Tuy Rashid bị
giết, nhưng xứ Hail chưa quy
thuận. Một bộ lạc ở giáp ranh
Koweit, bộ lạc Mutair không chịu
phục tòng. Ibn Séoud đem quân
tới, đốt cháy làng mạc, treo cổ
hào mục vừa xong thì ông phải
trở về phương Nam để diệt bộ lạc
Ajman. Cũng san bằng hết các
châu thành, bắt được mười chín
tên trong đảng Ám sát, đem chém
đầu mười tám tên ở giữa chợ,
còn một tên, tha chết để về kể
lại chuyện đó cho mọi người
nghe. Trước khi giải tán, vỗ về
quần chúng:
- Các người là
thần dân yêu mến của ta. Phải
trừng trị các người, ta đau lòng
lắm. Vậy đừng bắt ta
phải ra tay lần
nữa. Các người về lựa lấy một
viên thống đốc nào trung thành
có thể tin được, ta sẽ để cho
các người tự cai trị lấy nhau,
miễn là đừng phản ta.
Ông dư biết tính
của người A Rập, họ trọng nhất
sức mạnh và sự công bằng. Ông đã
tỏ cho họ thấy rằng ông có đủ
hai điều đó. Từ nay họ sẽ theo
ông. Thế là tình hình nội bộ
được yên.
Nhưng tình hình
ở ngoài có vẻ đáng lo. Năm 1908,
đảng Thanh niên Thổ làm cách
mạng, thành công, vua Héhemet V
lên thay Abdul Hamid, và nội các
mới của Thổ muốn gây lại lực
lượng, củng cố các thuộc địa
trong số đó có A Rập
Lại thêm các lực
lượng của Anh mỗi ngày một tăng.
anh trước kia giúp Mubarrak
chống lại với Rashid là có ý dòm
ngó Koweit. quả nhiên năm 1903,
Koweit phải nhận sự bảo hộ của
Anh. Rồi Anh với Nga thỏa thuận
nhau để chia xẻ Ba Tư: phía Bắc
Ba Tư về Nga, phía Nam về Anh.
Anh lại chiếm kinh Suez và "đấm
mõm" cho Pháp xứa Maroc.
Ibn Séoud đâm
lo: bầy chó sói đó bao vây khắp
phíarồi, không còn đường ra biển
nữa, chịu chết cháy trên bãi cát
và đá này ư? Chưa hết cái nạn
Thổ, đã đến cái nạn Anh, mà tụi
Anh mạnh mẽ xảo quyệt gấp mười
tụi Thổ.
Càng nguy thì
càng phải tính gấp. Phải mở một
đường ra biển.
Con đường gần nhất là
chiếm cứ
xứ Hasa ở phía Đông
Nedjd. Xứ đó là thuộc địa của
Thổ, mà Koweit ở phía Bắc Hasa
là xứ bảo hộ của Anh. Chiếm Hasa
thì sợ Anh can thiệp, như vậy
phải đương đầu với Anh lẫn Thổ.
Đành phải chờ Mubarrak
dò ý người Anh trước đã.
Mubarrak
bảo chính phủ Anh rằng
cần phải
đuổi người Thổ ra khỏi vịnh Ba
Tư, mà
chính người Anh chiếm Hasa thì
các nước khác sẽ la ó, còn để
Ibn Séoud chiếm thì chỉ là nội
bộ giữa các dân tộc A Rập với
nhau, sẽ không lớn chuyện. Anh
nghe bùi tai, bằng lòng làm ngơ.
Ibn Séoud bèn
cho người vào nội địa Hasa dọ
thám, rồi xuất kỳ bất ý, đương
đêm cho quân lính leo thành, tới
sáng thì chiếm được kinh đô Hasa
mà dân chúng ngủ say không hay
gì cả.
Các nhà cách
mạng Syrie thấy chiến công của
ông oanh liệt, muốn nhờ ông tiếp
tay để đuổi Thổ ra khỏi Syrie,
ông từ chối, tự xét thấy chưa
đủ, cần phải tổ chức lại nội bộ
cho mạnh đã.
