Cách nay vài chục thế kỷ, con người đã từng mơ
mộng chinh phục không gian, bay nhởn nhơ trên núi cao, vượt nhanh chóng qua
biển rộng. Con người đã đạt được giấc mộng này nhưng rồi lại cảm thấy trái
đất hiện tại quá chật hẹp. Con người mong muốn vượt ra khỏi cảnh tù hãm trên
địa cầu để khảo sát vũ trụ bao la. Viễn ảnh du hành không gian này chính
thức tới trong đầu óc các nhà khoa học vào đầu thế kỷ 20.
Ngày nay các nhà khoa học cũng nóng lòng như
Christopher Columbus muốn khám
phá những điều hiểu biết mới lạ, nhưng sự khác biệt giữa xưa và nay là
Christopher Columbus ngày xưa có tầu biển mà không biết sẽ đi tới đâu trong
khi ngày nay, các nhà khoa học biết rõ nơi đến mà lại thiếu phương tiện vận
chuyển để vượt ra ngoài không gian.
Nhưng nguyên nhân nào đã thúc đẩy con người theo đuổi một chương trình thám
hiểm không gian táo bạo? Cuộc thám hiểm và ngành không gian học có thể giúp
ích những gì cho chúng ta? Công trình phát triển kỹ thuật không gian trở nên
quan trọng và cấp bách vì ba lý do: lý do thứ nhất là lòng hiếu kỳ sẵn có
của con người. Mọi người vẫn hằng ước ao khám phá những điều bí ẩn để đi đến
những nơi chưa có ai đặt chân tới. Ngày nay trên địa cầu không đâu là không
có vết chân của con người và vì vậy vượt ra ngoài trái đất là điều đã được
nhiều người mong ước.
Mấy chục năm vừa qua, chiến tranh lạnh đã bành trướng giữa hai phe Dân Chủ
và Cộng Sản. Phe nào cũng muốn vượt lên về phương diện Kỹ Thuật và Khoa Học.
Không phe nào muốn phe kia dùng Không Gian để đe dọa nền an ninh của mình vì
thế mục tiêu phòng thủ đã là yếu tố thứ hai. Lý do thứ ba là kỹ thuật không
gian sẽ đem lại nhiều kiến thức về khí hậu, truyền thông, trái đất, thái
dương hệ và vũ trụ.


Sputnik 1 là
vệ tinh nhân tạo thành công đầu tiên, được Liên xô phóng ra vũ trụ tháng 10,
1957 . Đó là một quả cầu bằng nhôm đường kính 58 cm, khối lượng 83
kg. Sputnik1 quay quanh Trái đất theo quỹ đạo hình ellipse mà apogee (điểm
xa nhất đối với trái đất) là 946 km và perigee là 227 km. Nó thực hiện một
vòng trong 96,2 phút. Thời gian bay tổng cộng là 57 ngày.
(Vietsciences)
Thời đại không gian liên hành tinh thực ra bắt đầu vào ngày Thứ Sáu, mồng 4
tháng 10 năm 1957, là ngày mà Liên Xô đã đặt vệ tinh nhân tạo đầu tiên
Sputnik I vào quỹ đạo của trái đất. Từ nay mở đầu cuộc chạy đua về không
gian giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.
Quan niệm rằng trái đất chúng ta đang ở không phải là một thiên thể duy nhất
trong không gian đã được Plutarque ghi nhận vào thế kỷ thứ nhất. Tới thế kỷ
thứ 6, sự phát minh ra kính viễn vọng đã cho phép con người phóng tầm mắt ra
ngoài vũ trụ bao la. Trong hai thế kỷ 16 và 17,
Copernicus,
Galileo và
Kepler
đã đặt nền móng cho công trình tìm hiểu vũ trụ.
Con người nhìn vũ trụ qua một lớp màn dày hàng trăm dậm, đó là lớp khí
quyển. Để vượt qua bức màn này, con người đã dùng một dụng cụ: hỏa tiễn. Hỏa
tiễn thực ra đã có từ lâu. Năm 1232 người Trung Hoa dùng hỏa tiễn hay “tên
lửa” để chống lại quân Mông Cổ. Hỏa tiễn được mang sang châu Âu trong khoảng
các năm 1250 tới 1280 và đã được giới quân sự đôi khi sử dụng để đốt phá các
căn cứ và thành phố địch. Thời gian hỏa tiễn được sử dụng chỉ kéo dài chừng
một thế kỷ rồi mọi người lãng quên thứ võ khí này.
1/ Đại Úy Congreve.

Tới năm 1804, Đại Úy William Congreve
(sau này đuợc tặng chức sir), thuộc Pháo Binh Hoàng Gia Anh, là
người đầu tiên quan tâm tới hỏa tiễn. Congreve được nghe nói các lực lượng
của Hyder Ali, một nhà cầm quyền người Ấn Độ, đã dùng hỏa tiễn để chống lại
quân đội Anh một cách rất hiệu quả. Vì thế Congreve tin rằng ông ta có thể
chế tạo các hỏa tiễn lớn hơn để dùng vào các trận chiến tại bờ biển
Coromandel.
Congreve bèn đi thăm tất cả các xưởng làm pháo tại thành phố London, hỏi
chuyện các chủ nhân rồi đặt làm các hỏa tiễn loại lớn. Nhờ cha là Trung
Tướng Sir William Congreve, Đại Úy Congreve đã
mượn được xạ trường để thí
nghiệm. Lúc đầu các hỏa tiễn của Congreve có tầm bay tối đa là 600 mét, điều
này khiến ông ta hy vọng vì thứ võ khí của Hyder Ali cũng chỉ bay xa được
1,000 mét mà thôi. Cho tới thời bấy giờ, hỏa tiễn gồm hai phần: một phần là
thân mang thuốc đẩy, phần kia là đuôi gồm một cây gậy buộc vào thân hỏa tiễn
để cân bằng, đuôi này thường có chiều dài gấp 7 lần thân hỏa tiễn. Congreve
tìm cách cải tiến. Ông cho rằng việc gắn đuôi vào hỏa tiễn không những phiền
phức vì hỏa tiễn dài tới 5 mét mà còn bất tiện cho việc chuyên chở. Ngoài ra
nếu việc gắn đuôi được thực hiện ngoài mặt trận thì khó lòng các binh sĩ gắn
đúng cách. Vì thế Congreve đã phát minh ra một thứ hỏa tiễn có sẵn cây gậy ở
giữa.
