tăng
thuế quá sức
chịu đựng
của dân
được. Vấn đề
quả thực là
nan giải.
May thay,
một phép mầu
nữa lại xuất
hiện, nhờ
Allah phù
hộ. Năm
1920, một
người Anh
tên là Frank
Holmes đào
giếng ở cù
lao Barhein,
trên vịnh
Ba-Tư, ngoài
khơi Hasa,
chủ ý là để
kiếm nước mà
không ngờ
lại kiếm
được dầu
lửa, mà
người Âu gọi
là "hắc kim"
(vàng đen),
đó là cái
"gân của
chiến
tranh".
Từ thời
thượng cổ,
người
Chaldée đã
biết dùng
chất đó để
làm hồ cất
nhà, người
Ai Cập dùng
để ướp xác.
Họ không
biết lọc, để
nguyên chất
ở dưới mỏ mà
dùng. Rồi
tới giữa thế
kỷ XIX, một
Đại tá Mỹ
tên là Drake
tìm được
nhiều mỏ ở
Pennsylvannie,
dầu lửa mới
dùng để đốt
đèn. Đầu thế
kỷ XX người
Anh khai
được nhiều
mỏ ở Ba Tư.
Frank Holmes
mua được mỏ
Bahrein của
một hào mục
bản xứ, về
Luân Đôn gạ
bán lại cho
các công ty
dầu lửa Anh.
Nhưng những
công ty này
đương khai
thác những
mỏ ở Ba Tư
không xuể,
vả lại không
tin rằng ở A
Rập có
những mỏ
lớn, cho nên
không thèm
mua, Holmes
phải bán lại
cho một công
ty nhỏ của
Mỹ, công ty
Gulf Oil.
Rồi bỗng tới
năm 1930,
người ta
thấy một
nhóm du mục
Bắc phi
(Bédouin) đổ
bộ lên Hasa,
có kẻ rất
khả nghi. A
Rập gì mà
không tụng
kinh, không
biết tiếng A
Rập, mà đi
đâu cũng
lén lút, lẩn
mặt, không
muốn tiếp
xúc với ai
cả! Ibn cho
điều tra
kín. Ty mật
vụ phúc
trình rằng
họ là những
người ngoại
quốc giả
trang. Ibn
Séoud ra
lệnh bắt,
tra hỏi. Họ
thú là người
Mỹ lại tìm
mỏ dầu lửa.
Ông thả họ
ra và để họ
tự ý hoạt
động. Họ đào
nhiều nơi,
thấy rằng có
một lớp dầu
lửa liên tục
từ dãy núi
Caucase ở
Nga với A
Rập, ngang
qua
Mésipotamie
và Ba Tư.
Dầu lửa tìm
được
rất
tốt mà có lẽ
cũng rất
nhiều.
Tin đó bay
ra, các
cường quốc
nhao nhao
lên. Mỹ,
Anh, Hòa
Lan, Đức,
Nga, cả Nhật
nữa phái đại
diện tới xin
yết kiến Ibn
Séoud.
Phòng khách
bộ Tài chánh
lúc nào cũng
chật những
nhà kinh
tài. Nhà nào
cũng năn nỉ
được tiếp
kiến trước,
nhà nào cũng
nguyện làm
lợi cho A
Rập chớ
không nghĩ
đến tư lợi.
Sao mà họ
tốt thế?
Nhưng nhà
vua không
gấp. Có
người tâu
rằng bắt họ
đợi cả tuần
lễ, e phật
lòng họ, ông
đáp:
- Để mặc
trẫm, trẫm
là nhà tu
hành biết
cách cư xử
với hạng tín
đồ hành
hương đó.
