VIII/ Kinh đô
dầu lửa và đồn tiền tuyến của
châu Âu
Roosevelt và
Ibn Séoud mới thỏa thuận với
nhau tháng hai, thì tháng ba
công việc khai thác bắt đầu
liền. Xứ Ả Rập Déoud không ngờ
mà nhiều dầu lửa đến thế. Người
ta phỏng đoán rằng nó có tới
42% dầu lửa của thế giớ, mới đây
đào sâu thêm, người ta lại thấy
một lớp dầu nữa, còn nhiều hơn
lớp đương khai thác, như vậy thì
Ả Rập Séoud có tới 80% dầu lửa
thế giới.
Thời hạn 60
năm ngắn quá. Làm sao mà khai
thác cho hết được? Các nhà
kinh tài ở Wall Street phải tính
gấp làm sao chứ? Các kỹ sư Mỹ
phải tổ chức làm sao cho có hiệu
quả hơn nữa chứ? Anh đâm hoảng:
cạnh tranh sao nổi với Mỹ?
Sa mạc Ả Rập
không còn là một nơi hoang vu
nữa. Con cháu của chú Sam dắt
díu nhau tới lập nghiệp. Chỉ
trong năm năm, một châu thành
hiện lên ở giữa bãi cát y như
trong truyện Ngàn lẻ một đêm,
tức châu thành Dahran, kinh đô
dầu lửa, với các khách sạn, các
tiệm cà phê, tiệm tạp hóa, sân
banh, hồ tắm, rạp hát bóng chiếu
những vũ khúc mê ly ở
Broadway và những phim cao bồi
giật gân ở Texas, nhất là lại đủ
cả những vườn hoa, sân cỏ mà
công tưới tốn kém ghê gớm. Người
ta bứng những cây trúc đào,
những nệm cỏ từ bên Mỹ qua, bia,
thịt bò hộp, sữa, xà lách, dĩa
hát, sinh tố, báo chí đều nhập
cảng từ Mỹ. Công ty Aramco cung
cấp cho ba ngàn nhân viên Mỹ đủ
những tiện nghi để giữ được lối
sống Mỹ trên sa mạc A Rập. Ngoài
ra có năm ngàn nhân viên bản xứ
cũng được hưởng những xa hoa của
văn minh ở giữa một cảnh màu sắc
rực rỡ: trời xanh, cát vàng, xe
cam nhông đỏ, và đêm xuống,
những cây đuốc ở các giếng
dầu phun lửa lên như những
khăn chàng mềm mại, hồng
hồng, cách trăm rưởi cây số cũng
trông thấy.
Năm 1950,
công ty sản xuất được khoảng 80
triệu lít dầu mỗi ngày, đóng góp
cho nhà vua khoảng 160 triệu Mỹ
kim mỗi năm. Chỉ có mấy năm, Ibn
Séoud thành một trong bốn người
giàu nhất thế giới.
Ông dùng số
tiền đó để:
- nhập cảng
những vật dụng cần thiết cho dân
chúng như gạo, đường, cà phê,
vải
- mắc điện
tại những tỉnh lớn
- mở mang
việc học
- xây cất
thêm đường xe hơi, xe lửa và phi
trường.
Hiện nay đã
có hai chục ngàn cây số đường
trải đá nối liền các châu thành
và các ốc đảo lớn với nhau. Ông
chú ý nhất đến việc lập đường xe
lửa nối Dahran với Ryhad, tức
nối kinh đô dầu lửa với thủ phủ
của A Rập Séoud. Đường dài sáu
trăm cây số mà băng qua một miền
toàn cát.
Đặt đường rầy
trên cát là một việc rất khó
khăn vì cát dễ lún và một cơn
gió lớn là nó bay đi, muốn giữ
nó lại phải dđ&c nó thành một
khối. Một khối rộng sáu thước
dài sáu trăm cây số, độc giả thử
tưởng tượng công phu và
phí tổn ra sao. Các nhà
chuyên môn Mỹ nghiên cứu
kỹ trong mấy tháng rồi trả lời
Ibn Séoud là không sao làm nổi.
Ông gạt hết những phúc
trình cùng bản đồ của họ,
bảo: "Tôi mời các ông lại
đây để làm đường xe lửa.
Nếu các ông bất lực thì tôi sẽ
gọi một công ty ngoại quốc
khác".
Thế là tháng
sau, họ bắt tay vào việc. Luôn
bốn năm, hai nghìn thợ làm suốt
ngày đêm, đổ hàng ngàn tấn bê
tông, hàng ngàn tấn dầu lửa
nguyên chất để đúc cát lại
thành khối. Cuối năm 1951, công
việc hoàn thành.