Cải cách của Congreve đã khiến cho hỏa tiễn bay xa được 3,000 mét và thứ lớn
nhất nặng tới 21 kilô. Congreve đã gọi hỏa tiễn của ông là “hồn không có
thân của Pháo Binh” vì thứ võ khí này không cần tới nòng súng để bắn đi và
ông cho rằng hỏa tiễn có thể thay thế Pháo Binh dã chiến. Congreve còn chế
tạo một thứ hỏa tiễn nhỏ sử dụng trên tầu có một cột buồm.
Hỏa tiễn của Congreve được quân đội Anh
sử dụng nhiều lần. Năm 1805 Hải Quân
Anh đã bắn 200 hỏa tiễn để tấn công thành phố Boulogne và hai năm sau,
25,000 hỏa tiễn Congreve đã đốt phá phần lớn thành phố Copenhague. Người ta
còn kể lại rằng vào ngày 20 tháng 10 năm 1813, các nơi chứa lương thực của
thành phố Danzig đã bị hỏa tiễn Congreve đốt cháy khiến cho một tháng sau,
thành phố này phải đầu hàng. Ngoài ra võ khí của Congreve còn được sử dụng
trong trận Leipzig chống Napoléon và trong cuộc vây hãm Fort McHenry.

Các chiến công của các đội hỏa tiễn Anh đã khiến cho nhiều nước khác phải
bắt chước, chẳng hạn các nước Áo, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hòa Lan, Ba Lan, Tây
Ban Nha, Thụy Điển, Ai Cập và Hy Lạp. Nước Thụy Sĩ cũng dự tính chế tạo hỏa
tiễn nhưng còn trên giấy tờ trong khi nước Phổ cho thành lập xưởng thí
nghiệm tại Spandau, gần thành phố Berlin. Riêng các thẩm quyền quân sự Hoa
Kỳ coi thường thứ võ khí mới này và tới năm 1865, việc tìm hiểu hỏa tiễn
không còn được nhiều quốc gia theo đuổi nữa.
Vào năm 1870 chỉ còn hai quốc gia có hỏa tiễn là nước Anh và Hoa Kỳ. Nước
Anh cấp hỏa tiễn cho các đơn vị đi chinh phục thuộc địa còn tại Hoa Kỳ, hỏa
tiễn được nhiều người biết tới nhờ William Hale giải quyết xong bài toán về
cách hướng dẫn. Hale đã dùng 3 chiếc van gắn ở ống thoát khí khiến cho hỏa
tiễn khi bay đã quay tròn như một viên đạn. Tại Hoa Kỳ vào thời bấy giờ, hỏa
tiễn có đường kính chừng 7.5 cm và nặng chừng 7 kilô, chỉ để dùng cho việc
“đốt cháy và đặc biệt dùng cho lối chiến tranh man rợ”, nghĩa là dùng để bắn
phá mọi da đỏ.
Cho tới cuối thế kỷ 19, không một cấp chỉ huy trên bộ cũng như trên biển nào
yêu cầu cung cấp hỏa tiễn và trong cuốn sách “Khảo Sát về Đạn Dược” của Văn
Phòng Chiến Tranh Anh Quốc đã có ghi “việc dùng hỏa tiễn trên bộ và dưới
nước bị tạm ngưng ngoại trừ có lời yêu cầu dùng cho mục đích đặc biệt”.
2/ Phương tiện cấp cứu.
Nếu hỏa tiễn bị quên dần và không được coi là một võ khí hữu dụng thì ích
lợi của hỏa tiễn lại được dùng vào phạm vi khác. Năm 1784, Ehrgott Friedrich
Schaefer, cư ngụ tại Kolberg là một tỉnh duyên hải, đã viết một bài trình
lên Hoàng Đế Frederick nước Phổ về cách cứu người trên con tầu mắc cạn vào
các ngày có bão biển. Theo Schaefer, người ta có thể dùng một quả đạn súng
cối mang theo một sợi dây thật chắc chắn bắn từ bờ biển ra tới con tầu lâm
nạn rồi các nhân viên cấp cứu có thể kéo vào bờ các nạn nhân bằng những túi
vải. Hoàng Đế nước Phổ đã đọc bài trình này và đã giao việc nghiên cứu cho
viên Tổng Thanh Tra Pháo Binh để thi hành. Sau nhiều lần bàn cãi, viên Tổng
Thanh Tra và các cộng sự của ông đã đi tới kết luận rằng “phát minh này
không thể thực hiện được”.
Tới năm 1797, Trung Úy Cell người Anh, thuộc binh chủng Quân Cụ Hoàng Gia
cũng đề cập một ý tưởng tương tự như của Schaefer với Hội Thương Mại London.
Thời bấy giờ, mặc dù người ta bàn cãi nhiều về ý tưởng của Trung Úy Cell
nhưng rồi không có một phát minh nào được thực hiện cho tới ngày viên Thanh
Tra Quân Đội Anh tên là George William Manby nhìn thấy tận mắt một con tầu
chở 67 người, đã đâm vào đá và vỡ ra từng mảnh, tai nạn này chỉ cách bờ biển
chừng 100 mét. Manby liền vẽ một kiểu đạn súng cối mang dây cấp cứu. Khi có
tầu lâm nạn gần bờ, người ta sẽ bắn viên đạn xa hơn con tầu một chút để sợi
dây rơi vào con tầu rồi các thủy thủ trên tầu sẽ dùng sợi dây này để kéo ra
ngoài một sợi dây lớn hơn, vững chắc hơn, mang các phao nổi. Nhờ lối cấp cứu
này, người ta có thể kéo vào bờ tất cả nạn nhân. Manby đã dùng phát minh của
ông ta tại miền Norfolk và theo thống kê thì trong khoảng các năm từ 1807
tới 1823, người ta đã cứu sống được 332 thủy thủ cùng dân thuyền chài bằng
phương pháp này.
Tại nước Phổ, ý tưởng của Schaefer được một số nhà khoa học đem ra thí
nghiệm vào ngày 5 tháng 9 năm 1816 tại hải cảng Pillau trên bờ biển Baltic,
nhưng rồi các nhân vật có thẩm quyền đều không đồng ý với nhau cho nên loại
súng cối bắn dây cáp cấp cứu chỉ được phép chính thức sử dụng vào tháng 7
năm 1819 và một nghị định đã nói rõ “phương tiện này không phải là không
hoàn hảo nhưng nguy hiểm”.
Súng cối chỉ cho phép người ta bắn các quả đạn đi một khoảng cách gần trong
khi đó John Dennett tại Newport thuộc đảo Wight bên nước Anh lại nghĩ rằng
có thể dùng một loại hỏa tiễn của Congreve để bắn đi các sợi dây xa hơn và
nặng hơn. Vì thế từ năm 1824, hỏa tiễn Congreve đã được dùng tại đảo Wight.