Ông suy nghĩ
kỹ, sau cùng
nhận đơn của
công ty Gulf
Oil, tức
công ty đã
mua lại
quyền khai
thác những
mỏ ở
Brahrein của
Holmes. Có
người hỏi
sao ông lại
chọn lựa
một công ty
nhỏ nhất,
ông đáp:
- Công ty đó
là công ty
Mỹ. Công ty
Mỹ không bị
chính phủ Mỹ
chi phối
mạnh mẽ, vả
lại Mỹ ở xa
ta, ít dòm
ngó ta, sau
cùng người
Mỹ đã giúp
ta được
nhiều việc
như đào
giếng, cải
thiện nông
nghiệp.
Bạn bảo là
khôn ư?
Không, dại
đấy. Ông
chưa biết
những mánh
khoé của bọn
kinh doanh
Anh nên đã
đi sái một
nước cờ.
Anh bị hất
cẳng, đổ
quạu, tìm
cách phá.
Hồi đó các
công ty Anh
làm chua tể
trên khu cực
từ Ba Tư tới
Ai Cập. Hầu
hết các mỏ
dầu lửa lớn
là về họ.
Họ muốn làm
mưa làm gió
gì thì làm.
Lịch sử cạnh
tranh về dầu
lửa ở Tậy Á
[4] trong
nửa thế kỷ
nay giá chéo
kỹ lại thì
hàng ngàn
trang vẫn
chưa đủ.
Những bậc
thông minh
nhất trong
giới kinh
tài, chính
khách, luật
gia của mọi
cường quốc
đấu trí với
nhau kịch
liệt, tìm
mọi cách để
hất cẳng
nhau, ngầm
phá nhau,
nay kết
liên, mai
phản bội,
thôi thì đủ
mánh khoé
trâng tráo
nhất, tài
tình nhất,
chúng ta
không thể
nào tưởng
tượng nổi.
Tôi chỉ xin
tóm tắt
trong ít
hàng vụ Gulf
Oil thôi.
Tôi đã nói
Ibn Séoud đi
lỡ một nước
cờ, ông
không ngờ bị
người Anh
phá, viện
những hiệp
ước này nọ
ký với Pháp,
Thổ, Ba Tư,
Đức, Hòa
Lan... để
yêu cầu công
ty Gulf Oil
đừng đào
thêm giếng
nào nữa nếu
không có sự
thỏa thuận
của công ty
quốc tế dầu
lửa, và nếu
không nghe
lời thì
chết chịu vì
tất cả các
công ty liên
kết kia sẽ
phá giá,
ngăn cản
trong việc
chở chuyên.
Ibn Séoud
cò ngờ đâu
Anh muốn giữ
độc quyền
dầu lửa ở
miền Tây Á
và thành trì
của họ kiên
cố đến thế.
Chú chích
choè Gulf
Oil đành
chịu thua,
bán lại
quyền khai
thác cho
công ty Mỹ
Bahrein Oil,
mà công ty
này chỉ là
một chi
nhánh của
công ty
khổng lồ
Standard Oil
ở
Californie.
Bán với giá
rẻ mạt năm
vạn Mỹ kim.
Trong lịch
sử hiện đại
chưa có vụ
nào mà hời
cho người
mua như
vậy. Công ty
Standard Oil
lại hợp tác
với công ty
Texas Oil
cũng của Mỹ,
thành công
ty
California
Arabian
Standard
Oil, viết
tắt là
C.A.S.O.C.
như vậy đủ
sức cạnh
tranh với
những công
ty của Anh
trên thị
trường Á
châu. Ở đời
này phải có
nanh vuốt
mới sống
được.
Từ đó dầu
lửa A Rập
mới sản xuất
mạnh mẽ, năm
1935 là
174.000 tấn,
năm năm sau
tăng lên tới
3.000.000
tấn. Các nhà
máy lọc dầu
mọc lên như
nấm ở bờ
vịnh Ba Tư,
tàu bè ra vô
tấp nập, mà
vàng cứ tiếp
tục tuôn vào
kho của Ibn
Séoud. Ông
khôn khép
không bán
đứt, ông bảo
đất cát
trong xứ là
của toàn dân
chứ không
phải của
ông, ông chỉ
bằng lòng
cho thuê
trong một
thời hạn nào
đó thôi, hết
hạn nghĩa là
tới năm 2000
thì tất cả
máy móc, nhà
cửa sẽ về
ông hết.