Thần dân của
ông gồm có hai hạng người: hạng
làm ruộng, buôn bán định cư ở
làng mạc, châu thành - hạng này
là thiểu số- và hạng du mục,
lang thang khắp nơi, nay đây mai
đó. Hạng trên trung thành với
ông, còn hạng dưới thì không thể
tin được. Họ rời rạc như những
hạt cát, hễ nắm chắt lại thì
còn ở trong tay mà mở tay ra thì
trôi theo những kẽ tay mất. Tinh
thần cá nhân của họ rất mạnh, họ
rất phóng túng, không chịu một
sự bó buộc nào, tính tình thay
đổi, nay thân người này, mai đã
phản lại, sản xuất thì ít mà phá
hoại, cướp bóc thì nhiều, không
thể dùng làm lính được vì không
chịu kỷ luật, chỉ hùa theo kẻ
thắng để lột kẻ bại.
Muốn cho quốc
gia A rập mạnh lên, phải nhào họ
thành một khối bằng tinh thần
tôn giáo như Mahomet hồi xưa đã
làm, rồi phải định cư họ, biến
họ thành nông dân để kiểm soát
họ, bắt họ sản xuất, khỏi cướp
bóc nữa. Chương trình này thực
sự mới mẻ và táo bạo, từ xưa các
vua A Rập chưa ai nghĩ tới.
Ibn Séoud
biết rằng sức phản động của các
giáo phái sẽ mãnh liệt vì chẳng
những ông đi ngược tục lệ cổ
truyền mà còn làm trái cả lời
trong Thánh kinh Coran. Trong
kinh có câu: "Cái cày vào gia
đình nào thì sự nhục nhã vào
theo gia đình ấỷ. Ông phải triệu
tập các nhà tu hành lại, giảng
cho họ hiểu kế hoạch phú quốc
cường binh của ông, trả lời tất
cả những lời chất vấn, đả đảo
tất cả những lý lẽ cổ hủ của
họ; vừa mềm mỏng, vừa cương
quyết, như vậy suốt một tuần lễ
họ mới chịu nghe và bằng lòng
tạo một đội quân phụng sự Chúa,
đội Ikwan. Họ đi khắp xứ tuyên
truyền cho chính sách mới, chính
sách lập đồn điền, và họ khéo
tìm đâu cho được một câu của
Mahomet đại ý nói rằng "tín đồ
nào cày ruộng là làm một việc
thiện" để bênh vực chủ trương
của nhà vua.
Mặc dầu vậy,
dân chúng vẫn thờ ơ. Họ vẫn
thích cái đời phiêu bạt hơn, vẫn
sống theo câu tục ngữ: "Tất cả
hạnh phúc trong đời người là ở
trên lưng ngựa" , vẫn chỉ muống
nghe tiếng gọi của gió trên sa
mạc, tiếng hí của ngựa trên đồi
vắng, dưới nền trời lóng lánh
những vì sao. Rút cục
khắp nước chỉ có ba chục người
nghe ông mà định cư.
Ibn Séoud
không cần gì hơn. Trước kia ông
chỉ có bốn chục thủ hạ, còn
chiếm nổi sơn hà trong tay địch,
nay có ba chục người sao không
tạo nổi một đồn điền? Ông biết
cái luật bất di bất dịch này là
muốn tạo cái gì vĩ đại thì bắt
đầu phải tạo một cái nho nhỏ đã.
Ông dẫn ba
chục người đó lại ốc đảo
Artawiya ở giữa đường từ Nedjd
tới Hasa, một nơi hoang vu vào
bậc nhất chỉ có bốn năm cái
giếng nước cạn, dăm chục cây chà
là và vài mẫu đất cằn. Tuyệt
nhiên không có lấy một cái chòi.
