Cách
đây đã lâu, một vị giáo sư gặp tôi giữa đường, tặng tôi một cuốn giáo khoa
toán cải cách mới xuất bản do ông chủ biên, rồi hứng chí nói: “Kỳ này khối
thằng chết!”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Anh nói thế nghĩa là làm sao?”. Ông giải
thích: “Còn sao nữa, trình độ bây giờ nâng cao như thế nhiều đứa sẽ không
dạy nổi đâu”.
Xin phép không bình luận về vị giáo sư đó. Tôi chỉ muốn nói rằng thực trạng
giáo dục hiện nay bỗng làm tôi nhớ lại câu chuyện này, và tôi thấy ý kiến
của vị giáo sư đó hoàn toàn đúng: Chương trình Toán phổ thông hiện nay đã
hết sức quá tải, quá tải ngay cả đối với giáo viên chứ đừng nói tới học
sinh!
Tuy nhiên, người phải chịu nỗi khổ trăm bề do chương trình quá tải gây ra là
học sinh, và đằng sau các em là hàng triệu phụ huynh, tức là toàn xã hội!
Vậy tại sao lại chất lên vai các em một gánh nặng quá sức như thế?
Có rất nhiều lý do, nhưng nổi bật là những lý do sau đây:
1] Vội vã duy ý chí:
Nước ta là một nước đang phát triển. Nhu cầu phát triển hối thúc chúng ta
phải cải cách giáo dục, đổi mới giáo dục, để đảm bảo nhanh chóng tạo ra một
nguồn nhân lực dồi dào về số lượng, vững vàng về chất lượng, đủ sức đáp ứng
những đòi hỏi thách thức của thời đại công nghệ thông tin và nền kinh tế trí
thức. Lý tưởng của sự nghiệp cải cách giáo dục là hoàn toàn đúng đắn, không
có gì phải bàn cãi.
Tuy nhiên, do quá nóng vội và duy ý chí, nhiều biện pháp cải cách đã trở
thành “cải lùi”. Điển hình nhất là việc cải cách chữ viết và áp dụng bộ đề
thi.
Khi tôi kể cho một vài nhà khoa học và giáo dục ở Úc nghe chuyện cải cách
chữ viết của ta, họ trố mắt ngạc nhiên, hỏi: “Các bạn không còn việc gì để
làm nữa hay sao mà lại đi làm những việc vô ích đến như thế?”.
Quả thật việc cải cách chữ viết ngay từ đầu đã tỏ ra là rất vô ích. Đã có
một thế hệ học sinh được nếm trải “cuộc thí nghiệm vô tiền khoáng hậu” này.
Sự phá sản đã quá rõ ràng nhưng ngành giáo dục chưa một lần nào công khai
báo cáo trước nhân dân kết quả của việc “cải cách” này.
Bộ đề thi cũng là một “sáng kiến” độc nhất vô nhị trong lịch sử giáo dục thế
giới! Ngay năm đầu tiên được áp dụng, một cháu tôi đi thi về kể chuyện:
“Trong phòng thi của cháu các bạn mở đáp án ra chép lia lịa”. Tôi hỏi: “Thế
giám thị có bắt không?”. Cháu nói: “Không biết giám thị có biết không, nhưng
chẳng bạn nào bị bắt cả”. Chỉ sau vài năm áp dụng, nó đã bộc lộ hết mặt tiêu
cực này đến mặt tiêu cực khác, làm méo mó sự học đến mức dị dạng, làm cho sự
HỌC GIẢ trở nên phổ biến rộng khắp, đến nay nhiều hậu quả vẫn chưa thể khắc
phục hết được. Lẽ ra chỉ cần 2 hoặc 3 kỳ thi là đủ để rút kinh nghiệm, từ đó
nên quyết định ngừng áp dụng ngay, nhưng thực tế sản phẩm giáo dục vô lý đó
đã sống tới ngót 10 năm!
Cái gì đã tiếp sức cho nó, nếu không phải tinh thần chủ quan duy ý chí?
Đến nay bộ đề thi đã chết nhưng tinh thần chủ quan duy ý chí vẫn sống mạnh
mẽ. Bằng chứng là việc nhồi nhét kiến thức cao cấp vào trường phổ thông
hiện nay đã đến mức quá tải, bất chấp sự mệt mỏi của toàn xã hội!
