" Con đã học được
cái đao cao rộng nhất ở đời rồi đó,
con đã học được đạo Vạn năng, tức
đạo kiên nhẫn"
Ibn Séoud
(1881-1953) Vị anh hùng nhờ kiên
nhẫn trong nửa thế kỷ mà tạo nên
được một quốc gia phú cường giữa sa
mạc
Phụ lục:
Đại gia đình của Ibn
Séoud
Tiểu sử tác giả Nguyễn Hiến Lê
1

I/ Lời nói đầu
Ngày
14 tháng 11 năm 1928, trong một cuộc
đại hội của các quốc gia liên hiệp A Rập,
Ibn Séoud dõng dạc tuyên bố:
"Khi
tôi tới với các ông thì tôi thấy các ông
chia rẽ nhau, chém giết lẫn nhau, cướp bóc
lẫn nhau không ngừng. Những kẻ thương lượng
công việc cho các ông, âm mưu để hại các
ông, họ gây mối bất hòa giữa các ông để
các ông không đoàn kết với nhau được, mà
mạnh lên. Khi toi tới với các ông thì tôi
yếu lắm, không có một sức mạnh nào cả,
trừ sự phù hộ của Thượng đế , vì, như
các ông đã biết, lúc đó chỉ có bốn chục
người giúp tôi. Vậy mà tôi đã làm cho các
ông thành một dân tộc, một dân tộc hùng
cường..."
Những
tiếng: "kẻ thương lượng công việc
cho các ông" ám chỉ các đế quốc Âu
châu, nhất là đế quốc Anh. Trong lịch sử
đế quốc của người Anh, chưa lần nào
họ bị thất bại trên đường ngoại giao,
bị hất cẳng một cách chua xót, nhục nhã
bằng lần họ đương đầu với Ibn Séoud.
Lúc thì cương quyết kịch liệt, lúc thì mềm
mỏng , chờ thời, nhưng luôn luôn khôn khéo
và nhẫn nại, Ibn Déoud, vị anh hùng A Rập,
đã lần hồi trong nửa thế kỷ, gạt ảnh
hưởng của người Anh mà dựng nên một quốc
gia phú cường ở giữa sa mạc, từ bờ biển
Hồng Hải tới vịnh Ba Tư.
Khi
ông chết, năm 1953, các cường quốc Âu Mỹ
đều phục ông. Tờ Paris Match đã viết:
"Quốc
vương Ibn Séoud mất đi, để lại cho con ông
một vương quốc rộng bằng nửa Âu châu
(1), đứng hàng 3 trên thế giới về sự sản
xuất dầu lửa, và làm lãnh tụ tinh thần
cho dân tộc A Rập. Một nửa thế kỷ đày
những thủ đoạn anh hùng, rực rỡ, đầy
những truyện du hiệp lạ lùng mà chưa
có nhà tiểu thuyết kiếm hiệp nào tưởng
tượng nổi, đã tạo nên được phép màu đó.
Ở giữa thế kỷ XX mà quốc vương Ibn Séoud
đã dựng lên một quốc gia mới ở trên sa
mạc."
Tờ
Illustration thán phục:
"Đời
của vị quốc vương đó là một sự kiện
lạ lùng bực nhất của thế kỷ chúng
ta"
Ngay như kẻ thù của Ibn Séoud, tức
người Anh cũng phải khâm phục ông. Tờ Daily
Express ở Luân Đôn nhận rằng:
"Ông
là người dẻo dai nhất, khôn khéo nhất,
thành công nhất trong số các nhà thủ lãnh
A Rập. Ông chiếm được một vương quốc,
bất chấp cả đường lối chính trị của
người Anh; ông hợp tác với người Mỹ để
khai thác mỏ dầu lửa của ông. Người
Anh mà ông thắng trên bàn cờ quốc tế và
người Mỹ mà ông bắt phải trả 50
triệu Anh kim mỗi năm, đều phải trọng những
đức tính phi thường của ông."
Mà
đức tính của ông đáng cho ta phục nhất
là đức kiên nhẫn. Không biết ông có phải
là dòng dõi người thanh niên Bagdad trong câu
chuyện A Rập thời xưa không?
Vâng
chính người thanh niên đó, người đã thụ
nghiệp một nhà hiền triết làm thợ rèn,
và chịu nhẫn nhục kéo bễ luôn mười năm,
cho tới ngày sư phụ bảo: "Thôi đừng
kéo nữa, con. Con đã học được đạo vạn
năng, tức đạo Kiên nhẫn."