Ông cho họ rất ít tiền, sai họ
chỉ cách cày bừa, tát nước, xây
cất nhà ở và một giáo đường nho
nhỏ. Rồi ông bảo họ:
"Các người có
nhiệm vụ thiêng liêng là mở
đường cho một cuộc cải cách lớn
lao. Tương lai xứ sở ở trong
tay các người... Phải tin tưởng.
Kẻ nào ngày nay chế giễu các
người sau này sẽ ân hận. Ta muốn
cứu vớt họ ra khỏi cảnh đói khổ,
ngu dốt mà họ không biết. Phảo
đoàn kết với nhau. Chúa sẽ che
chở các người và ta cũng che chở
các người."
Ông thường
lại thăm họ, có khi trò chuyện
với họ suốt đêm, ngủ chung với
họ. Lần lần lúa mọc lên, tươi
tốt. Xóm nhà đã thành một làng
có trường học, rồi thành một
châu thành. Dân làng trong có
mấy năm đã ra khỏi thời Trung cổ
mà bước vào thời hiện đại. Các
nơi khác cũng bắt chước, và
trong vòng năm năm, đội Kwan
mới đầu chỉ có ba chục người,
tăng lên tới năm vạn người. Mà
năm vạn người đó là năm vạn
chiến sĩ có kỷ luật, đoàn kết
với nhau thành một khối.
Ông có một
quân đội đáng kể rồi, muốn
khuếch trương thế lực, phải
chinh phục xứ Hedjas chiếm những
thánh địa Médine và Mexque có
vậy mới thống nhất xứ A Rập
được. Nhưng người Anh có để yên
cho ông hoạt động không?
***
Vừa may thời
cơ tới. Đại chiến thứ Nhất bùng
nổ, vang dội qua phương Đông.
Các chính khách Anh, Đức, Pháp,
Ý, Thổ, Nga và cả Nhật nữa ùa
nhau tới Suez, Bassorah, Téhéran
để mua chuộc dân bản xứ. Thổ
đứng về phe Đức, chống lại Anh.
Anh, Thổ, Đức đều ve vãn Ibn
Séoud.
Mới đầu ông
do dự, xét tình hình xem phe nào
thắng sẽ nhập vào phe đó, cho
nên tiếp đãi sứ thần Anh rất
niềm nở, nhưng không hứa hẹn gì
cả. Thổ hay tin Anh thương
thuyết với ông, đem quân đánh,
ông chống cự kịch liệt, sau
cùng thắng, nhưng tổn thất khá
nặng. Anh thấy lực lượng của
ông mạnh, tặng ông một số tiền
(năm ngàn Anh kim mỗi tháng) và
khí giới, để cho ông đứng trung
lập.
Ông vẫn rình
cơ hội để chiếm Hedjaz, nhưng
Anh giúp Hedjaz để Hedjaz tuyệt
giao với Thổ mà đứng về phe
mình, thành thử ông không dám
tấn công Hedjaz, đành chờ cơ
hội khác, nhưng ông bảo thẳng
vào mặt sứ thần Anh rằng viện
trợ cho Hussein, quốc vương
Hedjaz, là một điều lầm lẫn vì
Hussein vô dụng, dân chúng
Hedjaz theo ông chứ không theo
Hussein.