Bốn năm sau Thiếu Tá Stiehler, chỉ huy trưởng trại quân tại Klaipeda, thuộc
xứ Lithuania, là người Đức đầu tiên dùng hỏa tiễn thay cho súng cối để rồi
từ đó, các bờ biển Baltic và Bắc Hải đều dùng hỏa tiễn bắn dây cấp cứu và
tầm xa tối đa của hỏa tiễn là 400 mét.
Tại nước Đức người ta còn thành lập một hội cấp cứu các thủy thủ lâm nạn và
chủ trương của hội này là dùng các dụng cụ đồng nhất. Hội đã giao cho phòng
thí nghiệm chế tạo pháo bông Hoàng Gia Phổ làm ra các hỏa tiễn cấp cứu và
công cuộc này được thực hiện cho tới năm 1890. Tại nước Anh, hai loại hỏa
tiễn dùng cho việc cấp cứu là loại cổ điển của Congreve và một loại mới do
Đại Tá Boxer nghĩ ra vào năm 1855. Đây là một thứ hỏa tiễn 2 tầng, dài chừng
nửa thước, đường kính chừng 7 cm, được gắn vào cây gậy hướng dẫn khiến cho
tất cả hỏa tiễn dài chừng 3 thước.
Từ khi máy truyền thanh được phát minh, loại hỏa tiễn mang dây cấp cứu ít
được dùng đến vì các tầu bè đều trang bị dụng cụ vô tuyến và đã được báo
trước về thời tiết xấu. Tuy nhiên, phương pháp sử dụng hỏa tiễn được người
ta áp dụng vào việc thả dây điện thoại tại mặt trận hay tại các miền núi non
hiểm trở. Ý tưởng này đã được Amédée Denisse người Pháp nghĩ ra vào năm 1882
và được dùng rất nhiều tại Thụy Sĩ trong khoảng giữa hai trận Thế Chiến.
Ngoài ra các thủy thủ săn cá voi cũng nghĩ đến cách áp dụng hỏa tiễn vào
việc phóng lao và người đầu tiên sử dụng cách này vào năm 1821 là Đại Úy
William Scoresby, người Anh. Tại Hoa Kỳ hai kiểu mẫu về hỏa tiễn phóng lao
được trình tòa vào ngày 3 tháng 6 năm 1862 do Thomas Roys và vào ngày 24
tháng 4 năm 1866 do Roys và Lieliendahl, một cộng sự viên.
Ngoài công dụng thả dây cấp cứu tại bờ biển, hỏa tiễn còn được dùng vào việc
nghiên cứu khí tượng mà khởi đầu là do việc tìm cách phá hủy các trận mưa
đá. Tại châu Âu, mưa đá là kẻ thù của nhà nông và nhất là các nhà trồng nho.
Mỗi năm thiệt hại do mưa đá gây ra rất đáng kể mà người ta chưa tìm ra cách
nào để tránh được tai họa này. Người ta chỉ biết cầu kinh thật sớm trong nhà
thờ vào mùa mưa đá và nhiệm vụ của viên bõ già gác nhà thờ là phải rung
chuông thật lớn khi thấy trận mưa đá xuất hiện từ đằng xa vì ngoài tiếng
chuông dùng để cầu cứu Thượng Đế, nó còn có công dụng là gây ảnh hưởng tới
các lớp mây. Rồi người ta còn họa thêm vào tiếng chuông bằng các tiếng súng
đại bác bắn thật nhanh và không có quả đạn.
3/ Hỏa tiễn chống mưa đá.
Tới thế kỷ 19, lòng tin tưởng vào cách gây tiếng động để chống lại mưa đá đã
bị mọi người coi là dị đoan và tiếng chuông nhà thờ chỉ còn công dụng là gọi
các con chiên đi cầu nguyện. Nhưng vẫn còn một số người cho rằng tiếng động
có ảnh hưởng tới mưa đá, đó là viên Thị Trưởng Stieger của thành phố Styria
trên dãy núi Alps. Thị Trưởng Stieger cho rằng tiếng súng đại bác đã gây ra
các chấn động ảnh hưởng tới lớp mây mang mưa đá đến. Sở dĩ tại sao trước kia
tiếng chuông nhà thờ và tiếng súng đại bác không khiến cho mưa đá bớt tàn
phá mùa màng bởi vì các tiếng động này quá yếu. Stieger liền nghĩ ra một
loại súng đại bác đặc biệt dùng cho thời tiết, dùng nhiều thuốc súng hơn là
250 gam như thường lệ.
Sau hai mùa hè thí nghiệm, vào năm 1895 Thị Trưởng Stieger tuyên bố rằng
việc bắn thời tiết mang lại hiệu quả vì ông đã làm giảm đi một nửa số mây có
mưa đá trong vùng. Nhưng thí nghiệm của Stieger không được các nhà khí tượng
học công nhận vì họ không có cách nào kiểm chứng những kết quả này và không
ai dám nói trước sự việc gì sẽ xẩy ra nếu không dùng tới loại đại bác khí
tượng. Mọi người còn nghi ngờ phương pháp của Stieger.
Mười năm sau các đề nghị của Stieger, tại nước Đức có R. Bauer một nhà thực
nghiệm, đã xét lại bài toán kể trên một cách tỉ mỉ và khoa học. Bauer lý
luận rằng chấn động có thể ảnh hưởng tới các đám mây và ảnh hưởng này càng
lớn nếu điểm xuất phát của tiếng nổ càng gần các đám mây. Tốt hơn hết, nên
tạo ra tiếng nổ ngay trong đám mây. Trong nhiều năm, Bauer là huấn luyện
viên của Trường Pháo Binh và kỹ sư quân đội của nước Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1905
Pháo Binh Phòng Không đã được thành lập nên Bauer lại càng biết rõ cách giải
đáp bài toán do ông đề cập ra. Ông liền tới gặp chủ nhân các xưởng làm pháo
và đặt làm các hỏa tiễn có đủ các yếu tố sau: (1) hỏa tiễn phải bắn cao lên
tới 1,000 thước hay hơn, (2) khối chất nổ mang theo ít nhất phải là một
kilô, (3) cách khai hỏa phải thật giản dị, không cần thêm một dụng cụ phụ
nào. Các nhà làm pháo thấy rằng có thể thực hiện được các ý tưởng này mà
trước kia họ không cần nghĩ đến bởi vì loại pháo bông nếu nổ quá cao sẽ
không còn làm đẹp mắt người coi nữa.