Và ông lo
xa, dạy dỗ
dân chúng để
đến năm 2000
người A Rập
có thể tự
khai lấy phú
nguyên của
họ, khỏi
phải nhờ
người ngoại
quốc, nên
một mặt ông
phát triển
những đường
giao thông,
nhất là
đường hỏa
xa, một mặt
mở trường
dạy chữ, dạy
nghề. Trong
một diễn
văn, ông
bảo:
"Độc lập về
chính trị mà
làm gì nếu
không có sự
độc lập về
kinh tế?
Chúng tôi
tân thức
hóa xứ này
không phải
để cho nó
mất tự do,
mà chính là
để cho nó có
thể hưởng
được sự tự
do. Xin các
bạn phương
Tây đừng
hiểu lầm
tôi... Xưa
kia dân tộc
A Rập ngài
ngại người
ngoại quốc
thật đấy, vì
nỗi khốn khổ
của họ luôb
luôn do
người ngoại
quốc gây ra
cả. Nhưng
tinh thần đó
đã thay đổi
rồi, vì tôi
thấy giới
thượng lưu
A Rập rất
thân thiện
với các nhà
kỹ thuật
ngoại quốc.
"Nhưng xin
các bạn
ngoại quốc
đừng nuôi ảo
vọng: tình
thân thiện
đó , muốn
giữ nó thì
các bạn phải
biết giữ tục
lệ và tín
ngưỡng của
chúng tôi.
Tôi muốn
rằng các
bạn tới đây
với tư cách
giáo sư, chứ
không phải
tư cách ông
chủ, tới đây
làm khách
chứ không
phải xâm
lăng. Xứ A
Rập nhờ Trời
lớn lắm, có
thể thỏa mãn
tất cả các
tham vọng,
trừ tham
vọng này:
chiếm đất
của nó."
Thực ra là
không còn úp
mở gì cả.
Ibn Séoud
nhắm ai đó.
Các kỹ thuật
gia đó là
dân nước nào
vậy? Chắc
độc giả còn
nhớ. Nhưng
chính những
kỹ thuật gia
đó nghe diễn
văn lại
không thấy
khó chịu,
còn mến
phục nữa.
Vì chính họ
cũng là
những dân
thuộc địa đã
tự giải
phóng, chính
họ đã phải
chiến đấu
như người A
Rập để giành
lại quyền tự
do
|
|
Mới băt đầu
thịnh vượng được trong mấy năm
thì đại chiến lại nổ. Lần này
Ibn Séoud không chưng hửng nữa.
Ông đã đoán trước nó phải tới.
Vả lại ông đã là một duốc vương
đáng kể rồi, chứ không còn là
hạng tầm thường hồi 1914 nữa
Chiến tranh vừa
phát ông đem ngay đội quân thiện
chiến Ikwan lên đóng ở phương
Bắc và phương Tây. Biết đâu
chừng đại chiến thứ nhất làm cho
đế quốc Thổ sập thì đại chiến
này chẳng làm cho đế quốc Anh
sập theo. Và nếu đế quốc Anh sập
thì ông sẵn sàng để thay thế họ,
chiếm lấy Irak và cả một miền
theo bờ Địa Trung Hải, từ
Ai Cập tới Thổ.