Thực vậy,
Hussein rất thất nhân tâm, không
có tinh thần quốc gia, trước
làm tay sai của Thổ, giờ làm tay
sai của Anh, mục đích chỉ là để
củng cố địa vị, vơ vét của dân,
bắt những tín đồ hành hương tới
nơi thánh địa Mecque phải chịu
một thuế cư trú rất nặng, biến
đổi thánh địa thành một nơi buôn
bán trụy lạc

Đại tá
Lawrence trong cơ quan
Arabia Office của Anh ở
Caire nhận xét lầm Hussein,
tưởng ông ta có uy tín, mua chộc
ông ta để làm hậu thuẫn trong
khi Anh chiến đấu với Thổ ở
Syrie, lại hứa với ông ta khi
chiến tranh kết liễu sẽ cho làm
thủ lãnh các quốc gia A Rập
Nhưng một cơ
quan khác, Indian Office,
không tùy thuộc bộ ngoại giao
Anh mà tùy thuộc chính phủ Ấn,
lại ủng hộ Ibn Séoud, biết rằng
ông này có tài. Do đó mà chính
sách của Anh ở A Rập có nhiều
mâu thuẫn, làm cho cả Hussein
lẫn Ibn Séoud bất bình. Tệ hơn
nữa, Anh lại ngầm thương thuyết
với Thổ để ký một hiệp ước tay
đôi, kéo Thổ về mình hầu diệt
Đức cho lẹ. Hiệp ước đó bán đứt
A Rập. Ibn Séoud lợi dụng những
mâu thuẫn đó để sau này đập lại
Anh
Đại chiến thứ
nhất kết liễu. Đế quốc Thổ bị
phân ra thành vô số tiểu bang,
hoặc độc lập, hoặc tự trị, hoặc
bán tự trị. Các cường quốc Pháp,
Anh, Ý trong hội nghị Paris cắt
xén vá víu những xứ như
Kurdistan, Irak, Syrie, Liban,
Palestine, Transjordanie,
Hedjaz, Yemen, gây ra nhiều vấn
đề rất khó giải quyết cho ổn
thỏa. Anh lúc đó mạnh nhất,
chiếm trọn từ Ai Cập tới Ba Tư.
Miền đó hợp với Ấn Độ, thành một
đế quốc mênh mông mà họ gọi là
Đế quốc Trung Đông (Middle
Eastern Empire). Thế là cái mộng
của Disracli, Gladstone đã thực
hiện được Chính phủ
Anh xoa tay
khoan khoái.
Nhưng làm sao
giữ nổi những thuộc địa và bán
đảo thuộc địa đó? Lính Anh, sau
bốn năm trên mặt trận chỉ đòi
được giải ngũ để về với cha mẹ,
vợ con. Ở Luân Đôn, dân chúng
biểu tình rầm rộ, hô lên khẩu
hiệu : "Cho con trai chúng tôi
về nhà". Quốc hội lại đòi giảm
ngân sách đến mức tối thiểu để
nhẹ thuế cho dân vì dân đã hy
sinh quá lớn trong bốn năm rồi.
Chiến tranh đã hết thì người ta
phải nghỉ ngơi, vui thú với gia
đình, may sắm, tiêu khiển chứ!
Vì vậy chính
phủ Anh phải rút bớt quân ở các
thuộc địa, tìm những tay sai A
Rập để đưa họ lên hàng thủ lãnh
giữ trật tự trên bán đảo A Rập.
Lawrence trong cơ quan Arabia
Office đề nghị Hussein, Philby
trong Indian Office lại đề nghị
Ibn Séoud. Danh tiếng Lawrence
lúc đó đương lên, nên đề nghị
của Lawrence được chấp thuận.
Ibn Séoud chua xót nhận thấy
rằng mình vẫn chỉ được làm chủ
ba miền Nedjd, Hail, Hasa, mà
cái mộng thống nhất A Rập càng
khó thực hiện hơn trước: Thổ
đi thì
Anh tới mà tụi Anh thì tráo trở
và cáo già không tưởng tượng
được. Đành lại phải nhẫn nhục
đợi.
Vậy Hussein
được chính phủ Anh đề cử làm
thủ lãnh các quốc gia liên hiệp
A Rập. Nhưng quốc gia nào mà
chịu phục Hussein, con người già
nua quạu quọ, và tham lam đó.
"Chỉ biết có vàng thôi, kiếm
vàng cho thật nhiều, mỗi ngày
một nhiều". Thuế má tăng vùn
vụt. Người ta tìm mọi cách để
rút tỉa của dân đen. Dọc đường
hành hương lại thánh địa Mecque,
tín đồ thập phương muốn uống
nước trong các giếng của sa mạc,
cũng phải trả tiền cho Hussein.
Có những kẻ không có tiền phải
chịu chết khát. Dân chúng phẫn
uất vô cùng.