Hãy nhìn vào chương trình giáo khoa môn toán của trường phổ thông: Rất nhiều
kiến thức cao cấp ở đại học đã được “phổ thông hoá”, thậm chí xuống tới lớp
bậc thấp. Rất nhiều kiến thức lớp trên được đưa xuống lớp dưới. Chỉ riêng
môn toán thôi cũng đủ làm học sinh khổ sở lắm rồi chứ chưa nói đến một loạt
môn khác, đúng như Giáo sư TSKH Nguyễn Xuân Hãn nhận định: “So với các
nước, chương trình giáo dục của ta nặng hơn từ 1 đến 3 năm, ngôn ngữ trình
bầy trừu tượng, xa với cuộc sống. Không ít phụ huynh là kỹ sư, bác sỹ, thậm
chí TS, GS cũng không thể hiểu được chương trình giáo dục hiện nay”.
Phải chăng vì muốn trẻ em sớm “cập nhật” kiến thức hiện đại nên phải vội vã
chất đầy kiến thức vào óc các em? Nhưng chẳng nhẽ các nhà giáo dục không
biết câu ngạn ngữ “muốn đi xa phải biết dưỡng sức con ngựa của mình”
hay sao?
Chẳng nhẽ ngành giáo dục không hay biết gì về thảm hoạ “Toán Học Mới”
(New Maths) ở phương tây cách đây vài chục năm hay sao? Còn bài học nào cho
thấy hậu quả tai hại của một chương trình vội vã duy ý chí rõ hơn Toán Học
Mới?
Tưởng cũng nên biết cái gọi là “Toán Học Mới” đó từ đâu mà ra.
Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, sự kiện Liên Xô lần đầu tiên phóng thành
công vệ tinh nhân tạo Sputnik ngày 04-10-1957 đã đẩy nước Mỹ vào một cuộc
khủng hoảng được gọi là “khủng hoảng Sputnik” (Sputnik crisis): Người Mỹ lo
sốt vó Liên Xô sẽ vượt lên dẫn đầu trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ và quân
sự, và đó sẽ là một nguy cơ tiềm tàng đối với an ninh của nước Mỹ!
Để phản ứng, nhà nước Mỹ lập tức đề ra một loạt biện pháp cải tổ bộ máy,
trong đó cải tổ về giáo dục được đưa lên hàng đầu: Ngành giáo dục phải tìm
ra những biện pháp mạnh tay để nhanh chóng đào tạo ra những kỹ sư và chuyên
gia giỏi nhất, sớm nắm bắt được những kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại
nhất!
Đúng lúc đó, giới toán học đang say mê tôn sùng trường phái toán học
Bourbaki – trường phái toán lý thuyết được suy tôn như “Euclid của thế kỷ
20”! Tư tưởng logic và tập hợp của trường phái này được tán tụng thờ phụng
như cái gì đó tiên tiến nhất, hiện đại nhất. Thế là lập tức các nhà giáo dục
Mỹ bệ tư tưởng đó vào trường phổ thông, áp đặt lên trẻ em, bất chấp các em
có tiêu hoá được hay không.
Họ gọi đó là “Toán Học Mới”, nhưng thực tế chẳng có gì mới, chỉ có cái mới
là xáo trộn chương trình, đưa kiến thức cao cấp vào trường phổ thông, áp đặt
lên đầu học sinh một chương trình quá tải, gồm những kiến thức trừu tượng mà
trước đó chỉ những nhà nghiên cứu toán học mới quan tâm. Họ hy vọng “Toán
Học Mới” sẽ làm trẻ em thông minh hơn, sớm bắt kịp trình độ tiên tiến của
khoa học hơn, nhưng rốt cuộc là trẻ em Mỹ chán ghét môn toán, sợ toán, xa
lánh toán, đẩy nền giáo dục Mỹ lâm vào một cuộc khủng hoảng hỗn loạn chưa
từng có!