 
Chỉ trong mấy
tháng, Pháp phải nằm bẹp dưới
gót giày của Đức, rồi Anh lâm
nguy. Chính
thủ tướng Churchill
phải nhận rằng những năm 1940,
1941, "người Anh chỉ ráng giữ
cho khỏi chìm lỉm cũng đủ mệt đừ
rồi". Nhưng nguy thì nguy, họ
vẫn cố nắm lấy miền Tây Á, để
khỏi phải mất cái "gân của chiến
tranh" tại Ba Tư, khỏi mất liên
lạc với Ấn Độ, hòn ngọc của đế
quốc Anh. Cho nên họ đem quân Ấn
lại đổ bộ ở Bassorah, bất chấp
cả hiệp ước Anh-Irak.
Irak chống lại,
họ nhanh tay dẹp được. Dẹp xong,
Churchill tuyên bố giữa quốc
hội: "Hú hồn, nhưng nay mọi sự
đã yên rồi".
Kế đó, Anh đuổi
được người Pháp ra khỏi Syrie
mặc dầu bị tổn thất rất nặng.
Sau cùng họ mới
quay lại yêu cầu Ibn rút hết
quân đội đóng ở biên giới Koweit
đi, đừng dòm ngó mồi đó nữa. Ibn
biết chưa phải lúc, đành nghe
lời, đợi cơ hội khác.
Anh đã khôn,
chiếm Bassorah trước vì căn cứ
đó quan trọng vào bực nhất trong
đại chiến vừa rồi. Tướng Rommel
của Đức cũng đã nhắm điểm đó,
hẹn với Nhật sẽ gặp nhau tại đó,
nhưng Anh cố giữ và Đức không
dám tấn công.
Nhờ làm chủ tịch
vịnh Ba Tư, Anh mới tiếp tế được
khí giới , nguyên liệu cho
Nga từ năm 1941 trở đi. Anh, Nga
phân công với nhau: Anh chở tới
Bassorah rồi Nga chở tới dãy núi
Caucase
Anh gởi cho Nga
cao su Singapore, thiếc
Malaisie, chì Miến Điện và Úc,
nhưng bao nhiêu cũng không đủ.
Staline cứ đòi tăng hoài, tăng
gấp đôi, gấp ba vẫn chưa bằng
lòng. Churchill đành cầu cứu
Roosevelt. Roosevelt vui vẻ nhận
liền, cuối năm 1941 tuyên
bố rằng Mỹ sẽ lo hết vấn đề tiếp
tế Nga để cho Anh được rảnh tay.
Bạn Đồng Minh với nhau mà! Và
một khi Mỹ đã tận lực giúp thì
phải biết là đắc lực! Năm 1943
chở 138.000 xe cam nhông,
912.000 tấn thép, 100.000 tấn
thuôc súng, hằng trăm cây số
đường rầy, 1,5 triệu tấn thức
ăn, 9.000 tấn hạt giống và vô số
máy móc đủ loại.
Cảng Bassorah
hẹp quá, vì nằm trên sông, không
tiếp nhận hết những vật đó,
người Anh muốn mượn hải cảng
và đường lộ của Ả Rập Séoud,
trên vịnh Ba Tư.
Ibn Séoud lúc
đó đương túng tiền, đã mượn
trước 6.800.000 Mỹ kim của công
ty C.A.S.O.C. để mua khí khới
cho quân đội Ikwan mà vẫn còn
thiếu, cần dùng 10 triệu Mỹ kim
nữa. Cho nên ông đáp:
- "Bà con
muốn mượn đường thì mược nhưng
xin trả tiền cho chúng tôi! Muốn
mượn hải cảng cũng được, nhưng
xin trả tiền cho chúng tôi! Mà
trả bằng vàng hoặc bằng Mỹ kim
kia, chứ chúng tôi không chịu
Anh kim"
Anh đổ quạu.