R. Bauer cùng một nhà làm pháo bắt tay vào việc nghiên cứu và đã bắn các hỏa
tiễn lên cao 1,000 mét. Bằng cách bắn nhiều hỏa tiễn, Bauer đã cho nổ các
khối thuốc trong các lớp mây cũng như ở trên và dưới các tầng mây thấp, và
điều đáng ngạc nhiên là mưa đã đã rơi xuống tại nơi xạ trường ít hơn tại các
nơi khác. Bauer còn cho biết nhờ các hỏa tiễn của ông, mưa đá đã được đổi
thành các trận mưa tuyết. Năm 1906 Bauer trình bày các thí nghiệm của ông
trong buổi hội họp hàng năm của hội các nhà thiên nhiên học và vật lý học
người Đức.
Mặc dù những điều khám phá của Bauer cho người ta thấy rằng hỏa tiễn nổ trên
từng cao có thể gây ra một phần nào ảnh hưởng về mưa đá nhưng vào thời bấy
giờ, không ai có tiền và thời giờ để theo đuổi thêm công cuộc thí nghiệm
này. Rồi cuộc Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ và nhiều người đã nhận xét rằng tại
miền Verdun, nơi mà trận chiến xẩy ra ác liệt, đã không có một lần mưa đá
nào trong khi vào các năm trước thường có các trận mưa đá như vậy. Người ta
cũng xác nhận điều này tại miền có trận Marne diễn ra.
Về sau, công trình khảo sát của Bauer được Müller, một nhà làm pháo tại
Emmishofen, Thụy Sĩ, tiếp tục. Müller đã bắn các hỏa tiễn có đường kính 4 cm,
dài chừng 35 cm và lên cao được 900 mét. Tại nước Áo cũng có các hỏa tiễn
chống mưa đá nhưng vào thời bấy giờ, người ta chưa thấy kết quả rõ ràng của
phương pháp trên.
Tới năm 1955 Bộ Canh Nông Tây Đức mới chính thức cứu xét việc dùng hỏa tiễn
cỡ lớn vào việc chống mưa đá. Tại Liên Xô tờ báo Sao Đỏ đã tiết lộ vào ngày
14/7/1963 về việc dùng hỏa tiễn chống mưa đá tại vùng Caucase và Liên Xô đã
mua một số hỏa tiễn đặc biệt chế tạo tại Somma Campagna nước Ý do nhà khoa
học Angelo Patti. Người ta được biết rằng công ty của Patti không những chỉ
chế tạo hỏa tiễn chống mưa đá mà còn có loại dùng để gây nên các trận mưa.
Nhiều trại chủ thuộc các miền núi của nước Ý đã đặt mua rất nhiều hỏa tiễn
dùng cho mùa màng này.
Còn tại châu Úc, các nhà trồng trọt tại Queensland đã dùng cả hai loại hỏa
tiễn chống mưa đá, một loại nổ phá như thứ được dùng tại Thụy Sĩ và Áo, còn
loại kia chứa iode bạc giống như thứ của Patti. Các hỏa tiễn này đã có thể
bắn lên cao được 1,000 mét. Loại hỏa tiễn dùng cho mùa màng này có công dụng
thực sự hay không, điều này đã được các nhà trồng trọt tại các nước Liên Xô,
Ý, Áo, Thụy Sĩ và châu Úc công nhận.
4/ Tsiolkovski, Goddard và Oberth.
Ngoài các công dụng kể trên của hỏa tiễn, người ta còn thấy nhiều ích lợi
khác mà hỏa tiễn có thể đem lại chẳng hạn như việc chuyên chở thư từ.
Gần hai thế kỷ về trước, tại nước Pháp người ta đã dùng một cách truyền tín
hiệu do Claude Chappe phát minh. Theo cách này người ta phải trồng các trạm
tuyền tin khá cao, xa nhau và phải trông thấy nhau, mỗi trạm có các cần tín
hiệu chuyển động được và người coi trạm dùng một viễn kính nhỏ để nhận biết
tín hiệu của trạm phát rồi đặt cần tín hiệu đúng như thứ đã nhận, khiến cho
trạm kế tiếp trông thấy và lặp lại như vậy. Cách truyền tín hiệu này có
nhiều khuyết điểm vì dễ sai nhầm, không sử dụng được trong đêm tối và vào
các ngày có sương mù, lại không giữ được bí mật vì nếu có một người nào
thuộc các dấu hiệu truyền tin, họ có thể đọc được tất cả điện văn.
Cũng vì những khuyết điểm kể trên nên Hoàng Đế Napoléon I đã phải khuyến cáo
các nhà khoa học phát minh ra một phương pháp truyền tin nào hữu hiệu hơn.
Ít lâu sau, Samuel Thomas Von Sommering, Giáo Sư Cơ Thể Học tại thành phố
Munich, đã phát minh ra được một thứ máy điện tín và cho tường thuật phát
minh này trên tờ báo do Heinrich Von Kleist làm chủ nhiệm. Kleist thấy rằng
phát minh này chỉ có thể truyền đi các bản văn ngắn trong khi đó lại không
thể gửi đi các bức thư dài, các bản báo cáo, các tài liệu hay cả những vật
cần thiết như tiền bạc. Vì thế Kleist đã viết một bài báo vào ngày
10/10/1810 dưới nhan đề “Các ý tưởng đầu tiên về hỏa tiễn chuyên chở thư
từ”. Theo bài báo này, người ta sẽ dùng các quả đạn rỗng, bỏ thư vào bên
trong rồi bắn đi và theo tác giả, một bức thư gửi bằng cách này từ thành phố
Berlin tới thành phố Settin cách xa 75 dậm hay tới thành phố Breslau cách xa
180 dậm, mất nửa ngày, tức là 1/10 khoảng thời gian cần thiết cho việc
chuyên chở thư bằng ngựa.
Ý tưởng của Von Kleist rất mới lạ nhưng các điều kiện kỹ thuật thời bấy giờ
chưa cho phép người ta thực hiện được những điều mong mỏi và ngành hỏa tiễn
còn cần tới những nhà khoa học đặt nền móng về lý thuyết và những nhà bác
học thực hiện các lý thuyết này. Trong ngành Hỏa Tiễn, ba nhân vật tiền
phong là Konstantin Edwardovich Tsiolkovsky người Nga, Robert Hutchings
Goddard người Mỹ và Herman Oberth người Đức.
Vào năm 1903 Tsiolkovsky đã mang các quan niệm dự tưởng của các nhà văn vào
phạm vi khoa học. Ông đã mô tả dự án đầu tiên về “hỏa tiễn liên hành tinh”.
