Albert einstein (1879 - 1955 ), vĩ nhân thứ
tám
  


Thủ bút bằng tiếng Ðức của một bài
báo đăng bằng tiếng Anh về E = mc² tựa đề: "The
Most Urgent Problem of Our Time". Ðăng
trong tờ Science
Illustrated, 1946.
Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, có một nhà đại
bác học được toàn thế giới ca ngợi về một phương trình
lừng danh nhất của Khoa Học, đó là phương trình cho biết
năng lượng của vật chất: E=mc2.
Trong hàng chục năm trời, E = mc2
vẫn chỉ là đề tài của các cuộc tranh luận về mặt
lý thuyết,
nhưng sự san bằng thành phố Hiroshima vào năm
1945 do quả bom nguyên tử đã chứng minh sự thật của
phương trình đó.
Trước lời ca tụng, trước vinh quang rực rỡ, Albert
Einstein, tác giả của phương trình lừng danh kể trên
lại, giữ một bộ mặt thẹn thùng, xa lạ. Sự quảng cáo
thanh danh đã quấy nhiễu ông suốt đời nhưng tất cả đều
bị ông coi thường, lãnh đạm. Einstein chỉ khao khát độc
nhất sự trầm lặng để có thể suy nghĩ và làm việc.
1- Thời niên thiếu.
Albert
Einstein sinh ngày 14-3-1879 tại Ulm, miền Wurtemberg,
nước Đức. Cái tỉnh nhỏ bé này không mang lại cho Albert
một kỷ niệm nào cả vì năm sau, gia đình Einstein đã di
chuyển tới Munich. Sống tại nơi đây được một năm, một
người em gái của Einstein ra chào đời và từ đó không có
thêm tiếng trẻ thơ nữa. Chủ gia đình, ông Hermann
Einstein là người lạc quan, tính tình vui vẻ. Còn bà mẹ,
bà Pauline Koch, đã tỏ ra có óc thẩm mỹ ngoài bản tính
cần cù, tế nhị. Bà hay khôi hài và yêu thích âm nhạc.
Vốn dòng dõi Do Thái nhưng gia đình Einstein lại sinh
sống như người Đức vì tổ tiên của họ đã sinh cơ lập
nghiệp tại nước Đức lâu đời. Các phong tục Do Thái cũ
đều còn lại rất ít, trong khi tôn giáo bao giờ cũng là
thứ mà họ giữ gìn. Vào các ngày lễ riêng của đạo Do
Thái, nhóm dân này thường cử hành các buổi lễ theo nghi
thức cổ truyền. Ngoài ra, cứ vào ngày thứ năm, gia đình
Einstein thường mời một sinh viên Do Thái nghèo túng đến
dùng cơm rồi cùng nhau nhắc nhở lại các điều răn trong
Thánh Kinh
 
Cha Hermann Einstein
Mẹ Pauline Koch
Munich,
thành phố mà Albert Einstein đã sống trong thời thơ ấu,
là trung tâm chính trị và văn hóa của nước Đức tại miền
nam. Ông Hermann đã mở tại thành phố này một cái xưởng
nhỏ về điện cơ. Ông có một người em là kỹ sư điện nhiều
kinh nghiệm, hai anh em cùng góp sức vào việc khai thác
nguồn lợi: anh trông nom về mặt giao dịch buôn bán còn
em cai quản phần kỹ thuật chuyên môn.
Từ ngày lọt lòng mẹ, cậu Albert chẳng có gì khác hơn
những đứa trẻ thông thường. Cậu chậm biết nói đến nỗi
lên 3 tuổi mà còn bập bẹ tiếng một khiến cho cha mẹ
tưởng cậu bị câm. Hai ba năm sau, Albert vẫn còn là đứa
trẻ ít nói, rút rát, thường lánh xa mọi đứa trẻ cùng
phố. Cậu ít bạn và không ưa thích đồ chơi. Đoàn lính
bằng chì của cha tặng cho cũng không làm cậu vui thích,
điều này quả là khác thường bởi vì xứ sở này phải gọi là
quê hương của những đoàn quân thiện chiến, của các tướng
lãnh lừng danh như Bismarck, như Von Moltke. Cách giải
trí mà cậu ưa thích là hát khe khẽ các bài thánh ca khi
dạo mát một mình ngoài cánh đồng. Einstein đã sống trong
tình thương của cha mẹ và bên cạnh người chú tài ba.
Chính nhờ ông này mà Einstein có được các khái niệm đầu
tiên về Toán Học.

Hình lớp học tại Munich năm 1889.
Einstein đứng thứ hai, bên phải, hàng đầu.
Câu chỉ giỏi toán và la tinh (Hình của
Stadtarchiv, Ulm
)
Thời bấy giờ tại nước Đức, các trường tiểu học không
phải do chính phủ mở ra mà được các giáo hội phụ trách.
Tuy theo đạo Do Thái nhưng ông Hermann lại cho con theo
học một trường tiểu học Thiên Chúa giáo, có lẽ ông muốn
con mình về sau này sinh sống như một đứa trẻ Đức.
Einstein đã theo dần các lớp tiểu học mà không hề cảm
thấy mình là một đứa trẻ khác đạo. Tại trường học,
Albert Einstein không tỏ ra xuất sắc. Bản tính rút rát
và ưa tư lự của cậu khiến cho các bạn thường chế riễu
cậu là người mơ mộng.
 |
Wilhelm II, hoàng đế Đức,
vua Phổ, |
Năm lên 10 tuổi, Albert Einstein rời trường tiểu học vào
Gymnasium tức là trường trung học Đức. Việc học của các
thiếu niên Đức từ 10 tới 18 tuổi đều do Gymnasium quyết
định và cho phép lên Đại Học hay bước sang các ngành kỹ
thuật. Tại bậc trung học, học sinh phải học rất nhiều về
tiếng La-Tinh và Hy Lạp. Kỷ luật nhà trường rất nghiêm
khắc, các giáo sư thường độc đoán và xa cách học sinh.
Sống tại một nơi có nhiều điều bó buộc như vậy, Albert
Einstein cảm thấy khó chịu. Có lần cậu nói: “Tại bậc
tiểu học, các thầy giáo đối với tôi như các ông Thượng
Sĩ, còn tại bậc trung học, giáo sư là các ông Thiếu Úy”.
Sự so sánh này làm nhiều người liên tưởng tới đội quân
của Vua Wilhelm II, với các ông Thượng Sĩ là những người
thô tục và tàn bạo còn sĩ quan thường ưa thích uy quyền,
lại tỏ ra bí mật và quan trọng.
Từ thuở nhỏ, Albert Einstein đã yêu thích học hỏi về Vật
Lý. Cậu còn nhớ khi lên 5 tuổi, cha cậu cho cậu
một
chiếc địa bàn. Chiếc kim lúc nào cũng chỉ về một hướng
làm cho cậu bé này thắc mắc, suy nghĩ. Lớn lên, Einstein
ưa thích đọc các loại sách Khoa Học. Chàng sinh viên Do
Thái tới ăn cơm vào ngày thứ năm đã khuyên Einstein đọc
bộ sách “Khoa Học Phổ Thông” của Aaron Bernstein. Nhờ
cuốn này mà Einstein hiểu biết thêm về Sinh Vật, Thực
Vật, Vũ Trụ, Thời Tiết, Động Đất, Núi Lửa cùng nhiều
hiện tượng thiên nhiên khác.
Về Toán Học, không phải nhà trường cho cậu các khái niệm
đầu tiên mà là gia đình và ông chú ruột đã chỉ dạy cho
cậu rõ ràng hơn các giáo sư tại Gymnasium. Nhà trường đã
dùng phương pháp cổ điển, cứng rắn và khó hiểu bao nhiêu
thì tại nhà, chú của cậu lại làm cho cách giải các bài
toán trở nên vui thích, dễ dàng, nhờ cách dùng các thí
dụ đơn giản và các ý tưởng mới lạ.
