Những bài cùng tác giả
Những bài liên
quan:
-
Sơ lược tiểu sử
Alan Shepard
-
Trước giờ khởi hành
-
Chương trình chuyến
bay
-
Vài chi tiết kỹ
thuật
-
Tương lai cuộc
khảo sát không gian của Mỹ

Sau Youri Gagarin
với chiếc "Đông Phương", đến lượt Alan Shepard với
chiếc "Tự Do 7" ngày 5/5/60 đã vượt ra khỏi Trái đất,
thắng sức hấp dẫn của trọng lực và trong chốc lát đã
trở nên nhà du hành vũ trụ. Như Gagarin, Shepard đã
trở nên vị anh hùng của lịch sử nhân loại vì đã may
mắn và vinh hạnh được dự vào những chuyến bay ra Vũ
trụ đầu tiên.
Youri Gagarin, phi
hành gia đầu tiên ra ngoài không gian
1/ Sơ lược tiểu sử
Alan Shepard, phi hành gia Mỹ đầu tiên
Xin
bấm vào để đọc toàn bộ tiểu sử của Alan Shepard
Sinh ngày 18/04/1923
tại East Derry (New Hamshire), Trung tá Hải quân
Shepard là một lực sĩ đầy đủ, cao 1,8, nặng 74 ký .
Con nhà binh (chông thân là một Trung tướng hưu trí)
ông theo học tại trường Thủy quân Annapolis. Trong
trận Đại chiến vừa qua, ông được bổ nhiệm rèn khu
vực hạm Gogswell hành binh trong Thái bình dương. Hết
giặc, ông được sung dụng ở trường không quân Corpus
Chritis (Texas) rồi qua trường Không quân Pensacola
(Floride). Tại đây, tháng 3/1947 ông đậu bằng phi
công thử máy bay. Từ đấy ông chuyên môn khảo cứu về
vấn đề hàng không và phụ giúp hoàn thành kỹ thuật
tiếp tế trên không và hạ máy bay trên các hàng không
mẫu hạm. Người ta bảo ông rất thông minh và
thông hiểu khoa học khá nhiều, nhất là về môn thiên
văn học, vật lý thiên văn, khí tượng học, địa dư và
thuật hàng không giữa các thiên thể. Các nhiên
liệu cũng như các máy móc điều khiển từ xa đối với
ông không còn gì là bí mật. Mấy năm sau đó ông
được bay thử ở cao độ để khảo sát cách truyền bá của
ánh sáng và cách di chuyển khí trời trên lục địa Mỹ
châu.
Cho tới lần ra khỏi Vũ trụ đầu tiên
này, Alan đã bay tới
3700 giờ, trong số đó có 1800
giờ với phi cơ phản lực. Ông là một trong bảy
phi công tình nguyện bay ra Vũ trụ. Cả bảy người đều
ăn lương như thường ngày, chỉ có được thêm phụ
cấp những giờ bay với phi cơ phản lực. Tuy nhiên, tờ
tuần báo Life chịu trả một số tiền 70.000 đô la Mỹ
cho tất cả bảy người để dành độc quyền đăng tải bài
tường thuật của nhà du hành vũ trụ đầu tiên....

2/ Trước giờ khởi hành
Tối hôm 4/5/61, sau
khi xem vô tuyến truyền hình với hai bạn phi công
đồng đội, Shepard phải vào giường lúc 22 giờ rưỡi.
Sáng hôm sau, bác sĩ Douglas lại đánh thức ông
dậy lúc 1 giờ 5 giờ địa phương. Tắm rửa và cạo râu
xong, ông ăn điểm tâm rất đầy đủ, với thịt, trứng,
bánh, mứt, nước cam (không có trà và cà phê)
chứ không phải chỉ ăn sơ sài như người ta
thường tưởng. Bác sĩ khám một lần cuối cùng vào
khoảng 2 giờ 25. Ông vẫn bình tĩnh như thường ngày,
thảnh thơi và rất lạc quan.
2 giờ 50, người ta bắt
đầu mắc vào mình phi công những máy móc có thể theo
dõi tình hình sức khoẻ trong lúc bay.
Xong, ông mặc bộ áo quần bằng chất dẻo sơn bạc
nặng 9 ký.