Hussein lại
nóng nảy, cầm gậy đuổi sĩ quan
Anh ra khỏi cung điện, mắng
thẳng vào mặt Lawrence -ông vua
không ngai ở A Rập- là quân gian
trá, lừa gạt mọi người, bán đứng
dân A Rập, vì chính phủ Anh
không cho ông ta quyền hành gì
cả, mà người Pháp vẫn đóng ở
Syrie, người Do Thái vẫn còn ở
Palestine. A Rập. "A Rập về
người A Rập" mà như vậy à? Thế
là Hussein sẽ bị cô lập: dân
chúng đã ghét, mà người Anh cũng
ghét. Hết hậu thuẫn và cũng hết
kẻ đỡ đầu.
Thời cơ thuận
lợi đã tới. Ibn Séoud động viên
quân Ikwan tinh nhuệ nhất, tấn
công chớp nhoáng, quét quân
Hedjaz ở Taif như quét là khô
rồi tiến tới Mecque. Dân chúng
nổi lên, bắt Hussein phjải
nhường ngôi cho con:
- Đuổi giặc
đi, nếu không được thì cút đi!
Có kẻ phá
hàng rào, ùa vào cung. Hussein
đành thu thập vàng bạc, châu báu
và các tấm thảm quý , chất lên
mười hai chiếc xe hơi -cả xứ
Hedjaz hời đó chỉ có mười hai
chiếc xe đó là của nhà vua- rồi
chạy lại Djeddah. Một chiếc du
thuyền của Anh đã chực sẵn ở đó
để đưa ông ta lại đảo Chypre.
Sao mà giống Méhémet VI của vua
Thổ đến thế? Ít năm sau, Hussein
vì thiếu nợ mà bị kết án
* *
*
Chính phủ Anh
không ngờ rằng tay sai của mình
lại yếu hèn đến thế, miệng thì
nói thánh nói tướng mà chống cự
với Ibn Séoud không được bốn
mươi tám giờ đã bỏ cả giang san
mà chạy trốn. Tự nghĩ nếu giúp
đỡ Ali, con trai của Hussein thì
thất sách vì gây thù với người A
Rập mà lại phải đem thêm quân
từ Anh qua, dân chúng Anh sẽ bất
bình, nên Anh làm bộ quân tử ,
tuyên bố như các chính phủ thực
dân muôn thuở rằng "việc đó là
việc nội bộ của người A Rập,
người Anh không muốn can thiệp
vào. Thế là Ali, người nối ngôi
Hussein, cũng phải trốn luôn.
Ibn lúc đó
không còn đóng quân ở Taif, vội
quay về Ryhad, phái sứ giả đi
khắp các nơi trong sa mạc để báo
tin thắng trận và yêu cầu các
tiểu quốc đúng hẹn, phái đại
diện tới Thánh địa Mecque để
cùng bàn với nhau về việc bàu
cử người thay quyền các tín đồ
và giữ thánh địa.
Rồi giàn nhạc
dẫn đầu, đội quân tập hậu, ông
cưỡi lạc đà, tiến vào Thánh địa.
Suốt hai bên đường, dân chúng
dắt díu đi đón ông.
Khi ông đã
vượt dãy núi ở chung quanh thành
Mecque, khi đã nhìn thấy Thánh
địa rực rỡ trong ánh chiều ở
dưới thung lũng, ông xuống lạc
đà, cởi bỏ ngự bào, trao gươm
cho một thị vệ rồi bận bô đồ vải
trắng, đi dép da, đầu trần, lên
ngựa đi, y như các tín đồ hành
hương khác. Tới dãy lũy bao
thánh địa, ông xuống ngựa, đi
chân đất; tới cửa Chánh điện,
ông để các thị vệ đứng ngoài,
một mình bước vào sân điện. Phút
đó cảm động nhất trong đời ông.