Năm 12 tuổi, Albert Einstein được tặng một cuốn sách về
Hình Học. Cậu nghiền ngẫm cuốn sách đó và lấy làm thích
thú về sự rõ ràng cùng các thí dụ cụ thể trong sách. Nhờ
cuốn này, cậu học được cách lý luận phân minh và cách
trình bày thứ tự của một bài tính. Do đó, cậu hơn hẳn
các bạn về môn Toán. Vì được cha mẹ cho học đàn vĩ cầm
từ khi lên 6 tuổi nên càng về sau, Einstein càng yêu
thích âm nhạc và cảm thông được vẻ trong sáng và bay
bướm trong các nhạc phẩm của Mozart. Năm 14 tuổi, Albert
Einstein đã được dự vào các buổi trình diễn âm nhạc và
nhờ vậy, cậu thấy mình còn kém về kỹ thuật vĩ cầm.
Đời sống tại nước Đức càng ngày càng khó khăn. Vào năm
1894, ông Hermann đành phải bán cửa hàng của mình rồi
sang Milan, nước Ý, mở một cơ xưởng tương tự. Ông để con
trai ở lại nước Đức theo nốt bậc trung học, vì chính nơi
đây sẽ cho phép con ông bước lên bậc Đại Học. Vốn bản
tính ưa thích Tự Do, Albert Einstein cảm thấy ngạt thở
khi phải sống tại Gymnasium. Rồi quang cảnh ngoài đường
phố nữa: vào mỗi buổi chiều, khi đoàn lính đi qua, tiếng
trống quân hành đã kéo theo hàng trăm đứa trẻ. Các bà mẹ
Đức thường bế con đứng xem đoàn thanh niên trong bộ quân
phục diễn qua, và ước mơ của các thiếu nhi Đức là một
ngày kia, chúng sẽ được đi đứng hiên ngang như các bậc
đàn anh của chúng. Trái với sở thích chung kể trên,
Albert Einstein lại rất ghét Quân Đội, rất ghét Chiến
Tranh. Về sau này, có lần Einstein đã nói: “Tôi hết sức
kinh rẻ kẻ nào có thể vui sướng mà đi theo nhịp quân
hành, nếu họ có một khối óc thì quả là nhầm lẫn rồi, một
cái tủy xương sống là đủ cho họ”.
Nền kỹ nghệ phát triển rất nhanh tại nước Đức đã khiến
cho con người hầu như quên lãng thiên nhiên. Trái lại
tại nước Ý, cảnh thiên nhiên rực rỡ và bầu trời trong
sáng của miền Địa Trung Hải đã khiến cho Einstein tin
tưởng đó là thiên đường nơi hạ giới. Vì sống trong cảnh
cô đơn quá đau khổ nên nhiều lần Albert Einstein đã định
bỏ trường học mà sang nước Ý sống với cha mẹ. Cuối cùng
cậu tìm đến một y sĩ và xin giấy chứng nhận mình bị suy
yếu thần kinh, cần phải tĩnh dưỡng tại nước Ý trong 6
tháng. Ông Hermann rất bực mình khi biết con bỏ dở việc
học mà theo sang Milan. Albert lại cho cha biết ý định
từ bỏ quốc tịch Đức bởi vì cậu đã chán ghét sự bó buộc
của xứ sở đó. Nhưng cuộc sống tại Milan không phải dễ
dàng. Ông Hermann cũng không quyết định cư ngụ tại nơi
đây và việc xin cho Albert nhập quốc tịch Ý chưa chắc đã
thành công trong một thời gian ngắn, như vậy Albert sẽ
là một người không có tổ quốc. Ông Hermann khuyên con
trai nên chờ đợi.
Thời gian sống tại nước Ý đối với Einstein thật là sung
sướng. Cậu lang thang khắp các đường phố, đâu đâu cũng
vang lên tiếng hát của người dân yêu thích âm nhạc. Cậu
đi thăm rất nhiều viện bảo tàng, và các lâu đài tráng lệ
với các tác phẩm nghệ thuật đã làm cho mọi người phải
say sưa, lưu luyến. Phong cảnh của nước Ý thực là hữu
tình nên đã khiến cho con người yêu mến thiên nhiên.
Người dân tại nơi đây không làm việc như một cái máy,
không sợ quyền hành, không bị ràng buộc vào các điều lệ
nhân tạo gò bó mà trái lại, tất cả mọi người đều cởi mở,
vui vẻ và hồn nhiên.
Tại Milan, nghề điện đã không giúp được cho gia đình
Einstein sung túc. Ông Hermann phải bảo con trai đi kiếm
một việc làm nuôi thân. Albert tính rằng để có thể tiếp
tục sự học, điều hay nhất là cậu xin vào một trường nào
cấp học bổng. Vì không tốt nghiệp từ Gymnasium, Albert
không thể nào xin lên đại học được, vả lại cậu khá về
toán học nên một trường kỹ thuật sẽ hợp với cậu hơn.
2- Lúc trưởng thành.

Tại châu Âu vào thời kỳ đó, ngoài các trường kỹ thuật
của nước Đức ra, trường Bách Khoa tại Zurich là nơi danh
tiếng. Trường này thuộc Liên Bang Thụy Sĩ là một nước có
nền chính trị trung lập ở châu Âu. Các sinh viên ngoại
quốc nào không thể theo đuổi sự học tại nước mình vì lý
do chính trị, có thể tiếp tục sự học tại nơi đây. Vì vậy
trong trường Bách Khoa, số sinh viên nước ngoài cũng khá
đông. Muốn vào trường, sinh viên phải qua một kỳ thi
tuyển. Einstein cũng nộp đơn dự thi nhưng chàng bị rớt:
chàng thiếu điểm về môn sinh ngữ và vạn vật, tuy rằng
bài toán của chàng thừa điểm. Thực vậy, sự hiểu biết của
Einstein về Toán đã vượt hơn các bạn.
Sau khi thi rớt, Einstein bắt đầu lo ngại. Cái viễn ảnh
đen tối hiện lên trong trí óc chàng. Cuộc mưu sinh của
cha chàng tại nước Ý cũng gặp nhiều trắc trở. Einstein
tự trách đã nông nổi bỏ sang nước Ý và hối tiếc sự học
tại Gymnasium khi trước, tuy bó buộc thực nhưng đủ bảo
đảm cho tương lai. Nhưng may mắn cho Albert, bài làm
xuất sắc về Toán của chàng đã khiến cho viên giám đốc
trường Bách Khoa chú ý. Ông ta khuyên chàng nên theo học
tại một trường khá nổi danh thuộc tỉnh Aarau. Einstein
tự hỏi liệu nơi mình sẽ tới học có giống như các trường
tại nước Đức không? Cái hình ảnh cũ của ký túc xá hồi
còn nhỏ khiến cho chàng sợ hãi lối sống cũ và phân vân
trước khi bước vào một nơi học mới. Bất đắc dĩ, Einstein
đành phải nhận lời.
Khi tới Aarau, Einstein đã ngạc nhiên hết sức: tất cả
các điều ước đoán của chàng khi trước đều sai hết. Nơi
đây không có điều gì giống Gymnasium của nước Đức. Tinh
thần của thầy trò nơi đây khác hẳn: kỷ luật sắt không
có, giáo sư cố công hướng dẫn học sinh biết cách suy
nghĩ và tự làm việc. Các bậc thầy đều là những người cởi
mở, luôn luôn tiếp xúc với học sinh, bàn bạc cùng cho họ
những lới khuyên bảo chân thành. Tinh thần học hành tại
nơi đây đã theo đường lối dân chủ thì phương pháp học
tập cũng được canh tân theo đà tiến bộ. Học sinh được
làm lấy các thí nghiệm về Vật Lý và Hóa Học, được xem
tận mắt các máy móc, các dụng cụ khoa học. Còn các môn
học khác cũng được giảng dạy bằng cách căn cứ vào các
dẫn chứng cụ thể, rõ ràng.
Sau một năm theo học tại Aarau, Einstein tốt nghiệp
trung học và được nhận vào trường Bách Khoa Zurich mà
không phải qua một kỳ thi nào khác. Trường kỹ thuật này
đã cho chàng các sự hiểu biết căn bản về Vật Lý và Toán
Học. Ngoài ra, vào các thời giờ nhàn rỗi, Einstein
thường nghiền ngẫm các tác phẩm khoa học của Helmholtz,
Kirchhoff, Boltzmann, Maxwell và Hertz.