Quân vô ơn này trước kia ngửa
tay xin mình 5 ngàn Anh kim một
tháng mà bây giờ lên chân
dữ, đòi tống tiền mình mà lại
chê không thèm Anh kim! Anh muốn
trừng phạt cho biết tay, nhưng
Mỹ vội can:
-"Tụi Ả Rập
đó là tụi cuồng tín. Tấn công nó
thì nó chống cự lại tới cùng. Nó
có thể đốt hết các mỏ dầu lửa
được lắm. Mà thuật du kích của
nó cũng đáng sợ dấy. Tôi mới cho
bác mượn 425 triệu Mỹ kim,
thôi thí cho nó 10 triệu đỉ
Anh bắt buộc
phải nghe lời. Ibn mỉm cười nhận
tiền vì có nhân viên Mỹ cho hay
trước rằng tiền đó chẳng
phải là của Anh đâu.
Sở dĩ
Roosevelt chơi cay với Anh như
vậy vì mấy năm trước người con
trai của ông, đại úy James đã
lãnh sứ mạng qua dò xét tình
hình miền Tây Á, và về tường
trình rằng dân chúng miền đó
không ưa người Anh, mà tài
nguyên lại rất nhiều, Mỹ nên len
chân vào đi.
Anh trao tiền
cho Ibn Séoud và đòi hỏi những
quyền lợi này nọ về chánh trị.
Mỹ đâu chịu để cho Anh dùng tiền
của Mỹ để làm lợi cho Anh, phản
động lại liền, ghi ngay Ả
Rập vào danh sách những xứ được
hưởng luật Cho mượn và cho
thuê; thế là tha hồ muốn
tiếp tế cho Ibn bao nhiêu cũng
được, chẳng cường quốc nào nói
ra nói vào nữa.
Chính ra đạo
luật đó chỉ để giúp những nước
dân chủ bị bọn phát xít hăm dọa.
Ả Rập Séoud không bị phát xít
hăm dọa mà lại càng không
phải là một nước dân chủ. Nhưng
Thượng nghị viện không chất vấn
và thông qua với đại đa số thăm
thuận.
Tới tháng Hai
năm 1945 Roosevelt nhân ghé Ai
Cập, mời Ibn Séoud lại đó để
cùng nhau hàn huyên. Ông đã
không mời Churchill dự mà đến
phút chót mới nói qua cho
Churchill hay. Churchill tím
mặt. Roosevelt tiếp đón Ibn cực
kỳ long trọng, y như một
gengleman tiếp một công chúa Ả
Rập vậy. Người Mỹ phái một khu
trục hạm đặc biệt tới Djeddah để
đón, rồi biết tánh nhà vua quen
ngủ lều, nên may một cái lều
trắng căng trên boong tàu.
Khi hai bên
gặp nhau, Roosevelt nhã nhặn
chào trước:
- Được gặp
nhà vua, tôi mừng quá. Tôi có
thể giúp Ngài được gì?
Ibn Séoud
đáp:
- Được tổng
thống tiếp đón ân cần như vậy,
thực quá vinh dự cho tôi, nhưng
tôi không có ý xin Ngài điều gì
hết. Thưa Tổng thống, tôi cứ
tưởng ngài muốn gặp tôi tức Ngài
có điều gì muốn hỏi tôi chứ?
Roosevelt vẫn
giữ nụ cười tình của ông, nhưng
trong lòng đã ngài ngại. Bà công
chúa phương Đông này cao tới hai
thước năm phân, khó xử
thật.
Hàn huyên một
lát, Roosevelt vào đề, xin Ibn
cho một số dân Do Thái trốn
Hitler được lập nghiệp ở
Palestine. Ibn cương quyết đáp
"không", lấy tư cách là giáo chủ
của đạo Hồi-hồi ông phải bênh
vực đồng bào của ông ở Palestine
nếu không thì các dân tộc Ả Rập
sẽ coi ông còn ra gì nữa? Lý do
đó hợp với "hoàng kim quy tắc"
của người Mỹ quá,
[5]
Roosevelt không biết đáp ra sao.