Tất nhiên đó là chuyện quá khứ. Ngày nay nhìn lại, người Mỹ hiểu rõ rằng đây
là một biện pháp cải tổ vội vã duy ý chí: Ý chí muốn đuổi kịp và vượt Liên
Xô về khoa học vũ trụ!
Nếu ngày nay Mỹ đã vượt lên dẫn đầu về khoa học vũ trụ thì đó không phải là
công lao của “Toán Học Mới”. Sau hai chục năm nhầm lẫn theo đuổi “Toán Học
Mới”, người Mỹ đã sòng phẳng tự phê phán mình, tự chê bai mình, rằng Toán
Học Mới chỉ là một tham vọng không tưởng duy ý chí. Tất cả những ai thật sự
quan tâm đến giáo dục đều không thể không suy ngẫm về bài học này.
2] Xa rời mục tiêu giáo dục phổ thông:
Giáo dục phổ thông là gì, nếu không phải là một nền giáo dục cho mọi người,
vì mọi người, và do đó chương trình giáo dục của nó phải phổ thông nhất, cơ
bản nhất, dễ hiệu nhất, cần yếu nhất.
Căn cứ theo những tiêu chuẩn đó, có thể thấy rằng chương trình toán phổ
thông hiện nay đang ngày càng xa rời mục tiêu giáo dục phổ thông: Nội
dung chương trình trong sách giáo khoa toán hiện nay quá cao so với mặt bằng
chung về kinh tế, giáo dục, văn hoá, và xã hội của nước ta hiện nay.
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng nói: “Theo tôi can cớ gì chúng ta không dạy được
theo các chương trình đang được đánh giá cao trên thế giới và có sửa đổi
cho phù hợp. Học thấp hơn đã là vô lý, mà học nặng hơn lại càng cực kỳ vô lý”.
Điều mà GS Dũng nhận định là “cực kỳ vô lý” thực ra là một “nghịch lý kỳ
quái”!
So sánh chương trình đại số và giải tích trong sách giáo khoa đại trà hiện
nay với chương trình chuyên toán cách đây vài chục năm, sẽ thấy cách viết na
ná như nhau, thậm chí chương trình đại trà hiện nay còn cao hơn (!). Vậy hoá
ra đang có một quá trình “chuyên toán hoá” toàn xã hội ư? Phải chăng học
sinh ngày nay giỏi quá nên cần phải nâng cao chương trình lên như thế? Chẳng
phải học sinh của ta từng đoạt giải trong các kỳ thi olympic quốc tế đó sao?
Không! Thành tích om sòm của những kỳ thi olympic quốc tế chỉ là kết quả của
một thiểu số rất nhỏ được luyện theo kiểu luyện gà nòi, không thể coi
là đại diện cho nền giáo dục phổ thông được. Vậy thực chất chất lượng học
sinh của ta nói chung ra sao?
Hãy lắng nghe ý kiến của Giáo sư Hoàng Tụy:
“1-Thi cử nặng nề, có vẻ chặt chẽ, tưởng như bằng cấp phải có giá trị lắm
nhưng không phải, học giả, bằng giả, cử nhân, tiến sĩ dỏm đầy rẫy; 2-Cả nước
lao vào dạy thêm, học thêm với một cường độ và quy mô hiếm thấy, tưởng như
chất lượng đào tạo phải cao lắm, nhưng không phải, chất lượng thấp kém đáng
kinh ngạc; 3-Sách giáo khoa thường xuyên được chỉnh lý hay biên soạn mới,
huy động những nguồn tài chính khổng lồ, năm nào cũng in với số lượng lớn,
tưởng chừng phải thúc đẩy giáo dục phát triển hết cỡ, nhưng không phải, chất
lượng sách vẫn ì ạch mà giá sách cứ cao ngất ngưởng”.