Suốt
nửa hế kỷ, ông vững chí không lúc nào
quên mục đích.
 |
Mustapha Kémal |
So
sánh Ibn Séoud với Mustapha Kémal thì cả hai
đều gan dạ, có nghị lực gang thép, có tài
cầm quân, tổ chức, biết nắm lấy cơ hội,
lợi dụng những mâu thuẫn giữa các đế
quốc Âu, Mỹ để khuếch trương, củng cố
thế lực của mình, nhưng Ibn Séoud mềm dẻo
hơn nhiều, khôn khéo hơn nhièu, không
mắc những lỗi lớn, không mang tiếng là
"quân độc tài sát nhân" như
Mustapha Kémal hồi về già, mặc dầu
nhiều khi cũng phải dùng những phương pháp
cương quyết gần như khốc liệt. Coi nét mặt
hai ông, ta cũng thấy khác xa: Ibn Séoud tuy
to lớn, lực lưỡng, cao tới hai thước
năm phân, mà vẻ mặt lại đôn hậu, mắt
sâu mà sáng, môi dày, miệng mỉm cười hiền
từ , không mím chặt lại như Mustapha Kémal.
Sự
nghiệp của hai ông cũng không giống nhau. Kémal
sinh vào thời đế quốc Thổ quá rộng mà
suy tàn, phải cắt bớt đất đai đi, để
giữ lực lượng, rồi tìm cách thống nhất
những dân tộc khác nhau về ngôn ngữ,
tôn giáo, phong tục thành một khối chặt
chẽ , sau cùng âu hóa hoàn toàn khối đó
để theo kịp các nước văn minh. Ibn Séoud
trái lại, sinh ở giữa một sa mạc mênh mông,
gồm nhiều bộ lạc cùng một ngôn ngữ, lịch
sử, tôn giáo, nhưng ở rải rác khắp nơi,
nơi chia rẽ nhau, cướp bóc lẫn nhau nên công
việc đầu tiên của ông là phải dùng sức
mạnh bắt những bộ lạc đó phải phục tùng
mình rồi xâm chiếm những tiểu quốc ở
chung quanh, lập thành một quốc gia cường
thịnh, có thể làm các quốc gia Âu, Mỹ phải
kính nể, và muốn cho những tiểu quốc đó
đoàn kết với nhau, ông chủ truơng giữ
tinh thần cổ truyền, không cho phong tục, tôn
giáo chịu ảnh hưởng của phương Tây. Ông
là một tín đồ thành kính của đạo Hồi;
còn Mustapha Kémal là một nhà cách mạng có
tân học, mê những học thuyết của
Rousseau, Montesquieu. Nhưng cả hai đều thành
công rực rỡ, và nhờ hai ông mà dân tộc
Thổ và dân tộc A Rập mở mặt được với
thế giới.
II/ Bán
đảo A Rập qua các thời đại:
Muốn
hiểu sự nghiệp của Ibn Séoud, chúng ta cần
biết qua về địa thế, dân tộc và lịch
sử A Rập.
Xứ
A Rập là môt bán đảo rộng 2,2 triệu cây
số vuông, ba phía là biển, ở giữa là một
cao nguyên mênh mông trên cát dưới đá , cháy
khô dưới ánh nắng chang chang, đi hàng chục
hàng trăm cây số mới gặp một giếng nước,
chung quanh có ít cây chà là và vài cái
lều của bọn người du mục. Chỉ ở bờ
biển mới thấy ruộng rẫy. Hai miền phì
nhiêu nhất là miền Yemen ở phía Nam trên cái
mỏm, một bên là Hồng Hải (Mer Rouge), một
bên là vịnh Aden, và miền Syrie ở phía Bắc,
trên bờ Địa Trung Hải. ân cư miền Yemen
rất đông đúc và tăng lên rất mau, mà diện
tích trồng trọt được thì có hạn, kỹ
nghệ cùng thương mãi tới dầu thế kỷ XX
vẫn còn thấp kém nên miền đó luôn luôn
bị nạn nhân mãn. Dân chúng nếu vượt biển
để qua miền Soudan thì gặp một xứ còn khô
khan, hoang dã hơn xứ A Rập nữa, sống không
nổi; mà cũng không thể ngược theo bờ biển
Hồng Hải vì bị các dân tộc khác chận đường,
nhất định không cho nhập cảnh, nên họ
phải dắt díu nhau di cư vào giữa bán đảo,
tới miền Nedjd, miền Quasim, miền Hamad để
tìm cách sinh nhai. Thành thử trong hàng chục
thế kỷ, có những luồng sóng người cuồn
cuộn từ phương Nam tiến lên phương Bắc,
rồi phân tán trong sa mạc. Nhưng sa mạc cháy
khô làm sao nuôi nổi những bọn người di
cư mỗi ngày một đông đó? Họ phải chém
giết lẫn nhau đẻ sống, để chiếm một
giếng nước, mươi gốc chà là và vài mẫu
đồng cỏ. Khắp thế giới không đâu đời
sống cực khổ, gay go như ở đây. Phải
chiến đấu suốt đời, nên kẻ nào sống
sót được cũng là những chiến sĩ gan dạ,
rất giỏi chịu cực, chỉ có một bầu nước
và một gói chà là, cũng đủ sống ba bốn
ngày.