Càng chú tâm đọc sách Vật Lý , Einstein lại càng cảm
thấy cần phải có trình độ hiểu biết rất cao về Toán Học.
Tuy nhiên, vài giờ Toán tại trường đã không khiến cho
chàng chú ý, phải chăng do giáo sư toán thiếu khoa sư
phạm? Thực vậy, ông Hermann Minkowski, Giáo Sư Toán, đã
không hấp dẫn được sinh viên vào các con số tuy rằng ông
là một nhà toán học trẻ tuổi nhưng xuất sắc. Dù sao,
những ý tưởng về các định luật Toán Học do ông
Minskowski đề cập cũng đã thấm nhập ít nhiều vào trí óc
của Einstein và giúp cho chàng phát triển về môn Vật Lý
sau này.
Tại nước Ý, cơ xưởng của ông Hermann chỉ mang lại một
nguồn lợi nhỏ nên Albert Einstein sống nhờ vào tiền trợ
cấp của một người trong họ. Hàng tháng chàng nhận được
100 quan Thụy Sĩ. Tuy món tiền này quá nhỏ nhưng
Einstein phải để dành 20 quan, hy vọng sau này sau khi
tốt nghiệp, chàng có đủ tiền xin được quốc tịch Thụy Sĩ.
Vì cách tiết kiệm này, chàng phải chịu cảnh thiếu thốn
và không hề biết tới sự xa hoa.
Từ thuở nhỏ, Einstein đã ít chơi đùa cùng các đứa trẻ
trong xóm thì ngày nay khi sống tại trường đại học,
chàng cũng vẫn là một sinh viên dè dặt. Tuy vậy, không
phải Einstein không có bạn thân. Chàng hay tiếp xúc với
Friedrich Adler. Anh chàng này là người Áo, con một nhà
lãnh tụ phe Dân Chủ Xã Hội thuộc thành phố Vienna và ông
này không muốn con trai của mình dính dáng tới chính trị
nên đã gửi Adler tới Zurich theo học. Einstein còn có
một cô bạn gái rất thân: cô Mileva Maritsch, người Hung.
Cô này thường trao đổi bài vở với Einstein.
Vào năm 1901, Albert Einstein tốt nghiệp trường Bách
Khoa và cũng trở nên công dân Thụy Sĩ. Đối với những
sinh viên mới ra trường và có năng khiếu về Khoa Học thì
ước mơ của họ là làm thế nào có thể xin được một chân
giúp việc cho một giáo sư đại học nhiều kinh nghiệm rồi
nhờ vậy có thể học hỏi thêm những phương pháp khảo cứu
khoa học của ông ta. Einstein cũng mong ước như thế
nhưng các đơn xin đều bị khước từ. Không xin được việc
tại trường đại học, Einstein quay sang việc nạp đơn vào
một trường trung học, nhưng mặc dù có nhiều thư giới
thiệu nồng nàn, mặc dù xuất thân từ trường Bách Khoa và
có quốc tịch Thụy Sĩ, Einstein vẫn không xin được việc
làm. Phải chăng người ta đã không coi chàng như một
người dân chính gốc mà chỉ là một công dân trên giấy tờ?
Chờ mãi thì phải có việc: một người bạn của Einstein
giới thiệu chàng với ông Haller, giám đốc Phòng Văn Bằng
ở Berne. Văn Phòng này đang thiếu một người thạo về các
phát minh khoa học trong khi Einstein lại chưa có một
kinh nghiệm gì về kỹ thuật cả. Nhưng sau một thời gian
thử việc, Einstein được chấp nhận. Bổn phận của chàng là
phải xem xét các bằng sáng chế: công việc này không phải
là dễ vì các nhà phát minh thường là các tài tử, không
biết diễn tả những điều khám phá theo thứ tự, rõ ràng.
Nhờ làm việc tại Phòng Văn Bằng, Einstein được lãnh
lương 3 ngàn quan. Cuộc sống tương đối dễ chịu khiến
chàng nghĩ đến việc hôn nhân. Einstein cưới cô bạn gái
cũ là Mileva Maritsch tuy nàng hơn chàng vài tuổi.
Mileva là người có tư tưởng hơi tiến bộ lại không biết
cách sống hòa mình với các người chung quanh, vì vậy gia
đình Einstein không được hạnh phúc lắm. Ít lâu sau, hai
người con trai ra đời, đứa con cả cũng mang tên Albert
như cha. Einstein đã tìm được hạnh phúc bên hai đứa con
kháu khỉnh.
3- Thời kỳ khảo cứu
Khoa Học.
Sau nhiều tháng sống tại Berne, Albert Einstein thấy
rằng các công việc tại Phòng Văn Bằng càng ngày càng trở
nên dễ dàng hơn, vì vậy ông có đủ thời giờ để tâm tới
môn Vật Lý Toán Học.
Tuy Einstein ưa thích lối sống cô đơn nhưng không phải
là ông không có cảm tình với các người chung quanh. Tư
tưởng cởi mở của ông khiến cho ông có nhiều bạn. Sự vui
đùa và cách châm biếm khiến ông luôn luôn vui nhộn và
đầy nhựa sống. Nụ cười hiện ra trên môi làm cho mọi
người phải chú ý đến ông. Người nào đã sống gần Einstein
đều nhận thấy rằng sự cười đùa của ông là một nguồn vui,
song đôi khi nó còn là sự chỉ trích. Hình như Einstein
có cảm tình với bất cứ ai, nhưng ông lại không thích đi
tới sự quá thân mật khiến cho ông thiếu tự do. Phải
chăng sự ưa thích sống cô đơn để hy sinh hoàn toàn cho
Khoa Học đã làm cho Einstein xa cách các bạn bè trong
khi nội tâm của ông lại có tình cảm với tất cả mọi
người. Mãi về sau, vào năm 1930, Einstein đã phân tích
cái trạng thái tình cảm đó như sau: “vì tôi say mê sự
công bằng và nhiệm vụ xã hội nên tôi đã phạm phải một
điều tương phản kỳ lạ khá quan trọng là tôi thiếu sự hợp
tác trực tiếp với mọi người. Tôi là một con ngựa
tự thắng
lấy yên cương".
 |
 |
 |
Ernest
Mach (1838-1916)
Nhà vật
lý và triết gia Áo |
Emmanuel Kant |
Schopenhauer |
Tại Berne, ngoài thời giờ khảo cứu về Toán và Vật Lý
Học, Einstein còn để tâm đến Triết Học. Vài triết gia đã
giúp ông học được các nguyên tắc đại cương của phương
pháp luận lý. Chính phương pháp này cho phép các nhà bác
học diễn tả những điều nhận xét trực tiếp thành các định
luật rõ ràng. David Hume, Ernest Mach,
Henri
Poincaré và
Emmanuel Kant thuộc vào hạng các triết gia kể trên. Còn
Schopenhauer và
Nietzsche khiến Einstein chú ý vì các vị
này đã phát biểu các tư tưởng đôi khi không cần thiết,
đôi khi tối nghĩa bằng các câu văn đẹp đẽ, gợi lên cho
người đọc những cảm xúc, khiến cho người ta phải mơ
màng, suy nghĩ, chẳng khác gì một người biết nhạc được
thưởng thức vài khúc tiết tấu nhịp nhàng. Tuy nhiên,
David Hume
(1711-1776, người Anh) vẫn là người được Einstein ưa thích nhất.
Nhiều người biết rằng triết gia gốc Anh này là người
khởi xướng phương pháp luận lý thực nghiệm và cách trình
bày suy luận của ông ta thực là sáng sủa, phân minh.
Suốt trong 5 năm trường, từ 1901 tới 1905, các cố gắng
tư tưởng của Einstein đã mang lại kết quả: ông đã nghiên
cứu và lập ra định luật liên kết thời gian và không
gian. Vào một buổi sáng tháng 6 năm 1905, viên chủ nhiệm
tạp chí Annalen der Physik tại Munich tiếp một thanh
niên tóc đen không chải, quần áo cũ kỹ. Thanh niên đó
đưa viên chủ nhiệm một cuộn giấy 30 trang và yêu cầu
đăng trên tạp chí khoa học.