Nếu ai có dịp xem một tuyển tập các đề thi tuyển vào lớp 10 trường Amsterdam
và trường Chu Văn An có lẽ đều phải giật mình khi thấy trong đó có những bài
toán tương đương với nhiều bài trong bộ đề thi vào đại học (từng được coi là
khó hoặc rất khó), thậm chí có những bài toán đòi hỏi kiến thức lý thuyết mà
học sinh lớp 9 không hề biết, chẳng hạn như giải phương trình siêu việt, …
Hoá ra phải có trình độ lớp 11, 12 thì mới thi được vào các trường “quý tộc”
nói trên chăng? Hoặc phải vào những “lò luyện” đặc biệt để được nhồi nhét
những kiến thức tủ thì mới qua nổi cửa ải thi cử của những trường “đặc biệt”
này chăng? Ai là người giám sát những chuyện thi cử như thế? Phải chăng
“phép vua thua lệ làng”, mạnh ai người nấy ra đề thi tuyển, miễn sao tạo
được một uy thế, một ảnh hưởng lợi lộc cho nhà trường hoặc cho bản thân là
được? Thi cử như thế có còn là phổ thông nữa hay không?
Vô tình kiểu nhồi nhét quá tải và thi cử thách đố như hiện nay đã và đang
tạo ra tình trạng bất bình đẳng xã hội, đào một hố sâu ngăn cách giữa một
thiểu số có ưu thế thuận lợi về vật chất và điều kiện học tập với đại đa số
học sinh còn nghèo hoặc rất nghèo và rất thiếu thốn điều kiện học tập!
Hãy thử nhìn vào miền trung, nơi người dân suốt ngày lo chạy lụt, chạy bão,
chạy gạo, lo chống đỡ bệnh tật, sức đâu mà đối phó với một chương trình quá
tải và thi cử thách đố như vậy? Tin VTV1 ngày
11-11-2007:
Hàng ngàn học sinh Nghệ An bỏ học, lớp trống không, vì thực hiện chủ trương
dạy thực chất, học thực chất, thi thực chất của ngành giáo dục nên các em
không theo nổi chương trình!
Hãy thử nhìn lên vùng cao, vùng xa, xem đồng bào ở đó sống ra sao, và đối
chiếu với những lý thuyết “bác học” trong sách giáo khoa xem có phù hợp
không?
Và chẳng cần nhìn đâu xa, hãy nhìn ngay tại Hànội, nhìn vào những xóm nghèo,
những gia đình khó khăn, số lượng này còn lớn lắm. Liệu đối với tầng lớp
đông đảo cư dân đó, chữ nghĩa “hàn lâm” quá tải có ý nghĩa gì?
Ngay với những học sinh có điều kiện thuận lợi về đời sống và học tập nhưng
có thiên hướng xã hội, thiên hướng nghệ thuật, hoặc kể cả thiên hướng khoa
học như vật lý, hoá học, sinh học, … các em đâu có cần học một chương trình
toán quá tải như vậy - một chương trình rõ ràng là có xu hướng thiên về
chuyên toán, thậm chí thiên về toán lý thuyết (thứ toán chỉ dành cho một
thiểu số rất ít người trên trái đất mà thôi). Ngay cả những nhà toán học
chân chính cũng không tán thành cách dạy toán vô lối đó. Đó không phải là
toán học thật, mà là toán học giả!
Có lẽ các tác giả viết sách giáo khoa đang sống trong tháp ngà, chủ quan duy
ý chí, cứ thế viết ra những gì mình thích mà bất chấp cuộc sống thực tế bên
ngoài, bất chấp mặt bằng chung về kinh tế và văn hoá của xã hội Việt Nam,
bất chấp tâm sinh lý trẻ em. Lối dạy toán và thi cử thiên về những trò
đánh đố tầm thường không những chứng tỏ một sự thiếu hiểu biết về nghệ thuật
sư phạm, mà còn thể hiện sự thiếu hiểu biết về chính toán học.
Ở Úc, người ta chia toán thành 4 bậc A, B, C, D theo thứ tự từ dễ đến khó.
Học sinh có quyền tự chọn bậc học. Chọn bậc nào thì thi vào những ngành
tương ứng với bậc đó. Tôi đã từng gửi đề thi toán ở Úc về cho học sinh cũ ở
Việt Nam
và khuyến khích các em tham khảo. Các em nhận xét: “Chúng em thấy toán ở
Úc có vẻ dễ hơn ở Việt
Nam”.