- Rồi tiếp tục làm con đường xe
lửa xuyên A Rập, dài 1.100 cây
số, nối vịnh Ba Tư với Hồng Hải,
chạy ngang qua Ryhad, phí tổn khoảng
32 triệu Mỹ kim.
- Nối dài con
đường Damas-Médine cho tới
Aden, đi ngang qua Thánh Địa
Mecque và nối liền với đường
xuyên A Rập.
Các chuyên
viên đều lắc đấu, ngán ông vua
mê đường xe lửa đó (the
rail-minded king).
Tấn bộ nhất
là công việc lập những phi
trường tối tân ở Hasa và một đội
hải quân. Thế là chỉ trong
khoảng gần tám năm (1945-1953)
xứ A Rập Séoud đã tân thức hóa
kinh đô Ryhad xây cất lại, nguy
nga và tráng lệ, có cung điện,
có vườn thượng uyển trồng hằng
vạn gốc trúc đào; đủ các kỷ hoa
dị thảo, rung rinh dưới ánh một
vạn ngọn đèn điện, y như cung
điện Versailles giữa sa mạc [1].
Nhưng không phải là để ông hưởng
một mình, vì Ibn Séoud tuyên bố
rằng bất kỳ người nào đạt chân
lên kinh đô tức thị khách của
ông rồi, cứ vô cung điện, sẽ
được đãi ăn.
Vậy thì vị Quốc
vương Ả Rập này biết cái đạo "dữ
dân đồng lạc" của Mạnh Tử chăng?
mà cái vườn thượng uyển của ông
giống cái vườn bảy chục dặm của
Văn Vương chăng?
Không biết Ibn
Séoud đãi khách tứ xứ của ông
sang trọng ra sao, chứ đời sống
của ông vẫn giản dị như
hồi lang thang trong sa mạc
Ruba-al-Khali. Không nằm giường,
chỉ cần một chiếc chiếu trải
trên đất. Lâu đài rực rỡ vàng
son mà ông vẫn thích ở
lều. Thức ăn thì chỉ có ít sữa
lạc đà, ít thịt và vài trái chà
là, tuyệt nhiên không uống rượu.
Ông đã giữ đúng lời dạy trong
Thánh kinh Coran và lời gia huấn
của vua cha. Và ai vào yết kiến
ông thì cứ gọi thẳng tên ông,
chẳng phải "muôn tâu bệ hả, "vạn
vạn tuế hoàng thượng" gì cả. Bất
kỳ người dân thường nào cũng có
thể tỏ nỗi oan ức với ông, ông
không cấm cửa ai hết. Mà
ông lại rất yêu thơ. Thì
tôi đã chẳng nói rằng người A
Rập nào cũng là một nhà tu hành,
kiêm chiến sĩ và thi sĩ đó ư?
Có lẽ khắp thế
giới, ông là ông vua độc nhất
không bị cái quyền thế làm hư
hỏng cái thiên lương
***
Công ti Aramco
cũng khôn khéo, trông xa,
biết rằng tới năm 2005, khi mãn
khế ước, thế nào cũng phải
trả lại hết, muốn sau này còn
vớt vát được chút quyền
lợi thì ngay từ bây giờ phải lấy
lòng người Ả Rập. Nên họ bỏ ra
hai mươi sáu triệu Mỹ kim cất
nhà cho nhân công bản xứ với đủ
tiện nghi: nước máy, đèn
điện, cả bếp điện nữa, rồi cất
trường cho trẻ em A Rập học tới
năm 18 tuổi. Mỗi năm tuyển 500
sinh viên ưu túcho ăn học
rồi gởi băn Mỹ tập sự.
Công i lại rất
tôn trọng luật lệ của nhà vua.
Như tôi đã nói, Ibn Séoud theo
một chính sách trái hẳn với
Mustapha Kémal, muốn thần dân
ông phải giữ cổ tục. Bận
sơ mi ly lông thì được, nhưng
phải theo đúng những lời
cấm trong kinh Coran. Cấm tuyệt
không được uống rượu. Và muốn
cho dân khỏi bắt chước người Mỹ
rối uống lén, ông cấm cả
người Mỹ uống Whisky, hễ bắt
được họ chở Whisky vào xứ
thì tịch thâu, dù là rượu gởi
cho tòa đại sứ Mỹ cũng
mặc. Bắt người Mỹ nhịn Whisky
thì chỉ có Ibn Séoud mới làm nổi
Chẳng những vậy, ông còn
yêu cầu nhà thờ của Mỹ có làm lễ
thì cứ lẳng lặng mà làm,
đừng kéo chuông vì "những giáo
phái của ông nghe tiếng chuông
nhà thờ có thể nổi giận được".