Ngoài ra Tsiolkovsky còn tiên đoán rằng chất kerosene sẽ là một thứ nhiên
liệu tốt cho hỏa tiễn. Nhưng Tsiolkovsky đã không làm một thí nghiệm nào về
loại hỏa tiễn dùng nhiên liệu lỏng vì ông không có đủ tiền và thị trấn nhỏ
bé Kaluga nơi ông trú ngụ không thể cung cấp cho ông các phương tiện cần
thiết.
Trong lúc này tại nước Pháp, Robert Esnault Pelterie đã trình bày trước Hội
Pháp Quốc Vật Lý vào ngày 15/11/1912 các quan niệm của mình về ngành Hàng
Không Liên Hành Tinh. Tới ngày 8/6/1927, Pelterie lại thuyết trình tại
trường Đại Học Sorbonne về sự khả hữu của các cuộc du lịch liên hành tinh để
rồi ông ta cộng tác với André Louis Hirsch mà lập ra Giải Thưởng R.E.P.
Hirsch vào ngày 1/2/1928.
Tại Hoa Kỳ Robert H. Goddart đã xét tới lý thuyết về hỏa tiễn từ đầu năm
1915. Mục đích của ông là dùng hỏa tiễn để khám phá thượng tầng khí quyển.
Bài khảo cứu đầu tiên của Goddard được trình lên Viện Smithsonian vào tháng
12 năm 1916 dưới nhan đề “Một Phương Pháp đạt tới thượng tầng cao độ”. Giáo
Sư Goddard đã nói tới độ cao trên 30,000 mét, nơi mà các khinh khí cầu không
thể lên tới được. Việc hỏa tiễn mang theo các dụng cụ khoa học cũng được
Goddard đề cập tới nhưng về ý tưởng này, ông không phải là người đầu tiên vì
vào ngày 15 tháng 2 năm 1906, một kỹ sư người Đức tại Dresden tên là Alfred
Maul đã xin bằng sáng chế về một loại hỏa tiễn mang máy ảnh và vài dụng cụ
thí nghiệm khác, nhưng hỏa tiễn của Maul chỉ lên cao hơn 800 mét, một cao độ
mà các khinh khí cầu thường đạt được một cách dễ dàng. Còn về Goddard, tuy
các hỏa tiễn của ông đơn sơ thực nhưng ông đã thành công trong việc phóng đi
từ ngày 16/3/1926. Hỏa tiễn của Goddard có một kích thước tương đối lớn: cao
12 mét, bay lên với tốc độ 60 dậm/giờ. Hỏa tiễn này là chiếc thứ nhất dùng
nhiên liệu lỏng tại Hoa Kỳ. Trong số các hỏa tiễn về sau của Goddard, chiếc
Nell đã có một trọng lượng 40 kilô, bay với tốc độ của âm thanh và lên cao
được 2,500 mét.
Sau các thành công đầu tiên của Goddard về phương diện hỏa tiễn, tại nước
Nga mới có vài nhà khoa học bắt tay vào kỹ thuật mới này, chẳng hạn như Giáo
Sư V. P. Wetschiukine và hỏa tiễn dùng nhiên liệu lỏng chỉ được thí nghiệm
từ năm 1932 do Friedrich Arturovitch Zander vẽ kiểu và chế tạo. Nhưng Zander
chết vào hai năm sau lần thành công đầu tiên và công cuộc nghiên cứu đã được
nhiều người khác kế tiếp, trong đó có Anatol A. Blagonravov, một nhân vật đã
giữ chức vụ quan trọng trong ngành Khoa Học Không Gian Liên Xô.
Tại nước Đức, Hermann Oberth đã nghiên cứu về hỏa tiễn. Giáo Sư Oberth cho
xuất bản cuốn “Hỏa Tiễn đi vào Không Gian” trong đó ông đã dành nhiều tranh
sách để nói về hỏa tiễn loại B. Đây là loại hỏa tiễn hai tầng dùng nhiên
liệu lỏng, có thể lên tới cao độ 80 cây số. Tới giữa mùa hè năm 1927 tại
nước Đức, các nhà khoa học nghiên cứu về hỏa tiễn thành lập Hội Du Hành
Không Gian và Obeth làm hội trưởng, đồng thời tại thành phố Vienne, một hội
tương tự cũng được Tiến Sĩ Franz Von Hoefft lập nên.
5/ Bom bay V- 1 và V- 2.

Bom bay V-1
Ngoài những hứa hẹn của hỏa tiễn áp dụng vào công việc khảo cứu thượng tầng
khí quyển, các nhà quân sự Đức còn nhận thấy rằng hỏa tiễn có thể là một vũ
khí lợi hại. Vì vậy Trung Tâm Thí Nghiệm Hỏa Tiễn Peenemunde được chính phủ
Quốc Xã chính thức thiết lập, đã cho ra đời hai loại bom bay V- 1 và V- 2.
Ngoài ra còn có trên một chục loại bom bay khác chưa thành công với các tên
gọi khác nhau như Rheinbote (người đưa tin từ sông Rhin), Rheintochter
(người con gái sông Rhin), Feuerlilie (hỏa lựu), Schmetterling (bươm bướm).
. .
Các thành công về hỏa tiễn của Đức Quốc Xã khiến cho Hoa Kỳ phải quan tâm
tới thứ võ khí mới này. Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, Hoa Kỳ đã dùng
các căn bản về bom bay của Đức, sửa đổi đi để chế biến thành các phi đạn.
Các nhà quân sự phân biệt nhiều loại phi đạn: thứ được dùng để bắn đi từ mặt
đất tới một mục tiêu trên mặt đất được gọi là phi đạn địa địa, nếu bắn từ
phi cơ xuống, đó là loại phi đạn không địa, còn thứ phi đạn chống phi cơ
được gọi bằng tên địa không.
Như vậy người ta thấy nẩy sinh ra nhiều loại võ khí và tùy theo tầm quan
trọng của từng loại mà các nhà quân sự quan tâm tới nhiều hay ít. Vào thời
bấy giờ, tuy các phi đạn với tầm bắn 200 dậm được coi là hệ trọng về mặt
quân sự nhưng vì châu Mỹ ở cách các nước khác bằng một đại dương, nên mặc dù
các kỹ sư tiên đoán tầm bắn 6,000 dậm, các nhà quân sự Mỹ vẫn còn nghi ngờ
khả năng của phi đạn địa địa.
Vào năm 1947, loại hỏa tiễn địa không được Hoa Kỳ chú ý hơn cả vì người ta
cho rằng nếu xẩy ra chiến tranh thì việc tấn công sẽ được thực hiện bằng
không lực. Vì thế 5 loại phi đạn của Đức là Rheintochter, Schmetterling,
Enzian (cây Long Đảm), Taifun (Cuồng Phong) và Wasserfall (Thác Nước) được
cải biến thành hỏa tiễn địa không. Các nhà quân sự chú ý tới loại Wasserfall
vì tuy đây không phải là loại lớn nhất mà vì có nhiều triển vọng hơn cả.