Tôi trả lời: “Đúng, ở Úc người ta không dạy học theo lối đánh đố học
sinh. Thầy giáo không cần ra oai bắt nạt học trò. Người ta chú trọng dạy
kiến thức cơ bản. Đề thi cũng rất chú trọng kiểm tra kiến thức cơ bản. Em
nào trả lời tốt kiến thức cơ bản đều được coi là xứng đáng để học tiếp ở đại
học. Vậy mà nền giáo dục Úc từng đào tạo ra những học sinh cực giỏi.
Chẳng hạn anh Đào Triết Hiên (người Úc gốc
Hoa Terence Tao,
là một
học sinh ở Úc, học giỏi đến mức đã trở thành một trong những người giỏi toán
nhất thế giới hiện nay”.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Nguyên ở Úc cho biết: “Học sinh tiểu học ở Úc đến
trường hầu như chẳng có sách vở gì, tất cả các bài học do giáo viên thiết
kế, về nhà không có bài tập ở nhà; bài tập thì dễ. Thế mà khi đến ngưỡng đại
học, sinh viên của họ hoàn toàn có một tư duy và cách học hết sức năng động,
độc lập. Vấn đề chỉ là ở phương thức giáo dục của chúng ta đã quá lạc hậu và
kiềm hãm tính độc lập suy nghĩ của sinh viên ngay từ tuổi ấu thơ”.
Xin nói rằng Úc không tổ chức thi tuyển vào đại học (trừ một vài trường hợp
đặc biệt). Thi tốt nghiệp lớp 12 là kỳ thi quyết định tương lai của học
sinh. Và dĩ nhiên thi tốt nghiệp phải là một kỳ thi kiểm tra kiến thức cơ
bản, thay vì đánh đố học trò.

Terence Tao,
học sinh ở Úc
đã trở thành một trong những nhà toán học xuất sắc nhất thế giới
3] Kết
Lẽ ra khi viết sách cải cách, cần tôn trọng và giữ gìn những gì đã trở thành
những giá trị kinh điển truyền thống, thay vì tuỳ tiện đảo lộn đến mức hỗn
loạn như hiện nay. Chẳng hạn như sách Hình Học 11 của
Văn Như
Cương (chủ biên), Trần Đức Huy, Nguyễn Mộng Hy, NXBGD năm 2000,
đã đưa định lý Thales vào phần bài tập (!!!). Chỉ cần một động tác đó cũng
đủ chứng tỏ những tác giả này tự phụ và coi thường kiến thức cơ bản như thế
nào. Việc đảo lộn đó đã biến toán học thành những mảnh vụn, làm hỏng tính
liên kết hệ thống của toán học. Đó là một lý do căn bản làm cho học sinh khó
tiếp thu, khó nắm được kiến thức cơ bản.
Vả lại sự đảo lộn không đem lại cái gì mới, gây lãng phí tốn kém tiền của
một cách vô ích, vì thực ra mọi kiến thức trong đó đều là kiến thức cũ.
Chỉ có cái mới là dồn kiến thức đại học xuống phổ thông, dồn lớp trên xuống
lớp dưới, xáo trộn những trật tự hệ thống kinh điển đã ổn định từ hàng trăm
năm nay, kèm thêm ngôn từ ra vẻ “hàn lâm bác học”, ra vẻ “cải cách nâng cao”
nhưng thực chất rất phản sư phạm, tương tự như “Toán Học Mới” ở phương tây
trước đây vậy.
Giáo dục không phải là một món mỳ ăn liền, cứ tống đại nước sôi vào là ăn
ngay được. Không thể vội vã áp đặt những biện pháp cải cách chủ quan duy ý
chí lên một hệ thống nhậy cảm như giáo dục, vì đối tượng của hệ thống đó là
con người chứ không phải những cỗ máy để tuỳ tiện thí nghiệm. Đặc biệt trong
hoàn cảnh Việt Nam, khi kinh tế còn nghèo, điều kiện học tập của đại đa số
học sinh còn vô cùng khó khăn, thì việc nhồi nhét qúa tải lại càng trở nên
phản sư phạm và chắc chắn chỉ đem lại những hậu quả vô cùng tiêu cực.
(bài đã đăng trên Văn Nghệ Trẻ số 2 (584) ngày 13-01-2008)
Hànội ngày 01 tháng 01 năm 2008
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Phạm Việt Hưng