Aramco và cả tòa
đại sứ Mỹ nữa răm rắp theo. Quả
nghị lực của ông là gang
thép.
***
Vào khoảng 1946, 1947 có tin đồn
rằng các mỏ dầu ở Mỹ sắp cạn.
Chính phủ Mỹ đâm hoảng. Cũng
may tin đó sai, nhưng Tổng thống
Truman phải lo xa, càng
bám chặt vào những mỏ dầu A Rập
để phòng lúc mà những mỏ dầu ở
Texas sẽ cạn. Lại thêm Nga
sô vẫn dòm ngó mồi ở Tây Á,
thành thử miền này quan trọng
nhất
thế giới về chiến lược
Các nhà
chuyên môn đã tính phỏng cứ theo
cái đà khai thác hiện nay thì
các mỏ dầu lửa ở Mỹ vài chục năm
nữa sẽ cạn, ở Nga còn được dăn
chục năm nữa, ở vịnh Ba Tư
còn được tới trăm rưỡi năm nữa.
Như vậy ai làm chủ xứ Ả Rập sẽ
làm chủ cả cựu lục địa.
Vì thế năm
1951, vừa mãn hạn, Mỹ vội ký
ngay với Ibn Séoud một hiệp ước,
xin mướn phi trường Dahran thêm
năm năm nữa, rồi lập thêm nhiều
căn cứ quân sự ở bờ phía Bắc bán
đảo A Rập.
Mặt khác
chính phủ Mỹ hạn chế sự khai
thác những mỏ dầu ở Mỹ, mà cách
công hiệu nhất để hạn chế là sản
xuất dầu lửa A Rập cho thật rẻ,
đem bán ở châu
Âu, như vậy dầu sản xuất ở Mỹ
chỉ dùng trong nước thôi, không
xuất cảng được nữa.

Muốn
hạ giá bán thì phải hạ giá
chuyên chở, mà dầu lửa vịnh Ba
Tư muốn đem qua Âu châu phải đi
vòng lại Aden, vô Hồng Hải, qua
kênh Suez. Cáccông ty Mỹ thiếu
tàu dầu, phải thuê Anh chở. Anh
tính giá cao lại bắt chịu thuế
qua kênh Suez (lúc đó kênh Suez
vẫn còn thuộc Anh, thành thử giá
dầu lửa ở vịnh Ba tư hơi
cao.Muố, thoát ly sự lệ thuộc
vào Anh, Mỹ đóng thêù tàu dầu và
dự định đặt ống dẫn dầu xuyên A
Rập, nối Dahranvới Địa Trung
Hải. Thé là có sự cạnh tranh
ngấm ngầm giữa "dầu lửa Mỹ kim"
và "dầu lửa Anh kim".
Ống dẫn dầu lửa đó dài khoảng
1750 cây số, phí tổn bao nhiêu,
ngưởi Mỹ cũng chịu nổi. Duy có
điều này khó khăn là nó phải qua
xứ Transjordanie và Palestine,
tức những xứ chịu ảnh
hưởng của Anh. Anh dại gì cho
phép. Mỹ phải tìm một lối thoát
khác: Syrie, một xứ độc lập từ
1945. Anh lại cản đường nữa nhờ
mua chuộcchánh phủ Syrie.
Nhưng trong chánh phủ Syrie có
một nhân vật rất ghét Anh, đã có
hồi bị Anh giam vì ngờ rằng thân
Đức. Nhân vật đó là tướng Zaïm.
Thực ra Zaïm chỉ thân Pháp và
rất tôn sùng Mustapha Kémal,
muốn Âu hóa Syrie, diệt hết
những thối nát trong chính phủ.
Ông làm tổng
tư lệnh quân đội Syrie, cùng với
đồng chí lật đổ chánh phủ ngày
23 tháng 3 năm 1949, được quốc
dân hoan hô như một vị cứu tinh.
Ba tháng sau Ibn Séoud cho chính
phủ Zaïm một số tiền là 6 triệu
Mỹ kim trả làm mười năm và Zaïm
ký hiệp ước cho Mỹ đặt ống dầu
qua đất Syrie. Chẳng cần phải
nói, ai cũng biết rằng 6
triệu Mỹ kim đó là của Mỹ. Thế
là Mỹ đã vật được Anh trong keo
đầu.