Albert Einstein đã trình bày “Thuyết Tương Đối” của mình
trên tờ báo vật lý Annalen der Physik. Ông đã đề cập đến
sự tương quan của năng lượng và khối lượng bằng một
phương trình lừng danh nhất của Khoa Học: E = MC2. Nói
một cách đại cương, phương trình trên có nghĩa là năng
lượng của vật chất thì bằng khối lượng nhân với bình
phương tốc độ của ánh sáng. Theo lý thuyết này, nếu
người ta biết một phương pháp kỹ thuật, thì với một ký
than gỗ, hay một ký đá sỏi, hay một ký mỡ heo, người
ta có thể rút ra một năng lượng tương đương với 25
ngàn
triệu (tỷ) kilowatt-giờ điện lực
[1], nghĩa là số
điện lực sản xuất thời bấy giờ của tất cả các nhà máy
phát điện tại Hoa Kỳ chạy suốt trong một tháng mà không
nghỉ.
Sau khi bài khảo cứu của Albert Einstein được phổ biến
tại châu Âu, thì Henri Poincaré ở Pháp, Hendrik Lorentz
ở Hòa Lan, Max Planck ở Đức, cùng tất cả các đầu óc khoa
học vĩ đại thời bấy giờ đều sửng sốt và đã viết thư hỏi
tòa báo : - “Ai đã viết bài báo đó ? Có phải là một giáo
sư đại học không? ". Tòa báo đã trả lời : - “Một thanh
niên Do Thái, quốc tịch Đức, 26 tuổi, giúp việc tại
Phòng Văn Bằng tại Berne”.
Bài khảo cứu của Einstein đã làm cho nhiều người thắc
mắc, nghi ngờ. Vào thời kỳ đó, ít người đo lường nổi sự
quan trọng lớn lao của học thuyết Einstein nhưng dù sao,
lý thuyết đó đã cách mạng hóa quan niệm của con người về
Vũ Trụ. Henri Poincaré khi đó đã viết về Albert Einstein
như sau: “Ông Einstein là một trong các đầu óc khoa học
phi thường mà tôi chưa từng thấy. Đứng trước một bài
tính vật lý, ông Einstein đã không bằng lòng với các
nguyên tắc cổ điển sẵn có, mà còn nghiên cứu tất cả các
trường hợp có thể nhận được”.
Thật là kỳ lạ khi công trình khảo cứu có giá trị lớn lao
đó lại do một nhân viên xoàng của Phòng Văn Bằng phổ
biến. Người ta vội mời ông giảng dạy tại trường Đại Học
Zurich. Mọi người đều biết rằng tại các trường Đại Học,
trước khi trở thành một giáo sư thực thụ, ai cũng phải
trải qua thời kỳ của một giảng sư. Einstein nhận giữ
chân này theo lời khuyên của Giáo Sư Kleiner.
Chân Giáo Sư môn Vật Lý Lý Thuyết tại trường Đại Học
Zurich bị trống. Vì vấn đề chính trị, hội đồng quản trị
đại học mời Friedrich Adler, giảng sư, lên phụ trách,
nhưng Adler đã từ chối và nói: - “Nếu có thể có một
người như Einstein vào Đại Học của chúng ta thì việc gọi
đến tôi thật là vô lý. Tôi thú nhận rằng trình độ hiểu
biết của tôi không thấm vào đâu với Einstein. Chúng ta
không nên vì vấn đề chính trị mà không mời một người có
thể làm cho mức hiểu biết tại bậc đại học được cao hơn".
Vì vậy vào năm 1909, Einstein được bổ nhiệm làm “Giáo Sư
Đặc Cách” của trường Đại Học Zurich.
Tuy bước lên một địa vị cao hơn trong xã hội, nhưng lúc
nào Einstein cũng thản nhiên, bình dị. Cuộc sống mới này
tuy khá hơn trước về mặt tài chính, nhưng bà vợ ông vẫn
phải chứa trọ các sinh viên để kiếm thêm tiền. Trước
tình trạng vật chất còn eo hẹp đó, Einstein đã có lần
nói đùa như sau: “Trong Thuyết Tương Đối của tôi, tôi đã
đặt rất nhiều đồng hồ tại khắp nơi trong Vũ Trụ nhưng
thực ra, tôi thấy không có đủ tiền mua nổi một chiếc để
đặt ngay trong phòng của chính mình”. Thời gian sinh
sống tại Zurich thật là phẳng lặng, hai ông bà Einstein
cùng hồi tưởng thời sinh viên và coi cái tỉnh này như
một tổ quốc nhỏ bé, nhưng yêu dấu.
Năm 1910, Đại Học Đường thuộc Đức tại Prague, Tiệp Khắc,
thiếu một chân giáo sư vật lý lý thuyết. Đây là trường
đại học cổ nhất của miền Trung Âu. Trong hậu bán thế kỷ
19, các giáo sư Tiệp và Đức cùng nhau giảng dạy, nhưng
rồi cuộc tranh chấp chính trị đã khiến cho nhà cầm quyền
quyết định rằng từ năm 1888, trường đại học này được
phân ra làm hai, một đại học Đức, một đại học Tiệp. Sự
phân chia đó đã làm cho các giáo sư và sinh viên của hai
đại học đường không liên lạc gì với nhau và còn hiềm
khích nhau nữa.
Theo nguyên tắc, trường đại học đề nghị các giáo sư vào
các ghế trống, còn ông Bộ Trưởng Giáo Dục chỉ định vị
được tuyển dụng nhưng thực ra vào thời kỳ đó, quyền chọn
lựa thuộc về nhà vật lý học Anton Lampa, một người đã có
công trong việc canh tân phương pháp giáo dục. Lúc bấy
giờ có 2 người đủ khả năng: Gustave Jaumann, giáo sư
thuộc Viện Kỹ Thuật Brno và Albert Einstein là người thứ
hai. Theo quy luật, thứ tự các người được chọn lựa phải
căn cứ vào công cuộc khảo cứu khoa học của họ, và vì lý
thuyết của Einstein được nhiều người biết tới, Einstein
được xếp lên trên Jaumann. Nhưng cuối cùng, ông Bộ
Trưởng Giáo Dục lại trao chức vụ cho Jaumann, vì ông ta
không muốn bổ nhiệm một người ngoại quốc. Jaumann từ
chối. Chức vụ về tay Einstein.
Phải rời bỏ Zurich để đến một nơi xa lạ là một điều gia
đình Einstein không muốn, ông do dự nhưng cuối cùng nhận
lời. Sống tại Prague, Einstein thường gặp gỡ Ernest
Mach, Viện Trưởng Đại Học và cũng là một nhân vật nổi
danh về một ngành Triết Học. Trong thời gian giảng dạy
tại Prague, ngoài việc xây dựng lý thuyết về trọng lực,
Einstein còn để tâm tới lý thuyết về Quanta ánh sáng của
Max Planck. Thuyết ánh sáng truyền theo làn sóng của
Augustin Fresnel và thuyết Điện Từ của James Maxwell đã
không thể cắt nghĩa được hiện tượng Quang Điện
(photoelectric effect). Einstein liền dùng công cuộc
khảo cứu của Planck vào các điều suy đoán của mình.
Vào năm 1911, một hội nghị khoa học nhỏ được tổ chức tại
Bruxelles, nước Bỉ. Người đứng ra tổ chức là nhà triệu
phú Ernest Solvay. Ông này là một kỹ nghệ gia về Hóa
Chất và đã thành công lớn. Tuy giàu có nhưng Solvay vẫn
yêu thích Khoa Học và có khảo cứu chút ít về Vật Lý.
Solvay muốn được nhiều người chú ý đến công lao của
mình.
Trong số các bạn, nhà triệu phú Solvay thường giao du
với Walther Nernst, một nhà hóa học danh tiếng. Walter
Nernst nghĩ đến ý thích của Solvay và đến ích lợi của
Khoa Học, nên đề nghị với nhà triệu phú chịu phí tổn cho
một hội nghị gồm các nhà bác học danh tiếng của châu Âu
và các vị này sẽ bàn luận về các trở ngại của “Nền Vật
Lý Mới” rồi nhân dip này, Solvay có thể trình bày lý
thuyết của mình. Ernest Solvay ưng thuận. Hội nghị được
tổ chức. Sir Ernest Rutherford đại diện cho Anh Quốc,
Henri Poincaré và Paul Langevin thay mặt cho Pháp Quốc,
Max Planck và Walther Nernst đại diện cho Đức Quốc, H.A.