Giọng sang sảng, mặt cúi xuống,
ông tụng kinh:
-"Kính
thưa Chúa
Đây là
Thánh địa của Ngài,
Kẻ nào vô
được Chánh địa của Ngài sẽ được
giải thoát
Điện này
là nhà của Ngài, chỗ ở của Ngài,
Thánh địa của Ngài;
Là chỗ lưu
trú của sự giải thoát
Hỡi Chúa!
Xin Chúa
cứu con khỏi cảnh lửa địa ngục
Xin Chúa
thịt và máu con khỏi bị lửa đốt,
Và cứu con
khỏi cơn thịnh nộ của Chúa, vào
cái ngày phục sinh của những kẻ
phụng sự Chúa"
Ông hôn phiến
đá đen ở trong điện rồi quỳ
xuống cầu nguyện cho tới tối.
Hôm sau ông
tiếp đại diện của các dân tộc
theo đạo Hồi hồi ở trong điện
của Hussein. Chúng ta biết rằng
đạo đó có tín đồ ở khắp thế
giới, từ Ai Cập, A Rập, Ba Tư
tới Ấn độ, Mã Lai... Vấn đề đem
ra bàn là giao Thánh địa cho ai
cai quản. Người Ấn Độ đòi quyền
đó vì số người Ấn theo đạo đông
hơn số các dận tộc khác. Người
Ai Cập phản đối viện lẽ rằng từ
mấy thế
kỷ nay họ vẫn kiểm soát sự hành
hương. Không ai nhịu nhường
ai. Ibn cương quyết tuyên bố:
-
"Thưa chư vị đại biểu,
xin chư vị tin chắc điều này là
không khi nào tôi để cho
người ngoại quốc kiểm
soát đất đai của tôi. Nhờ Chúa
phù hộ, tôi sẽ giữ cho miền này
được độc lập . Mà tôi
nghĩ
rằng không có dân tộc Hồi-hồi
nào gởi đại diện lại đây hôm nay
có thể đảm bảo sự tự do cho xứ
Hedjaz vì lẽ rất giản dị rằng
trong số những dân tộc đó không
có một dân tộc nào tự do. Người
Ấn Độ, người Irak, người
Transjordanie, và người Ai Cập
đều ở dưới quyền người Anh. Còn
Syrie, Liban thì là thuộc địa
của Pháp; Tripolitaine là thuộc
địa của Ý. Giao sự cai quản
Thánh địa cho những dân tộc đó
có khá cgì đem dâng Thánh địa
cho thế lực Da Tô không?
Tôi đã
chiếm được Thánh địa do ý chí
của Allah, nhờ sức mạnh của
cánh tay tôi và sự trung thành
của dân tộc tôi. Ở đây, chỉ có
một mình tôi là tự do. Vậy chỉ
có mình tôi là đáng cai trị khu
đất thiêng liêng này...
Không
phải tôi không muốn thống trị xứ
Hedjaz đâu. Tuyệt nhiên tôi
không có ý đó! Chúa đã trao cho
tôi xứ đó thì tôi xin nhận cho
tới khi nào dân xứ Hedjaz có
thể tự bầu cử một vị thống đốc
-một vị thống đốc tự do, chỉ
biết phụng sự cho Islam thôi-
thì tôi sẽ trả lại."
Các đại biểu
câm miệng. Ibn Séoud đã theo gót
được Mahomed. Làm chủ được
thánh địa là làm chủ được xứ A
Rập. Ông phải chiến đấu ít nữa
để đuổi Ali ra khỏi Djeddah mà
chiếm nốt Hedjaz. Người Anh lúc
đó mới thấy ngôi sao của ông là
rực rỡ.