Hai tháng
sau, ống dẫn dầu chưa đặt thì
bỗng một đêm ba chiếc xe thiết
giáp đậu trước dinh Zaïm, quân
lính xuống bao vây, giết vài tên
lính hấu, xông vào phòng Zaïm,
bắn chết tươi ông này. Người cầm
đầu vụ đó là đại tá Hennaoui bạn
thân nhất của Zaïm. Anh đã vật
lại Mỹ và thắng keo nhì.
Rồi Anh vào
củng cố địa vị ở Tây Á, liên kết
Syrie, Irak, Transjordanie, A
Rập S&oud, Ai cập, Yémen chống
lại. Thời gian này cực kỳ lộn
xộn; trong các nước ở bờbiển Địa
Trung Hải từ Ai Cập đến Irak,
Syrie, luôn luôn có những cuộc
đảo chánh, thầy trò giết nhau,
anh em giết nhaukết cục là
Hennaoui bị một người trong đảng
hạ sát. Anh thua keo thứ ba, và
cuối cùng năm 1950 thì ống
dẫn dầu xuyên A Rập đặt tới bờ
Địa Trung Hải.
Ống đó dàu
1783 cây số, trực kính rộng 1
thước, phí tổn 280 triệu Mỹ kim,
mỗi ngày tuôn ra được 41 triệu
lít, con đường chở dầu rút ngắn
đi được, giá dầu hạ xuống. Nhờ
vậy công ty Aramco sản xuất tăng
lên gấp năm, số lợi tức của Ibn
Séoud cũng tăng lên gấp năm.
Cuối năm
1951, Anh lại bị một vố
nữa. Ở Syrie, Ai Cập, Irak,
Iran, nơi nào cũng có những vụ
lưu huyết, đảo chánh. Nhất là ở
Ai Cập, các đảng quốc gia, các
giáo phái liên kết nhauđể đòi xé
hiệp ước Anh-Aicập 1936, đuổi
Anh ra khỏi kênh Suez vì "người
Anh làm dơ cái không khí tư do ở
Ai Cập. Nhưng người Anh cứ
lạnh lùng theo chín hsách: "Ta
đã ở đây thì ta không đi đâu
cả". Ai Cập bèn tẩy chay Anh,
rút tiền gởi trong các ngân hàng
Anh, xui 40 000 thợ làm với Anh
đình công, tố cáo Anh đã hứa rút
quân đi mà trên sáu chục lần
rồi, nuốt lời hứa như chơi.
Thanh niênlo đúc khí giới, bom,
đạnđể phá khuấy Anh chứ chưa dám
tấn công thẳng. Đầu năm 1952,
quân đội Anh, dưới sự chỉ huy
của tướng Erskine giết 46 cảnh
sát Ai Cập. Thế là hôm sau một
cuộc biểu tình vĩ đại xảy ra ở
Caire, gây ra 400 đám cháy, tàn
phá những nhà cửa, tài sản của
người Anh, thiệt hại 40 triệu
Anh kim. Chín người Anh bị thiêu
sống. Tòa đại sứ Anh suýt bị
phá. Anh đối phó lại dữ dội,
nhưng cũng chỉ kéo dài tình
trạng được thêm ít năm.
Công ti
Aramco thấy vậy, hành động cực
kỳ khôn khéo, tự động hủy bỏ khế
ước cũ, ký lại một hiệp ước
mới với Ibn Séoud, tặng nhà vua
tới 50% số lời - chính sách chia
đôi Fifty-Fifty - lại yêu
cần nhà vua cứ việc đánh thuế
vào số lời của công ty như
"ngài" muốn, vì "ngài" là chủ.
Như vậy không còn là 50-50 nữa
mà có lẽ là 55-45, 55% về nhà
vua, 45% về Aramco. (2) Ibn
Séoud mỉm cười nhưng Anh lại
nhăn mặt.
Vì Irak thấy
vậy cũng yêu cầu công ty
Irak-Petroleum của Anh "xét lại
vấn đề giùm cho". Anh không
chịu. Đảng quốc gia Irak
nổi lên &m sát thủ tướng
Ali-Ramara, con người thân Anh
và đưa Mossadegh lên. Mossadegh
đòi quốc hữu hóa các mỏ dầu và
đuổi người Anh ra khỏi cõi. Anh
cương quyết bám lấy địa vị,
Mossadegh thua mặc dầu nhiều lần
đã khóc hết nước mắt để quốc dân
và người ngoại quốc hiểu mình.