Lorentz là đại biểu của Hòa Lan, xứ Ba Lan được thay mặt
bởi bà Marie Curie khi đó đang làm việc tại Paris, còn
Albert Einstein đại diện cho Áo Quốc cùng với Franz
Hasenohrl.

Hội nghị Solvay
Hội nghị lấy tên là Solvay và diễn ra trong vòng thân
mật. Không ai chỉ trích lý thuyết của ông Solvay cả, tất
cả đều tránh vì muốn tỏ lòng biết ơn và lịch sự đối với
chủ nhân. Ngoài ra, trong cuộc bàn cãi, mọi người đều
kinh ngạc về những ý tưởng mới lạ của Einstein. Sau hội
nghị, Solvay nhận rõ chân giá trị của buổi gặp gỡ nên về
sau, ông ta thường tổ chức các buổi họp khác mà vai
chính là Einstein.
Năm 1912, sau một thời gian sống tại Prague, Einstein
lại được giấy mời giữ chân giáo sư môn vật lý lý thuyết
tại trường Bách Khoa Zurich. Trường này thuộc quyền của
Liên Bang Thụy Sĩ nên rất lớn, và những kỷ niệm của tuổi
trưởng thành làm cho Einstein cũng muốn quay về nơi chốn
cũ. Hơn nữa, bà Mileva vợ ông, lại cảm thấy khó chịu khi
sống tại Prague và mong muốn trở lại Zurich, tổ quốc nhỏ
bé của bà. Vì vậy Einstein cùng gia đình rời Prague.
Sự ra đi khỏi thành phố Prague của Einstein làm cho
nhiều người xao động. Ai cũng muốn lưu giữ danh tiếng
của nhà bác học cho địa phương của mình. Các báo chí cho
rằng các bạn của ông đã ngược đãi Einstein và bắt ông
xin đổi đi. Có người lại nói vì ông gốc Do Thái, nhà cầm
quyền không đối xử tử tế với ông khiến cho Einstein phải
từ giã Prague. Đúng ra, các điều kể trên trái với sự
thực. Tại Prague, Einstein cảm thấy dễ chịu và người dân
nơi này với tính tình cởi mở, đã làm cho ông quý mến họ.
Tới cuối năm 1912, Albert Einstein trở thành Giáo Sư
Thực Thụ của trường Bách Khoa Zurich và mang lại danh
tiếng cho đại học này. Einstein làm việc không ngừng.
Các lý thuyết mới về Toán của các nhà toán học Ý Đại Lợi
Ricci và Levi-Civita đã làm cho Einstein chú ý đến. Ông
cùng với Marcel Grossmann, một người bạn cũ, khảo cứu
các phương pháp toán học mới ngõ hầu có thể dùng cho lý
thuyết về Trọng Lực.
Vào năm 1913, một hội nghị các nhà bác học Đức được tổ
chức tại Vienna. Người ta mời Einstein tới trình bày lý
thuyết về Trọng Lực của ông. Trong buổi thuyết trình
này, ai cũng phải sửng sốt về các ý tưởng mới mẻ, quá kỳ
dị của Einstein. Mọi người trông chờ ở ông một lý thuyết
tổng quát, tân kỳ.
Berlin, thủ đô của nước Đức, dần dần trở nên Trung Tâm
Chính Trị và Kinh Tế của châu Âu. Hơn nữa, người Đức còn
muốn thành phố này là nơi tập trung Khoa Học và Nghệ
Thuật. Riêng về Khoa Học, muốn cho bộ môn này phát
triển, cần phải có các viện khảo cứu và nhiều nhà bác
học danh tiếng. Tại Hoa Kỳ, ngoài các trường đại học ra,
còn có các viện khảo cứu được các nhà tư bản như
Rockfeller, Carnegie, Guggenheim trợ giúp. Hoàng Đế
Wilhelm II cũng muốn các công chình tương tự được thực
hiện tại nước mình. Vì thế các kinh tế gia, kỹ nghệ gia
và các thương gia Đức cùng nhau góp công, góp của vào
việc thành lập Viện Kaiser Wilhelm Gesellschaft. Được
tuyển làm nhân viên của Viện là một danh dự lớn lao, lại
được danh hiệu Viện Sĩ, được mặc y phục lộng lẫy và đôi
khi được tham dự các buổi yến tiệc với nhà vua.
Người ta đang tìm kiếm các nhà bác học lỗi lạc và sự
chọn lựa được căn cứ theo giá trị khoa học của từng
người. Vào thời kỳ đó, Max Planck và Walther Nernst là
hai nhân vật dẫn đầu về Khoa Học của nước Đức. Hai ông
này khuyên vị Giám Đốc Viện Wilhelm, ông Adolphe von
Harnack, gửi giấy mời Albert Einstein, một ngôi sao sáng
đang lên của nền trời Vật Lý Mới. Einstein cũng được
Planck và Nernst khuyên nhủ nên nhận lời để sau này có
thể trở nên nhân viên của Hàn Lâm Viện Hoàng Gia Phổ,
một danh dự mà các giáo sư Đại Học Đường Berlin đều ao
ước. Einstein được mời vào Viện Hoàng Đế Wilhelm thực.
Công việc của Einstein trong Viện sẽ là nghiên cứu theo
ý riêng của mình. Ông lại được mời làm Giáo Sư Đại Học
Đường Berlin, tại nơi này công việc giảng dạy nhiều hay
ít tùy ý. Việc quản trị đại học đường cùng với việc
trông coi các kỳ thi, ông sẽ không phải để tâm tới.
Einstein được hoàn toàn tự do khảo cứu.
Riêng đối với Einstein, ông cũng phân vân trước việc trở
lại Berlin. Cái xã hội đó không hợp với thâm tâm của ông
thực, nhưng địa vị cao sang sẽ giúp cho cuộc sống hàng
ngày của ông dễ chịu hơn. Nhà bác học bị giằng co giữa
hai ý tưởng: quan niệm sống cho Khoa Học, cho bản thân
và ý tưởng về một chủ nghĩa xã hội hợp đạo lý. Ngoài ra
tại Berlin, Einstein còn có cô em họ, cô Elsa. Ông có
gặp cô này vài lần và thấy có cảm tình với nàng. Cuộc ly
dị cách đây vài năm với cô Mileva vì bất đồng ý kiến ở
vài điểm, đã khiến Einstein nghĩ tới việc lập lại một
gia đình mới. Chính điều này cũng góp đôi phần vào quyết
định của Einstein trở lại thành phố Berlin. Einstein từ
bỏ Zurich vào cuối năm 1913.
Đúng vào năm 34 tuổi, Albert Einstein là nhân viên của
Viện Hàn Lâm Berlin và tượng trưng cho một thanh niên
sống giữa các đồng viện hầu hết đều cao tuổi hơn, đều là
những bậc lão thành trong cuộc sống đại học. Những vị
này thường tự cho là quan trọng, trong khi cách cư xử
của Einstein lại dễ dàng, bình dị. Tại Berlin, vài vật
lý gia thường họp với nhau để bàn luận các vấn đề Khoa
Học. Trong các buổi thảo luận đó, ngoài Einstein, Planck
và Nernst ra, người ta còn thấy Max Von Laue, Jacques
Franck, Gustave Hertz, cô
Lise Meitner
và sau này có
Erwin Schrödinger, người đã có công về Thuyết Lượng Tử
(theorie quantique).
Einstein sống tại Berlin chưa được một năm thì Thế Chiến
Thứ Nhất bùng nổ. Một số các nhà bác học thấy rằng mình
cũng phải góp phần với các chiến sĩ ngoài mặt trận. Họ
liền hoạt động trong phạm vi của họ, tức là nghiên cứu
và chế tạo các dụng cụ chiến tranh. Walther Nernst chế
tạo hơi ngạt, Fritz Haber, người bạn thân của Einstein,
nghiên cứu việc điều chế ammoniac bằng cách dùng khí
nitrogen rút ra từ không khí.