Lawrence
trước kia ủng hộ Hussein, gạt
Ibn Séoud, "tên đầu cơ lưu manh"
ra, nay thấy chính phủ bỏ rơi
Hussein làm cho mình mang tiếng
với người A Rập, với thế giới,
đâm ra phẫn uất viết một bức thư
cay đắng cho Anh hoàng George V,
không thèm tiếp thủ tướng Anh mà
Anh hoàng phái tới để an ủi; trả
hết những bằng cấp, huy chương
cho bộ Quốc phòng; rồi làm những
nghề khổ sở nhất, như nghề giữ
ngựa, thợ lặn, chăn heo tự đọa
đày tấm thân, có ý như để chửi
vào mặt chính phủ Anh: "Khi
người ta không giữ được lời hứa
với bạn đồng minh của mình , thì
làm tên chăn heo còn vinh dự hơn
là ngồi trên ngai vàng.
Mặc dầu vậy,
lương tâm của ông vẫn bứt rứt,
sau cùng ông đổi tên, đầu quân
làm binh nhì -chúng ta nhớ
trước kia ông làm đại tá và
được biệt hiệu là "vua không
ngai của xứ A Rập" - rồi chết
năm 1935 trong một tai nạn xe
máy dầu. Khi chết, nét mặt ông
vẫn giữ vẻ buồn vô tả. Một người
bạn thân, nhớ lại hai câu thơ
ông viết trong sa mạc A Rập, đặt
một bó hồng bên thi hài ông. Hai
câu thơ ấy như vầy:
"Thưa Chúa,
được tự do lựa tất cả tất cả
những bông hoa của Chúa đã tạo
ra, con đã mựa những bông hồng ủ
rũ của thế giới. Vì vậy chân con
bây giờ mới rớm máuvà mắt con
mới mờ vì mồ hôỉ
Vị "gentleman"
của Anh đó đã phải thua Ibn
Séoud (1)
Năm 1926, Ibn
Séoud giải thoát xứ Aziz ở phía
Nam Hedjaz khỏi nanh vuốt của
một ông vua tàn bạo. Ông muốn
tiến quân xuống thằng miền
Ỳmen, miền trù phú nhất trên bán
đảo, những người An,h làm chủ
Aden, một địa diển quan trọng
trên đường qua Ấn Độ, vội phái
sứ giả lại yết kiến ông để điều
đình.
Lần này người
Anh tỏ ra rất lễ độ, không xấc
láo như những lần trước. Ông
thấy vậy, giữ một th&i độ cương
quyết, rút cục hai bên thỏa
thuận với nhau rằng Ibn Séoud
hoàn toàn làm chủ cac xứ Nedjd,
Hail, Hasa, Ataiba, Hedjaz,
Asir, Ruba. Al Khali làm chủ
những thánh địa Mecque và
Médine, còn những xứ Oman,
Hadramount, Ỳmen thì được độc
lập, không thuộc ảnh hưởng của
một nước nào hết. Người Anh lại
hứa sẽ thuyết phục các cường
quốc Âu châu để họ nhận rằng Ibn
Séoud là quốc vương chính thức
của xứ A Rập.
Năm đó là
năm1928. Sau khi chiến đấu trong
một phần tư thế kỷ, Ibn Séoud đã
xây dựng được một quốc gia mênh
mông từ bờ Hồng Hải qua vịnh Ba
Tư. Trên bán đảo A Rập, chỉ còn
một dãy ở Tây Bắc, bên bờ Địa
Trung Hải và một dãy ở Đông Nam,
bên bờ Ấn Độ dương là ở ngoài
ảnh hưởng của ông. Quốc gia đó,
người ta gọi là xứ A Rập của
giòng Séoud (Arabie Séoudite).
Ngày 1 tháng 11 năm 1928, ông
triệu tập hết đại biểu các miền
lại Ryhad để nghe lời bá cáo của
ông.
Ông nhập đề
câu mà tôi đã dẫn ở đầu bài này
"Khi tôi tới
với các ông, thì tôi thấy các
ông chia rẽ nhau, chém giết lẫn
nhau, cướp bóc lẫn nhau không
ngừng..."