Nhưng
khi người ta đã quen với đời sống rồi
thì người ta thấy yêu cái cảnh sa mạc
hơn là người nông dân yêu đồng ruộng. Một
nhà tâm lý nào đó đã nhận xét đúng: cảnh
vật càng khô khan, đời sống càng cực khổ
bao nhiêu, người ta càng quyến luyến với
quê hương bấy nhiêu. Sống giữa sa mạc,
người A Rập mê những cảnh hoàng hôn rực
rỡ, những cảnh cát bụi mịt trời, những
cây chà là xanh mướt bên bờ nước, nhất
là sau những cơn nắng cháy da, mặt trời đã
lặn, gió mát hiu hiu, nằm trên cát, bên cạnh
con lạc đà, gối đầu lên cánh tay mà
ngắm những ngôi sao lấp lánh trên nên trời
thăm thẳm, hoặc nhièn bóng trăng xanh dịu
trải lên những động cát thoai thoải, trong
một cảnh vô biên, tịch mịch, thì lòng họ
rung lên một điệu trầm trầm, họ nhớ lại
những thời oanh liệt, mà muốn ca ngợi công
lao tổ iên; hoặc suy nghĩ về cái mênh mông
huyền bí của vũ trụ, do đó họ thành một
thi sĩ hoặc một nhà tu hành.
Tóm
lại, sa mạc đã tạo ra ba hạng người: hạng
chiến sĩ coi cái chết nhẹ như không; hạng
thi sĩ thích một cuộc đời phóng túng; và
hạng tu sĩ kính ngưỡng Thượng Đế, muốn
hiểu cái bí mật của tương lai. Người A
Rập tự hào rằng đã tặng cho nhân loại bốn
vạn người tiên tri, đã để lại cho chúng ta vô số
những lời sấm truyền, mà lịch sử cũng chứng
thực rằng ít gì cũng có trên trăm nhà
tiên tri sinh trên bãi sa mạc A Rập
III/ Các
nhà tiên tri:
1) Mahomet (570-632)

Nhà tiên tri nổi danh nhất, ảnh
hưởng lớn nhất đến dân tộc A Rập là Mahomet
(570-632) (còn viết là Mahound, Mohammed, Muhammad)
Chẳng những ông là một nhà tiên tri
mà còn là một thi sĩ, một chiến sĩ nữa. Ông ấp ủ tất
cả những hoài bão của dân tộc A Rập và có đủ tài,
chí để thực hiện những hoài bão đó, nên lập nên công
nghiêp rất lớn cho nòi giống.
Hồi trẻ nghèo, ông phải làm hướng
đội cho các thương đôi qua sa mạc, đi khắp nơi này
nơi khác, tiếp xúc với mọi giống người. Ông thấy
người A Rập chia rẽ, tranh giành nhau, cướp bóc nhau
mà đau lòng; nuôi cái mộng một ngày kia quy tụ họ
được, thống nhất họ được để tạo nên một quốc gia
mạnh mẽ.
Năm 25 tuổi, ông vô núi Hira, gần
thành Mecque trầm tư trong một thời gian, như
Đức Phật duới gốc Bồ đề, và lần lần ánh sáng hiện ra
trong óc ông. Ông nghĩ ra rằng nếu muốn thống
nhất dân tộc thì phải tạo cho họ một tôn giáo
chung -hồi đó người A Rập còn theo đạo đa thần, mỗi
bộ lạc thờ một vị thần riêng- mà muốn cho tôn giáo
được mọi người theo thì phải dùng võ lực, chiến
thắng tất cả những bộ lạc khác.