Trong thời gian sống tại Berlin này, Einstein đã gặp cô
Elsa, một người em họ, một người bạn từ thuở nhỏ. Cô này
lúc bấy giờ góa chồng và có 2 đứa con riêng, song cô là
người tính tình vui vẻ, lại đảm đang. Hai người thành
hôn với nhau và sống một cuộc đời tương đối đầy đủ,
nhưng hạnh phúc.
4- Hoạt động chính
trị.
Từ trước, Albert Einstein vẫn ghét chiến tranh. Ông cho
phổ biến các ý tưởng của mình. Einstein đã diễn thuyết
tại nhiều nơi như Hòa Lan, Tiệp Khắc, Áo, vừa giảng giải
về lý thuyết vật lý, vừa biện họ cho ý tưởng hòa bình.
Vào thời bấy giờ tại châu Âu, các người Do Thái thấy
rằng cần phải liên kết dòng giống của họ hiện đang sống
rải rác khắp bốn phương. Một phong trào phục hưng quốc
gia Do Thái đang thành hình. Vào năm 1921, Chaim
Weizmann, người lãnh đạo phong trào Do Thái Tự Trị
(Zionism) có gửi giấy mời Einstein cùng sang Hoa Kỳ vận
động cho việc tái lập một quốc gia Do Thái tại
Palestine. Weizmann muốn dùng danh tiếng của Einstein để
khiến các nhà triệu phú Do Thái tại Hoa Kỳ giúp tiền
thành lập một trường đại học tại thủ đô mới. Einstein
nhận lời.
Khi Einstein đến New York vào tháng 5 năm 1921, các
phóng viên ùa tới chụp ảnh và phỏng vấn ông. Họ hỏi rất
nhiều về Thuyết Tương Đối của ông đến nỗi ông tưởng mình
bị vào một kỳ thi vấn đáp. Các nhà báo cũng hỏi bà Elsa
xem bà có hiểu gì về lý thuyết của chồng không, thì bà
trả lời: “Ồ không, tuy rằng ông Einstein đã cắt nghĩa
cho tôi nhiều lần, song sự không hiểu rõ đó không ảnh
hưởng tới hạnh phúc của chúng tôi”.
Albert Einstein và vợ đi qua đám người hiếu kỳ đứng đón
tại bến tầu. Tay phải ông cầm tẩu thuốc lá, tay trái
xách chiếc đàn vĩ cầm, hình ảnh này khiến cho nhiều
người tưởng lầm ông là một nhạc sĩ tài ba đến trình diễn
tại New York, mà không phải là một nhà bác học đã làm
đảo lộn quan niệm của con người về Vũ Trụ.
Tại Hoa Kỳ, Weizmann và Einstein được tiếp đón rất trịnh
trọng. Tuy hai nhân vật này chỉ đi bênh vực cho một chủ
nghĩa Do Thái, nhưng họ được coi như hai người đại diện
thực sự cho dân tộc Do Thái vậy. Einstein đã diễn thuyết
tại nhiều nơi bằng tiếng Đức, vì lúc đó ông không thạo
tiếng Anh lắm. Vào ngày 9 tháng 5 năm đó, Einstein được
trao tặng văn bằng Tiến Sĩ Danh Dự của trường Đại Học
Princeton và vị Viện Trưởng đã ca tụng bằng tiếng Đức
“một Christopher Columbus của Khoa Học, đã băng qua các
đại dương của tư tưởng mới lạ”. Sau khi rời Hoa Kỳ,
Einstein sang nước Anh rồi trở về Berlin vào tháng 7 năm
1921.
 |
 |
Paul Painlevé |
Paul Langevin |
Cuộc hành trình của Albert Einstein đã khiến cho sự giao
hảo giữa các nhà bác học Mỹ, Anh và Đức được khả quan
hơn. Vì vậy, vài nhà bác học Pháp đã đề nghị mời
Einstein sang Paris, tuy rằng tại nơi đây, người ta chưa
quên mối thù Pháp-Đức cũ. Trong số các người chủ trương
ý tưởng trên, có Paul Painlevé và Paul Langevin là hai
nhà toán học. Langevin đề nghị dùng một phần lợi tức của
trường Collège de France để mời Einstein sang Pháp.
Painlevé tán thành nồng nhiệt trong khi nhiều nhà bác
học Pháp lại phản đối ra mặt.
Tại nước Đức, các nhóm tương tự cũng muốn bắt buộc
Einstein từ chối nhưng vào thời kỳ đó, cả hai nhóm trên
tại Pháp và Đức đều chưa đủ mạnh nên chưa thể ngăn trở
cuộc hành trình. Einstein nhận lời sang Pháp. Langevin
cùng Charles Nordmann, một nhà thiên văn, tới Jeumont
gần biên thùy nước Bỉ, để đón Einstein. Thời đó, một
nhóm thanh niên ái quốc Pháp định tổ chức một cuộc phản
đối tại nhà ga. Langevin được tin đó do cảnh sát cho
biết. Ông ta quyết định cho xe lửa chở Einstein ngừng
tại một ga nhỏ, không có người đứng đón, rồi dùng xe
điện ngầm về khách sạn có ngờ đâu rằng trong khi đó, con
trai ông và các sinh viên khác đang mỏi mắt trông chờ
được ngưỡng mộ nhà đại bác học tại ga chính.
Albert Einstein tới Paris vào ngày 22-3-1922. Ngày 31,
ông diễn thuyết tại Collège de France. Chỉ những người
nào yêu thích Khoa Học và không có ý định biểu tình phản
đối mới nhận được giấy mời. Ngày hôm đó, Painlevé là
người đến trước tiên và đích thân coi sóc việc kiểm
soát. Tại Đại Giảng Đường, nơi mà các đại triết gia
Ernest Renan và Henri Bergson đã từng diễn giảng hôm đó
đông chật thính giả. Người ta thấy có mặt bà Marie
Curie, ông Henri Bergson và nhiều nhân vật danh tiếng.
Einstein đã dùng tiếng Pháp để thuyết trình. Giọng nói
chậm chạp của ông, đôi khi lạc vào cách phát âm của
tiếng Đức, đã làm cho bài diễn giảng thêm phần quyến rũ
và bí ẩn.
Sự có mặt của Einstein tại Paris khiến cho Hàn Lâm Viện
Pháp chia làm hai phe phản đối nhau, trong khi tại nước
Đức, một số nhà bác học cũng không bằng lòng. Tuy nhiên,
Einstein chỉ nghĩ đến lợi ích chung của Khoa Học và nghĩ
tới sự giao hảo giữa các dân tộc trên Thế Giới. Sau khi
từ Pháp về, Einstein lại sang Thượng Hải vào ngày
15-11-1922, rồi sang Nhật Bản và ở tại nơi đó cho tới
tháng 2 năm sau mới trở lại Palestine, rồi du lịch qua
Tây Ban Nha. Khi Einstein sắp đến châu Á thì vào ngày
10-11-1922, Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển quyết định
trao tặng ông Giải Thưởng Nobel về Vật Lý Học.
Thuyết Tương Đối của Albert Einstein tuy được nhiều
người biết đến nhưng vào thời kỳ này sự tranh luận còn
đang sôi nổi, người ta nghi ngờ không biết lý thuyết đó
có phải là một phát minh khoa học hay không. Bởi vì
Alfred Nobel quy định rằng Giải Thưởng phải được trao
tặng cho nhân vật nào đã phát minh ra thứ gì hữu ích cho
Nhân Loại, nên Hàn Lâm Viện Thụy điển đã phân vân trước
công trình của Einstein về Khoa Học, rồi sau cùng quyết
định như sau: “Giải Thưởng được trao cho Albert Einstein
về định luật Quang Điện và công trình của ông trong địa
hạt Vật Lý Lý Thuyết”.