3 giờ 59, ông rời phòng, lên một xe sơn
trắng đặc biệt để ra hỏa tiễn ở Cap Caraveral. Xe
này trang bị như một nhà thương nhỏ, ngoài cửa đóng
kín mít , ở trong có đủ máy móc để cứu sống phi
công. Hai bác sĩ luôn ngồi cạnh Shepard để xem xét
sức khoẻ.
Xe lại cạnh hỏa tiễn vào lúc 4 giờ
24, trước có xe của cảnh sát dọn đường, sau có thêm
mươi xe khác nữa. Hỏa tiễn Redstone như một cây bút
khổng lồ được dựng đứng giữa một cái giàn có đèn
chiếu sáng trưng. Trên hỏa tiễn, 125 nhân viên phần
lớn là chuyên viên kỹ thuật, mặc áo quần trắng, đội
mũ đủ màu sắc tùy theo chuyên môn, chạy đi chạy lại.
Thấy Shepard trèo lên hỏa tiễn, mọi người đều vỗ tay
hoan hô. Nghiêm nghị, ông tiến thẳng, chỉ giơ tay
nhẹ chào. Người ta đưa ông vào capsule, là phòng
phi công sẽ rời hỏa tiễn lên Vũ trụ, đặt nằm lên một
chiếc ghế có bọc cao su rất êm để có thể chịu đựng
các lực gia tốc và phản gia tốc lúc khởi hành và lúc
trở về.
Cửa capsule đóng lúc 6 giờ 10. Từ lúc đó,
Shepard chỉ còn liên lạc được với bên ngoài với một
trong ba máy vô tuyến điện đã đặt trong capsule. Đèn
tắt dần. Và mặt trời cũng bắt đầu mọc. Trời
trong sáng, đây đó chỉ có vài đám mây thưa. Kỳ này
chắc không có trở ngại như mấy lần trước.
6 giờ 10, hỏa tiễn
được chính thức mang tên Freedom7. Freedom là
Tự do, 7 là biểu hiệu số phi công được chọn lọc đi
bay.
7 giờ 19, còn 10 phút nữa là hỏa tiễn được
phóng đi, nhưng loa báo còn phải xét lại khí
tượng lại một lần nữa, nghĩa là giờ bay phải
chậm lại ít nhiều. Tuy nhiên tháp bắn cũng bắt đầu
chuyển vận, rời hỏa tiễn, xê dịch qua một bên. Đồng
thời có một hộp đỏ mắc vào đầu một máy cổ hạc được
đưa lại gần capsule. Đây là một phương tiện cứu nạn
để phi công có thể trốn thoát nếu có gì bất trắc
trước lúc khởi hành. Các nhà chuyên môn gọi nó là
"giỏ hái anh đào" (cherry picker).
7 giờ 47, lại có tin
phải thay thế một máy biến thế điện, nghĩa là giờ
khởi hành lại phải chậm lại nữa. Mọi người lo
sợ , không biết kỳ này hỏa tiễn có lên đường được
không.
Đến 8 giờ 35, tất cả
đều xong xuôi. Còn một nửa giờ nữa và loa bắt đầu
đếm thụt lùi. Cứ hai phútmột loa của hội hàng
không các thiên thể NASA cho nghe số đếm. Còn 15
phút, kiểm tra lại một lần nữa những bộ phận cần yếu
nếu có chuyện bất trắc, đồng thời hệ thống trắc viễn
capsule cũng được xem xét lại.
Còn 6 phút,
các nhân viên phụ trách đều phải có mặt ở cơ quan
mình.
Còn 3 phút, bác sĩ
tuyên bố phi công sẵn sàng.
Còn 1 phút "giỏ hái
anh đào" rời khỏi hỏa tiễn. Không còn một ai trên
hỏa tiễn nữa, trừ Shepard một mình ngự trị trên một
tháp cao, cách mặt đất 20 thước. Người ta đếm thụt
lùi từng giạy một. Mọi người hồi hop-(p chờ đợi. Lo
lắng hơn là cac nhà đương sự, các nhà bác học
như Werner Von
Braun và các nghị viên "bí mật" theo dõi cuộc
khởi hành trong tòa kiểm tra, sau cửa kính.