Hiện nay Anh đã mất địa vị ở
kinh Suez và không biết còn giữ
địa vị ở Irak được bao lâu nữa.
*
*
*
Đó, tình hình
Tây Á như vậy khi Ibn Séoud từ
trần ở một ly cung tại Taïf,
cách Mecque 50 cây số.
Ông bị chứng
đau tim từm ấy tháng trươ²c, mắt
đã lòa, quyền hành đều giao cho
hoàng tử Daud.
Ngày
9/11/1953, khi đài phát thanh ở
thánh địa loan tin tđó ra thì
dân chúng khắp nơi, từ Nedjd tới
Hail, từ Hasa tới Hedjaz đề sững
sờ. "Thợ thuyền trong các xưởng
lọc đều ngừng tay; phu khuân vác
liệng đồ xuống bến, dân du mục
hạ mã, lính trong trâi đặt súng
xuống; máy bay, xe lửa, xe cam
nhông, nhất nhất đều đứng lại.
Sáu triệu người A Rập, đều quỳ
xuống dất, quay mặt về Mecque."
Theo tục A
Rập, người ta liệm ông ngay
trước khi mặt trời lặn, đưa ông
về Ryhad. Trọng di ngôn của ông,
đám táng rất đơn giản, y như đám
táng của một người thường dân.
Trên mộ cũng không có một tấm
bia ghi tên nữa, chỉ có một tấm
đá trắng, trơn, dưới vòm trời
mênh mông.
*
*
*
Tôi nghĩ khắp
thế giới có lẽ không có một dân
tộc nào là hèn cả. Hễ gặp
người chỉ huy có tài có đức thì
dân tộc nào cũng có thể vươn
lên, làm cho các cường quốc phải
kính nể. Dân dộc Nedjd này
nhiều lắm là được 3 triệu
người, mà lại nghèo, dốt: sống
nhờ mấy trái chà là, một bầu
nước giếng, không hề trông thấy
xe hơi , ngoài kinh Coran, cơ hồ
không còn biết gì khác; mà lại
chia rẽ, rời rạc như những hạt
cát, tệ hơn nữa, còn cướp bóc
nhau, đâm chém nhau; vậy mà
trong có nửa thế kỷ hất chân
được Thổ và Anh, làm cho Mỹ phải
tôn trọng, là nhờ ở đâu? Đã đành
một phần là nhờ may, nhờ những
giếng dầu lửa, nhưng ví thử
những giếng dầu đó ở trong tay
một kẻ tham bỉ như Hussein, quốc
vương Hedjaz, hoặcnhu nhược như
Méhemed VI, quốc vương Thổ, thì
tất phải cong lưng làm nô lệ cho
người mà may lắm là khỏi chết
đói. Vậy thì làm dân, cái việc
chọn mặt gởi vàng là quan trọng
nhất. Nhưng có phải người xứ nào
- kể cả những xứ tự xưng là dân
chủ - cũng chọn mặt được đâu?
Còn có vận chăng? Suốt hai ngàn
năm lịch sử, dân A Rập chỉ gặp
vận có ba lần: lần thứ
nhất với Mahomet, từ thế kỷ thứ
VII đến thế kỷ thứ XII; lần thứ
nhì với Abdul Wahab trong hai
thế kỷ XVIII và XIX, lần đó chỉ
thành công được một nửa; lần thứ
ba với Ibn Séoud, không biết lần
này kéo dài được bao lâu? Dù sao
cũng nên mừng cho họ đã gặp được
vị lãnh tụ anh hùng và khôn
khéo. Mustapha Kémal không thèm
nhận tiền của người để giữ nền
độc lập. Ibn Séoud cứ nhận tiền
của Anh, Mỹ mà vẫn giữ được nền
độc lập, lại lém cho kẻ đưa tiền
phải kính phục thì tư cách và
tài năng của ông đã vượt
Mustapha Kémal được một
bực.
Sàigòn ngày
27/09/1960
Nguyễn Hiến
Lê
[1] Jean Paul
Penez trong tạp chí Paris Match
(2) Báo
Journal d'Extrême Orient ngày
27/08/1960 nói một nhà kinh
doanh Ý, Enrico Mattei thương
thuyết với Iran, Lybie để khai
thác những mỏ mới và đề nghị để
cho quốc gia đó 75% số lời. Anh,
Mỹ bất bình, nhưng chính sách
Fifty-Fifty thế nào rồi cũng sẽ
cáo chung
Trích từ tạp
chí Bách Khoa số 111, tháng 8
năm 1961
Hết
|
|