Hỏa tiễn Wasserfall có chiều cao 8 mét, trọng lượng khi cất cánh là 4,000
kilô và dùng nhiên liệu vinyl isobutyl ether với danh hiệu Visol. Hỏa tiễn
này được điều khiển bằng vô tuyến điện, có 4 cánh, lại mang một khối chất nổ
ở đầu đủ mạnh để phá hủy một phi cơ đang bay cách đó một khoảng xa.
Thứ hỏa tiễn phòng không đầu tiên được Hoa Kỳ chế tạo hàng loạt có danh hiệu
là Nike-A hay Nike-Ajax. Loại này dài chừng 10 mét, có tầm bắn gần 30 dậm và
trọng lượng cất cánh là 1,100 kilô. Loại hỏa tiễn này dùng nhiên liệu lỏng
trong khi phần đẩy dùng nhiên liệu đặc. Loại phi đạn Nike thứ nhì có tên là
Nike Hercules cao 12 mét, trọng lượng cất cánh là 5,000 kilô và tầm bắn là
80 dậm. Giống như phi đạn Nike Ajax, Nike Hercules gồm hai phần là thân phi
đạn và phần đẩy nhưng đều dùng nhiên liệu đặc. Loại phi đạn này bay nhanh
2,000 dậm trong 1 giờ và bắn hạ các mục tiêu trên cao 50,000 cây số.
Nike-Zeus là loại phi đạn thứ ba dùng để chống hỏa tiễn, cao 15 mét và có
trọng lượng cất cánh là 11,600 kilô.
6/ Các vệ tinh nhân tạo.
Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, khả năng của các loại bom bay V- 1 và V-
2 khiến cho các nhà khoa học nghĩ đến việc áp dụng phương tiện này vào việc
khảo cứu thượng tầng khí quyển. Tại Hoa Kỳ loại hỏa tiễn dùng cho khí tượng
học có tên là Deacon, dài 4 mét, có thể lên cao hơn 20,000 mét, mang theo
các dụng cụ đo áp suất, nhiệt độ và độ ẩm của không khí. Kế tiếp loại hỏa
tiễn Deacon là loại Aerobee, dài 8 mét, dùng nhiên liệu lỏng và có thể lên
cao tới 70 dậm.
Tuy được phóng lên thượng tầng khí quyển, các hỏa tiễn chỉ gặt hái được
những yếu tố trong một vài phút, thêm vào đó rất nhiều dụng cụ đo lường bị
thất lạc vì rơi xuống biển hay xuống các rừng núi. Các khuyết điểm này khiến
cho các nhà khoa học nghĩ đến việc dùng một vệ tinh luôn luôn bay chung
quanh địa cầu và liên tục gửi về các đài nhận đặt tại dưới đất những tín
hiệu ghi nhận về tỉ trọng không khí, tia vũ trụ, từ trường, các bức xạ của
mặt trời và các yếu tố khác về khí tượng cũng như về các vẩn thạch.
Vào năm 1954, Hội Nghị Quốc Tế Liên Hiệp Khoa Học quyết định rằng các chương
trình hỏa tiễn và vệ tinh sẽ được sử dụng trong Năm Địa Cầu Vật Lý Học (The
International Geophysical Year, 1957/58). Ngày 29 tháng 7 năm 1955, Hoa Kỳ
tuyên bố một chương trình phóng vệ tinh nhân tạo gọi là Dự Án Vanguard và dự
án này có mục đích phụng sự Khoa Học nói chung và cho Năm Địa Cầu Vật Lý Học
nói riêng. Vào ngày 01 tháng 7 năm 1957, tức là ngày đầu Năm Địa Cầu Vật Lý,
Liên Xô tuyên bố có thể phóng đi một vệ tinh nhân tạo trước Hoa Kỳ và lại có
trọng lượng lớn hơn. Nhưng giới khoa học đã không quan tâm đến lời rêu rao
đó và phe Tây Phương coi đây là một lời tuyên truyền. Đến ngày 4 tháng 10
năm 1957, một tháng trước khi vệ tinh Vanguard được sẵn sàng phóng đi, Liên
Xô đã đặt vào quỹ đạo của trái đất vệ tinh Sputnik I và mở đầu một kỷ nguyên
mới: “Kỷ Nguyên Liên Hành Tinh”.
Việc thành công của Liên Xô trên lãnh vực hỏa tiễn là một trái bom lớn phát
nổ, làm bàng hoàng Thế Giới Tự Do và cũng khiến người ta nghi ngờ đây là một
sự gian trá. Nhưng vệ tinh “Sputnik” (Mặt Trăng nhỏ) nặng 145 kilô và có
trọng lượng hữu ích 85.4 kilô vẫn bay đều chung quanh trái đất mãi tới ngày
4 tháng 1 năm 1958.
Trong khi Thế Giới còn đang tranh luận về vệ tinh của Liên Xô thì Tiến Sĩ
Anatol A. Blagonravov lại báo trước việc phóng hỏa tiễn có mang một vệ tinh
thứ hai. Rồi vệ tinh Sputnik II được đặt vào quỹ đạo của trái đất vào ngày 3
tháng 11 năm 1957. Trong lần viếng thăm Hoa Kỳ, Tiến Sĩ Blagonravov còn
trình bày sự quan trọng của chiếc vệ tinh mới này. Đối với Sputnik II, mọi
người kinh ngạc về trong lượng hữu ích quá lớn: 508 kilô và sự có mặt của
một phi hành gia đầu tiên: con chó cái Laika. Sau khi bay được 3,270 vòng
chung quanh trái đất, vệ tinh Sputnik II rơi vào đêm hôm 13 rạng ngày
14/4/1958 trong vùng Đại Tây Dương, giữa Nam Mỹ và châu Phi. Sự thành công
của Liên Xô trong lãnh vực hỏa tiễn làm tổn thương danh dự của Hoa Kỳ. Vì uy
tín quốc gia, người Mỹ quyết định lấy lại danh dự đã mất, dù với giá nào.
Ngày 6 tháng 12 năm 1957, sau 11 giờ kiểm soát tỉ mỉ, hỏa tiễn ba tầng mang
vệ tinh Vanguard lên khỏi mặt đất được một thước thì phát nổ, làm tiêu tan
tất cả hy vọng của Hoa Kỳ. Các kỹ thuật gia của Hải Quân phụ trách chương
trình Vanguard lại bắt tay vào việc phóng hỏa tiễn lần thứ hai. Ngày 22
tháng 1 năm 1958 hồi 21 giờ, lệnh khai hỏa bắt đầu nhưng vì trở ngại kỹ
thuật, công cuộc này phải hoãn tới ngày 24 rồi ngày 25 để rồi lại bắt đầu
vào ngày 26 và một tai nạn đã xẩy ra khiến người ta phải thay thế tất cả
tầng thứ hai của hỏa tiễn.