Còn 25 giậy, người
phụ trách cuộc bắn hỏa tiễn nhận trên một cái nút đỏ
truyền lệnh cho máy tự động điều khiển cuộc khởi
hành.
3/ Chương trình chuyến
bay
9 giờ 34 hỏa tiễn
Redstone thong thả rời mặt đất, phun lại đằng sau
một tia lửa dữ dội bị lấp gần hẳn trong đám khói mịt
mù trắng cam lẫn lộn. Trong luôn
hai phút, máy của hỏa tiễn rầm rộ chạy mạnh và đẩy
chiếc capsule Mercury lên tới tốc độ 7500 cây
số/giờ. Capsule bắt đầu chạy thẳng đứng lên trời rồi
nghiên dần làm thành góc 40 độ với mặt đất.
9 giờ 18,
Shepard nói về: "Cảnh trông đẹp quá!" (What a
beautiful view!") và sau đó bảo thông thấy rõ bờ biển
Hoa kỳ
9 giờ 40, capsule
lên tới điểm tối cao: 184 cây số. Shepard tiếp tục
báo tin về, các chi tiết chuyên môn chen lẫn
với giọng nói Ok! Ok! nghe rất rõ. Ông lại cho biết
hỏa tiễn hồi tố thứ nhất bắt đầu vận chuyển để hãm
dần tốc độ capsule. Trong khoảng hai phút sau, hai
hỏa tiễn hồi tố khác cũng lần lượt được cho
chạy.
9 giờ 43, máy điều
khiển tự động thay thế phi công. Ở mặt đất, các đài
thu thanh cho biết máy móc trên capsule đều chạy
tốt.
9 giờ 45, capsule
hạ dần xuống 6.000 thước. Hai phút sau, chiếc dủ thứ
nhất tung ra trong gió. Ở chiếc hàng
không mẫu hạm Lake Champlain người ta bắt đầu
thấy.
9 giờ 48 ; chiếc dù
thứ nhì đường kính 20 thước, sọc đỏ và trắng; lại
hãm dần capsule. Capsule lúc ấy chỉ cách mặt nước có
2.000 thước. Một phút sau, capsule rơi vào biển;
cách chiếc hàng không mẫu hạm 4
cây số.
9 giờ 53, người ta
vớt capsule ra khỏi nước và không đầy bốn phút sau,
Shepard đã ra khỏi capsule lên trực thăng về chiếc
USS
Lake Champlain (CVA 39)
Shepard đã bay đúng
15 phút như đã định trước. từ điểm bắn là Cocoa
Beech tới chỗ rơi đo được 483 cây số, cách xa độ dài
tính trước cũng không bao lăm.


4/ Vài chi tiết kỹ
thuật:
Chuyến bay của
shepard tuy ngắn nhưng rất hoàn hảo. Trong lúc
mọi người ở mặt đất lo sợ cho người phi công của
chuyến bay phi thường, Shepard đã hết sức bình tĩnh
làm tròn nhiệm vụ của mình. Cứ nghe ông ta nói
chuyện từ capsule với bạn đồng đội ở đài kiểm tra,
người ta nghe như hai người kỹ sư đang bàn bạc
cùng nhau về một thí nghiệm đang thử mà không dè một
trong hai người đang bay với một tốc độ vô cùng
lớn. Kiến trúc capsule là một sáng kiến hay ho.
Capsule hình giống một cái phễu, lúc khởi hành,
miệng phễu dính vào hỏa tiễn. Phi công nằm dựa vào
miệng phễu, mặt ngó về đằng trước. Các nhà
chuyên môn tính với cách ngồi như vậy thì phi
công dễ chịu đựng nhất lực gia tốc có thể lớn gấp 6
lần trọng lực. Nhưng rời hỏa tiễn xong thì
capsule quay một vòng và phếu quay ra phía trước,
phi công xây mặt lại đằng sau. Capsule vẫn nằm ở vị
trí này lúc các hỏa tiễn hồi tố vận dụng,
thành thử khi đi cũng như trên đường về, miệng phễu
luôn xây về phía mặt đất.