Rồi tới vấn
đề chính trị, Ibn hứa cho Mỹ
thuê vài căn cứ của ông trong
thời hạn năm năm, hứa không tấn
công đồng minh, không giúp sức
Đức, Ý -Độc giả để ý lúc đó vào
tháng 2 năm 1945, chiến tranh đã
sắp kết liễu- bù lại, Mỹ phải
tôn trọng sự độc lập của Ả Rập,
phải giúp khí giới cho ông, phải
giúp ông giải thoát những dân
tộc Ả Rập còn bị ách ngoại xâm.
Mỹ không thể không nhận lời được
vì chính Mỹ đã tuyên bố chính
sách thuộc địa phải chấm dứt kia
mà.
Sau cùng mới
tới vấn đề quan trọng nhất, vấn
đề dầu lửa. Hai bên bàn cãi khá
gay gắt, rút cục thỏa
thuận với nhau rằng:
- Ibn Séoud
chỉ cho thuê mỏ dầu thôi, không
bán. -cho thuê trong thời hạn
sáu chục năm, tới năm 2005, hết
hạn, tất cả các giếng, dầu, nhà
máy, dụng cụ đều thuộc về Ả Rập.
- Mỹ phải trả
cho Ả Rập từ 18 đến 23 xu, mỗi
thùng dầu chở ra khỏi xứ.
- Công ti
Aramco có thể khai
thác trên một khu vực rộng
1.500.000 cây số vuông
[6]
(từ năm 1944
công ti C.A.S.O.C đã đổi tên là
Arabian-American Oil Co
-Aramco)
Sau này
Roosevelt nói rằng trong đời ông
chưa gặp một người nào mà "đá"
như quốc vương Ả Rập. Ông rút
tỉa được rất ít của con người
nghị lực gang thép đó.
Rất ít? Có lẽ
Roosevelt quá tham. Nội hiệp ước
về dầu lửa đó đủ cho Mỹ thu lại
hết những phí tổn trong thế
chiến vừa rồi, có lẽ còn lợi
nhiều nữa là khác.
Chính phủ Anh
hay tin đó, nhăn mặt. Bị Mỹ hất
cẳng ở Ả Rập Séoud thì uy thế ở
phương Đông từ nay bị giảm nhiều
Ai biểu trước
kia khinh khỉnh Ibn Séoud?
============
[1]
Chúng ta cũng nên ngờ con số
này. Bộ La Rousse Universel nổi
tiếng mà chứa những lỗi rất lớn.
Như về Arabie bản in năm 1948
của bộ đã ghi: 2 triệu cây số
vuông, 5triệu dân, rồi ít hàng
sau về Arabie Séoudite ghi
1.750.000 cây số vuôn, 6 triệu
dân. Về Yemen ghi: 62.000 cây số
vuông, 3 triệu rưỡi dân.
Như vậy Arabie bao trùm Arabie
Séoudite, Yemen với nhiều xứ nữa
mà dân số lại kém Arabie
Séoudite tới 1 triệu
[2] Lời đó
đúng: hàng vạn năm trước khi
Âu Châu còn bị băng phủ thì A
Rập xanh tốt. Sau khi băng lùi
về Bắc cực thì A Rập mới thành
sa mạc.
[3] Các con lạc
đà và ngựa sống trong sa mạc
cũng đánh hơi nước rất tài.
Trong cuốn Sur les traces de
Bouddha, ông René Grousset có kể
rằng một lần con ngựa của Huyền
Trang không chịu tiến theo đường
đã định, mà đòi theo một đường
khác. Huyền Trang lấy làm lạ,
để cho nó đi theo ý nó: một lúc
sau, nó đưa ông tới một giếng
nước.
[4]
Chúng tôi dùng
danh từ này để gọi miền mà người
Pháp gọi là Cận Đông
[5]
Golden rule: Kỷ sở bất dục, vật
thi ư nhân
[6]
Trước kia công ty C.A.S.O.C. chỉ
được khai thác vùng Bahrein
Xem tiếp bài 5
|
|