Từ lâu, các nhà vật lý đều nhận thấy rằng khi cho một
loại ánh sáng có tần số đủ cao chiếu vào một miếng kim
loại đặc biệt, sẽ có một dòng điện phát ra. Hiện tượng
điện học do ánh sáng mà có này được gọi là hiện tượng
Quang Điện. Lý thuyết ánh sáng truyền theo làn sóng của
Augustin Fresnel rồi Thuyết Điện Từ của James Maxwell
đều không thể cho biết căn nguyên và đặc tính của hiện
tượng trên. Einstein đã dùng lý thuyết của Max Planck về
Quang Tử (quanta) dẫn vào trong định lý về ánh sáng và
đặt giả thuyết rằng trong làn sóng ánh sáng có các quang
tử chứa năng lượng. Nhờ giả thuyết này, ông đã tìm ra
được định luật Quang Điện và định luật này cho phép các
nhà khoa học cắt nghĩa được các hiện tượng có bức xạ.
Vào tháng 7 năm 1923, Albert Einstein sang Thụy Điển
nhận giải thưởng và diễn thuyết trước một số đông các
nhà bác học tại Goteborg. Vua Thụy Điển cũng tới dự.
Trong năm 1925, Albert Einstein có lần đi Nam Mỹ diễn
thuyết, còn các năm sau, ông đều sống tại thành phố
Berlin. Từ tháng 3 năm 1929, gia đình Einstein bắt đầu
cảm thấy khó chịu. Einstein bị nhiều người dòm ngó và
báo chí để ý, vì vậy ông quyết định rời sang một căn nhà
bên bờ sông ngoài thành phố. Thấy vắng nhà, các báo chí
Đức lại phao lên rằng ông đã sang Hòa Lan rồi sang Mỹ.
Sống tại vùng quê, Einstein cảm thấy dễ chịu. Ông có hai
sở thích: lái thuyền và chơi đàn. Ai cũng biết rằng việc
lái thuyền buồm đòi hỏi ở người thủy thủ nhiều điều hiểu
biết về Cơ Học và Vật Lý. Khéo lợi dụng chiều gió để
điều khiển con thuyền đi cho đúng hướng mới là người lái
giỏi. Về điểm này, Einstein có đủ. Ông thường mang lương
thực xuống thuyền mà đi cho đến gần tối mới trở về.
Albert Einstein rất thích âm nhạc. Âm nhạc đối với ông
vừa là môn giải trí, vừa là nguồn an ủi và còn là sự cần
thiết nữa. Ông có tai nghe nhạc rất đúng và rất ưa thích
các nhạc phẩm của Mozart. Ông không có bàn tay đặc biệt
của các nhạc sĩ kỳ tài, các bàn tay này thường dài, dầy
dặn, với các ngón tay thon thon, song ông chơi đàn một
cách rõ ràng, đúng nhịp, không đi trước mà cũng không bỏ
qua các dấu nhạc. Trong các nhạc cụ, Einstein ưa thích
vĩ cầm. Nhiều người quý mến ông đã gửi tặng ông các nhạc
cụ do những thợ đàn danh tiếng làm, nhưng Einstein lại
ưa thích cây vĩ cầm tầm thường của Nhật Bản, hình như
cây đàn này đã cho ông nhiều kết quả tốt đẹp.
Thật là may mắn cho Einstein khi gặp được bà vợ thứ hai
này: bà Elsa. Tại Berlin, Einstein lấy riêng một căn
phòng để làm việc. Không ai được phép vào đây, ngay cả
vợ ông. Chính tại căn phòng này, ông nghiên cứu và bàn
luận với các bạn bè mà không sợ bị quấy rầy. Einstein ưa
thích được tự do, bất chấp cả bụi bậm và sự vô thứ tự
trong căn phòng làm việc. Hai điều này đã làm cho bà
Elsa luôn luôn ân hận. Bà Elsa thường chăm sóc chồng một
cách hiếm có. Bà chỉ cho phép ông mỗi ngày hút một điếu
thuốc lá. Chính thức thì ông tuân theo kỷ luật này,
nhưng trong phòng của ông lại có một hộp thuốc do các
bạn ông bỏ đầy vào. Einstein không uống rượu và không
thức khuya, sợ rằng việc làm ngày mai sẽ bị đình trệ.
Trời đã phú cho Einstein bản tính hay cười. Không bao
giờ ông quên khôi hài, ngay cả khi bị rủi ro. Có người
phàn nàn với Einstein rằng thuyết Tương Đối của ông khó
hiểu quá, Einstein liền trả lời - “Có gì là khó hiểu,
chẳng hạn như khi ta ngồi cạnh người yêu thì thấy một
giờ ngắn bằng một phút, còn nếu ta ngồi trên lò lửa hồng
thì một phút lại lâu bằng một giờ”.
Một hôm, có người hỏi Einstein: - “Ông có chắc rằng lý
thuyết của ông đúng không ?”. Einstein đáp: - “Tôi tin
chắc rằng đúng, nhưng người đời chỉ có được dẫn chứng cụ
thể vào năm 1981, khi đó tôi đã chết rồi. Khi đó nếu tôi
có lý, thì tại nước Đức người ta bảo tôi là người Đức
còn người Pháp lại bảo tôi là dân Do Thái. Nếu lý thuyết
của tôi sai, thì người Đức bảo tôi là dân Do Thái còn
người Pháp sẽ bảo tôi là dân Đức".
Einstein có thể chất tốt, tuy rằng ông bị đau dạ dầy và
yếu tim. Ông có cái đầu khác thường: tất cả khối óc hầu
như được đặt tại đằng trước và gần như ông không có hậu
chẩm (occiput). Phải chăng chỉ có cái đầu không ký xứng
này mới nghĩ ra được các ý tưởng khoa học phi thường?
Vào mùa đông năm 1930, Albert Einstein được mời tới
thành phố Pasadena, thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ,
để diễn thuyết tại Viện Kỹ Thuật C.I.T. Trong thời gian
này, Einstein có gặp nhà bác học Robert Andrews
Millikan, người đã làm cho miền California trở nên một
trung tâm danh tiếng về nghiên cứu Khoa Học. Mùa đông
năm sau, Einstein trở lại Pasedena và quay về Berlin vào
mùa xuân năm 1932, lúc mà nền Cộng Hòa Đức hấp hối. Vào
tháng 3 năm 1932, Hindenbourg thắng Hitler trong cuộc
tuyển cử và trở thành Tổng Thống của nước Đức.
Cuối năm 1932, Einstein lại sang Pasadena, Hoa Kỳ, và
vào tháng 1 năm 1933, khi ông đang ở California thì được
tin Hindenbourg mời Hitler làm Chưởng Án. Hitler chủ
trương thuyết quốc gia cực đoan và là người rất căm thù
dân tộc Do Thái, vì vậy Einstein đã phân vân trước khi
quay về Đức.
Einstein trở lại châu Âu vào đầu năm 1933 và ngụ tại
Ostende, nước Bỉ. Tại nước Đức, dân chúng đã bắt đầu kỳ
thị sắc dân Do Thái. Einstein không biết nên xin ra khỏi
Hàn Lâm Viện Phổ hay chờ xem Hàn Lâm Viện này loại trừ
ông. Cuối cùng, ông đã xin rút tên ra để tránh cho Max
Planck đỡ phải khổ tâm trục xuất một người có công khỏi
Hàn Lâm Viện theo mệnh lệnh cuồng tín của đảng chính trị
Quốc Xã.
Ít lâu sau, Hitler vu cho Einstein chứa khí giới bất hợp
pháp và gia sản của ông bị tịch biên. Hơn nữa, đảng Quốc
Xã đã treo giải thưởng chiếc đầu của Einstein với giá là
20,000 marks. Einstein quyết định không trở lại Berlin
nữa mà tìm kiến một nơi trú ẩn mới. Rất nhiều trường đại
học của châu Âu đã gửi giấy mời nhà bác học đến giảng
dạy nhưng Einstein muốn rời khỏi châu Âu. Mùa hè năm
1933, Hoa Kỳ gửi giấy mời Albert Einstein.
5- Cuộc sống tại Hoa
Kỳ.
Mấy năm về trước, vào khoảng năm 1930, ông Louis
Bamberger và bà Felix Fould, theo lời khuyên của ông
Abraham Flexner, đã bỏ ra một số tiền 5 triệu mỹ kim để
thành lập một Viện Khảo Cứu và Giáo Dục. Nhờ đó, Viện
Nghiên Cứu Cao Cấp (The Institute for Advanced Study)
được thành lập tại thành phố Princeton, tiểu bang New
Jersey. Flexner đi khắp châu Mỹ và châu Âu để tìm người
giúp việc cho Viện. Flexner có gặp nhà bác học R.A.