Trong lúc bay, một
đàng bị trọng lực kéo về mặt đất, một đằng bị
lực ly tâm đẩy ra ngoài nên phi công nằm ở một điểm
thăng bằng, như mình hết còn nặng. Thành thử trong
khoảng vài phút Shepard đã là người vũ trụ. Nằm trên
ghế dựa, tuy mặt xây về đằng sau, nhờ có máy tiềm
vọng, ông đã ngắm được rõ ràng mặt đất
Trên đường về, sau
khi các hỏa tiễn hồi tố đã được đốt, Shepard bỏ mặc
tay lái cho máy tự động vì các lực phản gia tốc còn
mạnh hơn cả lực gia tốc. Thời gian này cũng như thời
gian khởi hành đối với các nhà bác học là rất quan
trọng nên một máy quay phim tự động ghi chụp
tất cả các cử động của phi công. Cũng may mắn
mấy cái dù đã mau hãm capsule lại, đồng thời một
cánh cửa sổ được mở ra để khí trời mặc sức tuôn vào
capsule. Rơi xuống nước, capsule rải ra mặt biển một
chất thuốc màu để mau dễ tìm ra
Được vớt ra, đưa về
chiếc hàng không mẫu hạm, Shepard còn
được giữ 48 giờ ở bệnh viện để các nhà bác học khảo
sát tuy ông vẫn rất khoẻ mạnh.
5/ Tương lai cuộc
khảo sát không gian của Mỹ

Alan Shepard rnhận
giải thưởng đặc biệt của NASA (NASA
Distinguished Service Award) do Tổng
thống Kennedy trao tặng vào tháng 5, 1961 sau chuyến
bay thành công Mercury-Redstone 3.
Vợ và mẹ của Shepard
đứng bên trái và một
phi hành gia khác đứng đằng sau
Tổng thống
Kennedy thân hành điện thoại ban khen trung tá
Shepard "Toàn quốc Hoa kỳ đều thỏa thích với công
trạng của ông". Sau đó, trong một cuộc nói chuyện
báo chí, ông nhấn mạnh Hoa kỳ còn phải
cố gắng thêm nhiều trong cuộc khảo sát không gian.
Tuy nhiên, ông tuyên bố các tài liệu khoa học
đã thu mượm được, sẽ đem công bố cho tất cả các giới
khoa học khắp hoàn cầu. Hoa kỳ, cũng theo lời Tổng
thống Kennedy, không bao giờ có ý định
giữ kín các thí nghiệm không gian mặc dù tất cả nguy
hiểm của một cuộc tuyên truyền nếu thí nghiệm bị
hỏng. Ông tiếp thêm, trong một xã hội tự
do, các thành công cũng như các thất bại cần phải
được kiểm tra và công bố.
Bên cạnh các
lời tuyên bố của Tổng thống Kennedy, những
lời của nhà bác học Von Braun cho
ta thấy sơ lược chương trình không gian của
Mỹ. Ông bảo công tác vừa qua chỉ là một cuộc bắt đấu
tầm thường trên đường vũ trụ. Giai đoạn sắp đến sẽ
bắn một con người vệ tinh với hỏa tiễn
Atlas-Mercury. Còn hỏa tiễn Saturne cò thể đẩy
được 1.500 tấn (nghĩa là mạnh gấp đôi hỏa tiễn đã
bắn vệ tinh Vostok của Gagarin) sẽ hoàn thành vào
cuối 1964 đầu 1965 . Hỏa tiễn này sẽ bắn một vệ tinh
có thể đem theo một toán nhiều nhà du hành vũ trụ.
 |
7 Phi hành gia đầu tiên
của Mercury
Freedom 7,
NASA
(Hàng
sau từ trái sang phải) Alan
Shepard, Gus Grissom, Grodon Cooper; (Hàng
đầu) Waltedr Schirra, Deke
Slayton, John Glenn, Scott Carpenter |
M. Scott Carpenter (1925-)
L. Gordon Cooper, Jr. (1927-2004)
John H. Glenn. Jr. (1921-)
(Người Mỹ đầu tiên tới quỹ đạo Trái
đất)
Virgil I. "Gus" Grissom (1926-1967)
Walter M. Schirra, Jr. (1923-)
Alan B. Shepard, Jr. (1923-1998)
(Người Mỹ đầu tiên ra không gian)
Donald K. "Deke" Slayton (1924-1993)
Đã đăng trong tạp chí Bách
Khoa số 106 ra ngày 01/06/1961 |