Vào thời gian này, không phải là lúc chần chờ được nữa. Tại khắp nơi trên
đất Hoa Kỳ, nhiều người chỉ trích sự làm chậm chễ việc phóng vệ tinh
Explorer I của Lục Quân. Nguyên vào giai đoạn này, tại Hoa Kỳ với cùng
chương trình hỏa tiễn, ba bộ Hải Quân, Không Quân và Lục Quân đều thi đua
phụ trách một cách riêng rẽ. Trong khi chờ đợi nhóm chuyên viên Hải Quân của
Tiến Sĩ Hagen sẵn sàng, các chuyên viên Bộ Lục Quân do Von Braun điều khiển
cho biết có thể dùng hỏa tiễn 4 tầng Jupiter-C cho việc đặt một vệ tinh vào
quỹ đạo của trái đất. Ngày 31/1/1958 tại Mũi Caneveral sau 8 giờ điều chỉnh,
việc phóng vệ tinh Explorer I nặng tổng cộng 14 kilô đã thành công. Ngày
5/2/1958, lần phóng vệ tinh Vanguard lại gặp thất bại. Bộ Lục Quân được phép
phóng đi một vệ tinh Explorer khác vào ngày 5/3/1958 nhưng lần này, vệ tinh
chỉ đi được chừng 3,000 cây số rồi rơi xuống Đại Tây Dương
Các nhà hữu trách trong chương trình Vanguard làm việc không ngừng để phục
hận và ngày 17/2/1958, vệ tinh Vanguard I có đường kính 15 cm đã bay đều
chung quanh trái đất. Mọi người Mỹ thở ra nhẹ nhàng và cảm thấy dễ chịu vì
giữa Lục Quân và Hải Quân Hoa Kỳ, cả hai bên đều được một điểm và giữa Liên
Xô và Mỹ, mỗi phe đều có 2 vệ tinh bay quanh trái đất.
 
Vangard-2 của Mỹ
Ngày 5/3/1958, vệ tinh Explorer II được phóng đi nhưng không thành công. Bộ
Lục Quân lại cho phép phóng tiếp vệ tinh Explorer III vào ngày 26/3, lần này
kết quả mỹ mãn, vệ tinh sống được 93 ngày. Bên Hải Quân, một vệ tinh
Vanguard nặng 9.75 kilô được phóng đi nhưng thất bại. Sự tranh đua giữa Hải
Quân và Lục Quân đang kịch liệt thì vào ngày 15/5/1958, Liên Xô phóng đi vệ
tinh Sputnik III nặng 1,326 kilô và có 968 kilô dụng cụ đo lường. Phía Hoa
Kỳ phản ứng lại bằng 2 lần phóng vệ tinh Vanguard nữa vào các ngày 27/5 và
26/6 nhưng cả hai đều gặp thất bại. Đúng một tháng sau, Hoa Kỳ sửa chữa sự
thua kém bằng vệ tinh Explore IV.
Vào thời bấy giờ, một loạt vệ tinh khác được chế tạo có tên là Pioneer và sẽ
được phóng đi do hỏa tiễn Thor-Able của Bộ Không Quân. Loại vệ tinh này có
mục đích dùng để thám hiểm mặt trăng. Hỏa tiễn đầu tiên được phóng đi vào
ngày 17 tháng 8 năm 1958 nhưng sau khi lên cao được 15,000 cây số, hỏa tiễn
đã phát nổ. Chiếc hỏa tiễn thứ hai mang danh hiệu Pioneer I được khai hỏa
vào ngày 11 tháng 10 năm 1958, đã lên cao được 71,000 dậm nhưng vì gia tốc
còn kém nên hỏa tiễn đã rơi xuống Nam Thái Bình Dương sau 43 giờ 17 phút
rưỡi. Hỏa tiễn Pioneer II lên cao được 1,000 dậm vào ngày 8/11/1958 nhưng vì
tầng trên không khai hỏa được nên hỏa tiễn đã rơi xuống Đại Tây Dương 42.5
phút sau khi cất cánh. Ngày 6/12/1958, Lục Quân Hoa Kỳ lại phóng đi hỏa tiễn
Pioneer III, chiếc này đã lên cao được 66,654 dậm nhưng rồi rơi bốc cháy
trong lớp khí quyển trên Xích Đạo châu Phi.
Vào cuối năm 1958, phía Hoa Kỳ thắng điểm sau khi phóng nốt vệ tinh Score
vào ngày 18/12 do hỏa tiễn Atlas. Vệ tinh Score đã truyền đi lời chúc mừng
Hòa Bình của Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower. Nhưng Thế Giới Tự Do không vui
được lâu thì vào ngày 2/1/1959, Liên Xô phản ứng bằng vệ tinh Lunik I nặng
361 kilô. Vệ tinh này đi cách mặt trăng 4,600 dậm rồi bay quanh mặt trời nên
trở thành hành tinh Mechta. Hoa Kỳ liền trả lời bằng một loạt phóng khác
trong đó có thể kể đến sự thành công của các vệ tinh Vanguard II ngày
17/2/1959, Discoverer I ngày 28/2, Pioneer IV ngày 3/3, Discoverer II ngày
13/4, Explorer VI ngày 7/8, Discoverer V ngày 13/8 và Discoverer VI ngày
19/8/1959.
Người ta không biết rõ các lần thất bại của Liên Xô nhưng các thành tích ghi
được của Liên Xô cũng rất đáng kể chẳng hạn như vệ tinh Lunik II phóng đi
vào ngày 12/9/1959 đã cho biết chung quanh mặt trăng không có từ trường, rồi
vào ngày 4/10, vệ tinh Lunik III được phóng đi và đã gửi về trái đất hình
ảnh mặt sau của mặt trăng mà con người chưa từng nhìn thấy. Về phía Hoa Kỳ,
tính tới cuối năm 1959, thêm 4 vệ tinh đã được đặt vào quỹ đạo là Vanguard
III, Explorer VII, Discoverer VII và Discoverer VIII.