Tìm được "chánh đạo" rồi, ông hạ san
, tự xưng là nhà tiên tri, đem truyền bá tư tưởng
của mình trong số người thân, rồi trong một nhóm môn
đệ gồm ba, bốn chục người. Nhờ hồi trước tiếp xúc
với những nguời theo đạo Đa Tà và Do Thái, ông hiểu
được ít nhiều về hai đạo đó, phỏng theo mà lập nên
đạo Hồi. Giáo điều căn bản tóm tắt trong câu: "
Chỉ
có một đức Chúa duy nhất là Allah và một tiên tri
của ngài là Mahomet". Sống thì phải phục tùng ý muốn
của Chúa. Sự phục tùng ấy
gọi là islam, chết thì
phải theo sự phán quyết của Chúa. Đại loại
những lời khuyên răn các tín
đồ tức là mulsuman, cũng như các
cấm điều trong các tôn giáo khác. Khác hẳn Đạo Phật
là điều này: Chiến tranh nào có mục đích truyền
bá "chính đạo" sẽ là thánh chiến. Bất kỳ ai, có
những kẻ đui và cụt tay đều phải nhập ngũ để chiến
đấu vì Chúa. Chỉ những kẻ điên, con nít và đàn bà là
được ở nhà, nhưng có bổn phận phải tố cáo, phải giết
những kẻ đào ngũ. Khẩu hiệu của tín đố là: "Thiên
đàng ở trước mặt, mà địa ngục ở sau lưng". Một
lần đứng trước môt nhóm đồ đệ khoảng bốn chục người,
Mahomet tuyên bố:
- Từ nay ta sẽ sống và chết với các
ngươi, máu của ngươi là máu của ta, các người thua
là ta thua, mà các ngươi thắng là ta thắng.
Một người trong đám hỏi:
- Nhưng nếu chúng tôi bị giết vì
ngài thì được phần thưởng nào?
Mahomet đáp liền:
- Được lên Thiên Đàng.
Những cuộc đàm thoại như vậy được
tín đồ ghi chép lại Thánh kinh Coran, lời rất trau
chuốt, hoa mỹ vì Mahomet có tâm hồn thi sĩ. Ngoài
những đoạn giảng về đức tin, kinh còn dạy về khoa
học, vệ sinh, luật pháp. Các sử gia hiện nay phải
nhận rằng thời Trung cổ, khắp thế giới không có bộ
luật nào đầy đủ chi tiết và thực tế như kinh Coran.
Khi đã có một số tín đồ cảm tử theo,
ông bắt đầu dùng tài cầm quân của lình để đánh cướp
các thương đội, gây lực lượng để xâm chiếm các bộ
lạc, bắt họ quy phục, theo đạo Hồi. Lần này ông
chiếm được Médine, Mecque, và khi lâm chung, hồi 62
tuổi, ông làm chủ toàn xứ A Rập. Quốc gia A Rập
thành lập, và từ đó mỗi ngày một mạnh.
Cái chết của Mohamet
2) Omar

Đế
quốc A Rập thời toàn thịnh (750)
Sau Mahomet, Omar tiếp tục công việc
xâm lăng để truyền đạo, và tới thế kỷ thứ VIII thì
đế quốc A Rập toàn thịnh, rộng hơn cả đế quốc Hy lạp
hồi xưa: phía đông lan qua Ba Tư, và một phần
Ấn Độ, phía tây gồm một vùng mênh mông từ Ai Cập tới
bán đảo Y Pha Nho, phía bắc giáp Caucase và Tây Bá
Lợi Á, bao nhiêu đảo lớn nhỏ trong Địa Trung Hải đều
thuộc A Rập cả. Họ tới đâu thắng đấy, bắt kẻ địch
phải lựa một trong hai đường:
hoặc thừa nhận Chúa
Allah của họ, và phục tùng họ, hoặc chết. Họ dám sai
sứ qua Trung Hoa buộc hoàng đế Trung hoa theo đạo họ
(khoảng 705-707) nhưng vì xa xôi quá, họ không dám
tiến quân. Mãi tới năm 732, họ sắp tới sông Loire
trên đất Gaule thì dân tộc Franc dưới sự chỉ
huy của Charles Martel, đánh cho đại bại ở gần
Poitiers. Trận đó dã cứu châu Âu khỏi bị A Rập đô
hộ, và cứu đạo Da Tô khỏi bị đạo Hồi lấn áp.