Millikan và được ông này nói tới Albert Einstein.
Einstein nhận được giấy mời và đành nhận lời bởi vì thời
cuộc lúc đó không cho phép ông trở lại nước Đức.
Từ năm 1938, Otto Hahn và F. Strassmann tại Berlin,
Irène Curie và Savitch tại Paris, Lise Meitner và O.
Frisch tại Copenhague đã làm nhiều thí nghiệm chứng tỏ
rằng khi bắn các nhân nguyên tử Uranium, sẽ có một nhiệt
lượng đáng kể phát ra. Rồi Enrico Fermi thành công trong
việc phá vỡ nhân nguyên tử.
Thế Chiến Thứ Hai đã bùng nổ. Nhiều nhà bác học tại châu
Mỹ lo lắng trước tình trạng tiến triển và khả năng
nguyên tử của nước Đức. Họ liền báo động các thẩm quyền
quân sự Hoa Kỳ và muốn bắt tay vào các công trình nghiên
cứu nguyên tử tương tự. Nhưng cuộc vận động của họ không
mang lại kết quả nào. Vì vậy, họ đành phải nhờ tới danh
tiếng của Albert Einstein.
Vào ngày 2-8-1939, Einstein viết thư cho Tổng Thống
Franklin Roosevelt như sau: “Thời gian vừa qua, tôi được
đọc các bản thảo về những công trình khảo cứu của E.
Fermi và L. Szilard. Những công trình này khiến tôi thấy
rằng chất Uranium có thể trở nên một nguồn năng lượng
mới rất quan trọng trong tương lai gần đây Nguồn năng
lượng này có thể được dùng vào việc chế tạo một loại bom
cực kỳ mạnh. Tôi có đầy đủ tài liệu để quả quyết rằng
Đức Quốc Xã cũng đang tiến hành công trình trên. Mỹ Quốc
phải vượt lên về phương diện này, nếu không, nền Văn
Minh sẽ bị hủy diệt”.
Nhận được thư của nhà bác học Einstein, Tổng Thống
Franklin D. Roosevelt liền chú tâm vào việc khởi thảo
một chương trình nghiên cứu Nguyên Tử Lực và Hoa Kỳ đã
mở đầu một cuộc chạy đua kinh khủng nhất trong Lịch Sử
về khí giới chiến tranh. Dự Án Manhattan, tên riêng của
dự án chế tạo bom nguyên tử, được thành hình.
Vào năm 1941, Albert Einstein nhập quốc tịch Mỹ cùng với
cô Helene Dukas và người con dâu Margot. Dukas là thư ký
của Einstein. Cô ta là người thông minh, thứ tự và cương
quyết. Khi bà Elsa qua đời vào năm 1936, Dukas đã trở
nên nội tướng và đảm đương công việc trong gia đình. Tại
thành phố Princeton, New Jersey, Einstein còn có một
người em gái là bà Maja, tới sống với ông từ năm 1939.
Cuộc sống tại Hoa Kỳ của Albert Einstein thực là bình
thản. Mỗi buổi sáng, ông mặc một bộ đồng phục da màu đen
và về mùa lạnh, ông đội một chiếc mũ len đan cũng màu
đen giống như chiếc mũ của một chàng lính thủy, với bộ
quần áo lố lăng này, ông đi bộ chừng hai cây số để đến
nơi làm việc. Người dân của thành phố Princeton thường
thấy ông đi dạo trong vườn của Viện Nghiên Cứu từ 4 giờ
sáng tinh sương, hai tay vắt sau lưng. Cảnh tịch mịch
rất cần thiết đối với ông, nhưng ông không sống như một
nhà ẩn dật. Mỗi ngày, ông nhận được hàng trăm bức thư.
Đối với các bức thư viết đúng đắn, ông đều trả lời qua
đó phản ánh lòng tế nhị của ông. Có một lần, một cậu bé
không làm nổi một bài toán ra ở trường, đã gửi đầu bài
và nhờ nhà bác học cắt nghĩa giùm. Einstein vui vẻ giảng
giải. Lại một lần khác, một nhà toán học trẻ tuổi gửi
đến cho ông một bài toán rất hay, giải rất đúng, nhưng
trong khi tính toán có hai chỗ lầm. Einstein biết rằng
các nhà thông thái thường tự phụ, nên ông viết thư trả
lời nhà toán học kể trên và báo cho biết trong bài toán
có hai chỗ lầm, nhưng ông lại không nói rõ lầm ở chỗ nào
trong bài toán.
Cũng như nhiều nhà bác học khác, Albert Einstein không
những đã tìm thấy tại Hoa Kỳ một nơi ẩn náu mà còn tìm
được một nơi làm việc và một nơi thuyết trình nữa. Trong
căn phòng làm việc tĩnh mịch, ông ngồi hàng giờ, viết
các chữ rất nhỏ hay các ký hiệu toán học. Cây viết chì
và mảnh giấy là các dụng cụ xây dựng nên công trình khoa
học của ông. Ông dùng bộ óc làm phòng thí nghiệm. Khi
mới gặp Einstein, ai cũng nhận thấy rằng ngoài mớ tóc
rối lộn và bộ ria rậm rạp, hai con mắt của ông có vẻ như
mơ màng nhưng khi nhìn lại chứa nhiều vẻ long lanh, tò
mò và kiên nhẫn.
Albert Einstein là môn đồ của chủ nghĩa tự do cá nhân.
Mặc dù lòng tin tưởng không thể lay chuyển được nơi
Thượng Đế, Einstein cũng như nhiều nhà bác học khác vẫn
là người vô thần. Vốn bản tâm quảng đại, nhưng không bao
giờ ông tham gia một tổ chức xã hội nào. Ông làm việc
cho Nhân Loại với tất cả Lương Tâm. Ông không ngừng kêu
gọi các nhà bác học khác hãy coi chừng các phát minh của
họ và luôn luôn cảnh cáo mọi người về các nguy hiểm sẽ
gặp phải. Ông đã nhắc nhở nhiều lần rằng tuy Khoa Học có
thể giúp ích cho Nhân Quần Xã Hội thực, song cũng có thể
quay lại cung cấp vũ khí cho kẻ thù của Nhân Loại và đưa
đến các kết quả tuyệt vọng. Einstein tin tưởng rằng sớm
hay muộn, con người có thể giải đáp được mọi thắc mắc về
Khoa Học, bởi vì “Tạo Hóa tuy huyền diệu thực, nhưng
không bao giờ thâm độc cả”. Chính sự tin tưởng này đã
khiến cho ông không bao giờ mất hy vọng trong các công
trình tìm tòi, nghiên cứu. Albert Einstein quyết định
hiến nốt đời mình cho việc tìm ra lý thuyết “Trường Đồng
Nhất” (Champ unitaire) cho phép liên lạc 2 thứ lực là
Điện Từ Lực và Lực Hấp Dẫn.

Bảng đen cuối cùng
Albert Einstein qua đời vào ngày 18-4-1955. Trước khi
chết, ông đã viết giấy tặng bộ óc của mình cho các nhà
nhân chủng học nghiên cứu.
Trong tiền bán thế kỷ 20, Thuyết Tương Đối của Albert
Einstein đã làm thay đổi quan niệm Khoa Học thông thường
của con người và người ta chỉ gặp các cuộc Cách Mạng Tư
Tưởng tương tự với Newton và
Darwin trong các thế kỷ
trước. Vì thế, Đại Văn Hào Bernard Shaw đã không nhầm
lẫn khi gọi Albert Einstein là “VĨ NHÂN THỨ TÁM” của Thế
Giới Khoa Học, sau
Pythagoras,
Aristotle, Ptolemy,
Copernicus,
Galileo,
Kepler
và
Newton
[1]
Công thức của Einstein: E = mc2.
Theo hệ đo lường quốc tế SI thì:
m = 1 kg
c = 3x108
m/s
Vậy E = 9x1016
J
Theo giá trị chuyển đổi: 1 J = 2.78
x10-7
kW.h
Thì 1 kg vật chất tương ứng với 25x109
kW.h tức là 25 tỉ kW.h hay 25 ngàn triệu kW.h. |