Rồi ông giảng
lý do ông đã mời họ lai. Ông
muốn mở lòng cho họ hiểu ông,
giải với họ những nỗi xích mích
ngầm giữa họ và ông. Ông bảo:
"Nếu có ai
muốn trách tôi điều gì thì cứ
nói thẳng ra cho tôi biết rằng
có muốn cho tôi biết rằng có
muốn cho tôi cầm quyền hay không
hay là muốn cho người khác thay
tôi. Kẻ nào dùng cách dọa dẫm
hay sức mạnh mà cướp quyền của
tôi thì không khi nào tôi
nhường. Nhưng tôi sẽ vui vẻ trao
quyền lại các ông nếu các ông
muốn, vì tôi tuyệt nhiên không
muốn cai trị một dân tộc không
thích cho tôi làm vua của họ...
Các ông quyết định đi "
Ngạc nhiên vì
những lới đó - từ xưa tới nay
có ông vua nào lại nói với thần
dân như vậy đâu.- quần chúng
đứng im phăng phắc rồi bỗng
nhiên muôn miệng như một, họ
hoan hô Ibn Séoud, yêu cầu Ibn
Séoud giữ quyền binh.
Ông đưa tay
ra hiệu cho họ im, nghe ông nói
tiếp:
"Vậy các
ông giao cho tôi trách nhiệm cai
trị các ông. Nếu tôi làm điều
phải thì các ông giúp tôi. Nếu
tôi làm điều trái thì các ông
uốn nắn cho tôi. Nói sự thực ra
cho nhà cầm quyền thấy là tỏ
lòng siêng năng và tận tâm. Giấu
sự thực là phản bội... Nếu tôi
làm trái luật Chúa và luật đấng
Tiên tri (1) thì tôi không có
quyền bắt thần dân vâng lờo tôi
nữa... Vậy có ai muôn trách tôi
điều gì , muốn phàn nàn điều gì
, hoặc bị thương tổn về quyền
lợi, thì cứ thẳng thắn cho tôi
hay... Tôi sẽ ra lệnh cho các
ông thẩm phán lấy công tâm mà
xét. Nếu tôi có lỗi thì các ông
thẩm phán cứ lấy phép công mà xử
tôi, như xử một người dân
thường... Lại cho tôi biết có
điều gì phàn nàn các ông thống
đốc không. Nếu các ông ấy làm
bậy thì tôi chịu trách nhiệm vì
chính tôi bổ nhiệm họ... Cứ nói
thực đi, đừng sợ ai hết."
Tôi có thể
chắc chắn rằng Ibn Séoud không
hề biết Tứ thi và Ngũ kinh của
đạo Khổng, nhưng đọc lời bá cáo
đó tôi nhớ lời bá cáo của vua
Thang chép trong Thượng thư.
"Kỳ nhỉ
vạn phương hữu tội tại dư bất
nhân, dư nhất nhân hữu tội, vô
dĩ nhĩ vạn phương"
(Vạn dân có
tội là tại một mình ta; cho nên
một mình ta chịu tội, không lụy
gì đến vạn dân cả.)
Ý nghĩa phảng
phất như nhau.
Ibn Séoud giữ
đúng lời hứa: mấy hôm sau ông
lập một tòa án đặc biệt để xét
những lời phàn nàn và thỉnh
nguyện của quốc dân. Ông hiểu
tâm lý họ: càng để cho họ bàn
cãi, phê bình về hành vi của
mình thì họ càng dễ bảo. Nhưng
ông cấm tuyệt họ giải quyết lấy
những tranh chấp giữa cá nhân và
giữa các bộ lạc. Quyền đó phải
về ông, nếu không thì loạn,
không còn kỷ cương gì nữa.
Trước khi
giải tán các đại biểu, ông thết
đại yến. Dân chúng hoan hô nhiệt
liệt khi thấy sứ thần Thổ, Ý,
Pháp, Anh, Đức, Hòa Lan, cả Mỹ
và Nhật nữa dâng quốc thư lên
ông. Họ thực là mau chân, nhưng
vẫn còn đi sau một nước, nước
Nga, vì ba tuần lễ trước, xứ A
Rập của giòng Séoud đã được Nga
xô thừa nhận.