Càng thắng, họ càng phục
lời tiên tri của Mahomet: "Thiên đường ở trước mặt,
Địa ngục ở sau lưng" là đúng. Họ tiến tới đâu chũng
thấy những cảnh rực rỡ, những đời sống vi tươi y như
cảnh thiên đàng tả trong Thánh kinh của họ. Trong
Thánh kinh cũng có đoạn này đấy ư?
"Sau khi giải khát ở hồ nước của
đấng Tiên tri, Tín đồ sẽ vô Thiên Đàng và được hưởng
những của cải mênh mông. Mùa xuân ở đó bất tận, vườn
tược xanh tốt quanh năm, đủ các thứ suối róc rách
dưới tàn cây: suối nước thơm tho, suối rượu, suối
sữa, suối mật. Cây thì cao, bóng thì mát mà có đủ
các thứ trái. Rồi nem công chả phượng -ba trăm món
ăn mỗi bữa- ăn không chán... !!! Thượng Đế ban lệnh
"Các con ăn uống cho thỏa thuê đi để bù công khó
nhọc ở dưới Trần . Bảy mươi hai nàng tiên mắt đen
lánh, xiêm y rực rỡ, y như những ngọc trai trong vỏ
xa cừ, sẽ múa hát tưng bừng để tăng vui cho
bữa tiệc".
Những lời hứa hẹn đó làm cho
dân A Rập đói khát trong sa mạc mơ ước bao lâu nay
thì bây giờ đây, nhờ chiến thắng, nhờ hy sinh cho
Chúa, họ được Chúa cho hưởng đủ: này là những suối
mật, ở Ai Cập những suối sữa ở Y Pha Nho, những
lê, cam ợ Ba Tư và hàng vạn hàng ức nàng tiên
ở Bagdad, ở Caire, ở Bysance, ở Crète, ở Cordoue.
Nhìn lại sau lưng họ thì bán đảo A Rập toàn đá với
cát, quả thực là một cảnh địa ngục ! Vạn vạn tuế
Mahomet !
Một khi đã được lên Thiên đàng thì
không còn ai muốn trở lại cảnh Địa ngục nữa, cho nên
dân A Rập định cư ngay ở những thuộc địa của họ,
không nhắc tới những tên Yemen, Nedjid, nơi chôn
nhau cắt rốn của họ nữa. Và bãi sa mạc mênh mông yên
tĩnh trở lại, gần như bất động, gần như chết hẳn.
Chỉ còn ít đoàn du mục đói rách lang thang dưới ánh
nắng thiêu người với mấy con lạc đà ốm yếu, đi tìm
ít ngụm nước, ít trái chà là chung quanh
những giếng nước.
Sống xa hoa thì phải suy. Bắt đầu từ
thế kỷ thứ XI, những thuộc địa của họ mạnh lên,
chống cự lại họ. Trước hết là người franc chiếm miền
bắc bán đảo: Syrie, Palestine, Transjordanie. Rồi
tới những đoàn Thập tự quân tiến tới Médine (cuối
thế kỷ XII). Qua thế kỷ sau, những đoàn kỵ sĩ
Mông cổ, dưới sự chỉ huy của
Gengis Khan, Tamerlan, xâm nhập Anatolie, tàn
phá Smyrne, Alep, Damas. Sau cùng người Thổ chiếm
hết những tỉnh ở bờ biển, dồn họ vào sa mạc, bắt họ
phải phục tòng, và dân tộc A Rập trở lại tình trạng
cũ, trước khi Mahomet ra đời.

Xứ A Rập sau 1918
Cuối thế kỷ XII, một vị anh hùng A
Rập, Abdul Wahab theo đường lối của Mohamet, dùng
đúng chính sách của Mahomet -nghĩa là mượn sức của
tôn giáo và của binh sĩ muốn gây lại thời oanh liệt
cũ, thống nhất được xứ Nedjd và Hasa. Qua thế kỷ
sau, Seoud chiếm thêm được Hedjaz, vô Thánh địa
Mecque, nhưng khi Déoud tử trân, các con bất tài, bị
Thổ diệt hết.
Dân A Rập vẫy vùng được một thời rồi
lại nép mình dưới chân Thổ, lại thiêm thiếp ngủ dưới
ánh nằng gay gắt, trong một cảnh yên tĩnh, chỉ
thỉnh thoảng giật mình vì một tiếng súng nổ hoặc
tiếng vó ngựa của một tên cướp đường ban ngày
Xem tiếp bài 2
|