Ngày 11/3/1960, Hoa Kỳ thành công trong việc đặt vệ tinh Pioneer V vào quỹ
đạo mặt trời, đây là một thành công đáng kể nhất về truyền tin vì các tín
hiệu được truyền đi từ 20 triệu dậm. Sau đó Hoa Kỳ lại có chương trình
Ranger. Vệ tinh Ranger I được phóng đi vào ngày 23/8/1961 và Ranger II khai
hỏa vào ngày 18/11/1961 đã gặp thất bại. Ranger III được dự trù phóng lên
mặt trăng và vào ngày 16/1/1962, hỏa tiễn được khai hỏa nhưng vì phần đẩy
Atlas đã cho tốc độ quá cao nên vệ tinh bay cách mặt trăng 22,862 dậm để rồi
đi vào quỹ đạo của mặt trời. Tới vệ tinh Ranger IV bắn đi vào ngày
23/4/1962, tuy trúng mặt trăng nhưng các bộ phận khác bị hư hỏng. Ngày
18/10/1962, vệ tinh Ranger V được phóng lên, đã đi cách mặt trăng 450 dậm
rồi bay chung quanh mặt trời.
Về phía Liên Xô trong năm 1963, họ thử phóng vệ tinh tới mặt trăng 3 lần vào
các ngày 4/1, 5/2 và 2/4 nhưng cả ba lần này đều gặp thất bại trong khi đó
Liên Xô và Hoa Kỳ đều tìm cách phóng người lên không gian.
7/ Các phi thuyền.
Người đầu tiên được phóng lên quỹ đạo của trái đất trong một phi thuyền
không gian là viên phi công người Nga Yuri Alekseyevich Gagarin. Ngày
12/4/1961 hồi 9:07 giờ Moscow, phi thuyền Vostok I mang theo Gagarin được
phóng lên tại Baikonur, một miền sa mạc phía đông bắc biển Aral. Tốc độ của
phi thuyền Vostok I là 17,000 dậm một giờ. Phi thuyền đã bay một vòng trên
quỹ đạo v mặt kiểm soát khí động
học.
Bốn tháng sau vào ngày 6/8/1961, một phi thuyền thứ hai chở người được Liên
Xô phóng lên tại Baikonur lúc 9:00 giờ sáng giờ Moscow. Đại Úy phi hành
Sherman Titov đã điều khiển phi thuyền Vostok II bay quanh địa cầu 17 vòng
trong 25 giờ liền. Hai phi thuyền Vostok I và Vostok II đều có hình đáng
giống nhau và được phóng đi tại cùng một nơi.
Tới ngày11/8/1962 hồi 11:30 giờ sáng, Liên Xô lại ghi một thành tích đầu
tiên vào Lịch Sử Không Gian bằng cách phóng đi một phi thuyền hai người
ngồi. Vostok III được phóng đi tại Trung Tâm Hỏa Tiễn Baikonur mang theo
Thiếu Tá Andrian Grigoryevich Nikolayev. Cũng tại nơi này 23 giờ 32 phút
sau, phi thuyền Vostok IV được phóng đi lúc 11:02 giờ ngày 12/8, mang theo
Trung Tá Pavel R. Popovich. Mục đích của cuộc bay song hành này nhằm thu
lượm các yếu tố thực nghiệm về sự thiết lập liên lạc giữa hai phi thuyền,
phối hợp các hoạt động của các nhà phi hành và kiểm soát hậu quả của các
điều kiện không gian ảnh hưởng đến cơ thể con người.
Ngày 15/8 tức là 4 ngày sau khi được phóng đi, phi thuyền Vostok III đáp
xuống lúc 9:55 giờ gần Karaganda trong miền Kazakstan, cách Moscow 1,500 dậm
về phía đông nam. Nhà phi hành Nikolayev đã bay 64 vòng chung quanh trái đất
và vượt qua 1,633,000 dậm tức là 3 lần rưỡi khoảng cách từ trái đất tới mặt
trăng. Sáu phút sau khi phi thuyền Vostok III hạ cánh, Popovich cũng đáp
xuống tại cùng một địa điểm sau khi đã bay chung quanh trái đất 48 vòng và
vượt qua 1,247,000 dậm.

Các chi tiết kỹ thuật ngoài tin phóng đi và đáp xuống của phi thuyền cũng
như các thành quả thu lượm được trong các cuộc bay không gian đều không được
Liên Xô phổ biến. Trong khi đó Hoa Kỳ luôn luôn cho Thế Giới theo dõi những
tiến bộ về Khoa Học Không Gian. Sau khi
chương trình Mercury dự trù phóng
người lên quỹ đạo của trái đất được thực hiện, thì từ đầu năm 1959, việc
tuyển chọn các nhà phi hành cũng bắt đầu. Cơ quan Quản Trị Hàng Không và
Không Gian Quốc Gia, hay Cơ Quan NASA, đề ra các tiêu chuẩn dùng cho việc
tuyển lựa các thí sinh như sau: nhà phi hành phải tốt nghiệp đại học với
bằng cấp về Khoa Học hay Kỹ Sư, phải có chứng chỉ của một trong các trường
phi công quân sự thử máy bay, phải có ít nhất 1,500 giờ bay. Về thể chất,
nhà phi hành phải dưới 40 tuổi, không cao hơn 1 mét 80 và không được nặng
quá 84 kilô.
Các bác sĩ chuyên về Y Khoa Không Gian đã xét qua 500 phi công thử máy bay
và chọn ra 110 người. Tới tháng 2 năm 1959, con số kể trên giảm xuống 69
người rồi các thí sinh được đưa tới Washington để thử thách về tâm lý và sức
khỏe. Các nhà tổ chức đã cho các thí sinh phi hành biết về chương trình
Mercury và đòi hỏi ở họ sự tình nguyện. Do đó còn 66 người đầy thiện chí.
Rồi cuộc trắc nghiệm tâm lý được thi hành để còn lại 32 người qua kỳ thử
thách về thể chất. Các bác sĩ đã khám xét tai, mắt, mũi, họng, tim, xương,
máu và da thịt. . . Các thí sinh phải chịu sức ly tâm nặng gấp mấy lần trọng
lực của trái đất, phải nghe các tiếng động ầm ĩ trong hàng giờ đồng hồ và
lại phải sinh sống trong một nơi hoàn toàn yên lặng. Trong tất cả những lúc
thử thách, thí sinh được do áp lực máu, nhịp hô hấp, nhiệt độ và nhịp tim
đập. Cuối cùng 7 người được chọn trong số 32 dù rằng, theo như lời một bác
sĩ, những người này đều là các phi công có thể chất rất hoàn toàn.
Nếu xét theo mẫu tự thì các nhà phi hành được kể như sau: Malcolm Scott
Carpenter, Hải Quân; Leroy Gordon Cooper, Không Quân; John Herschel Glenn,
Hải Quân; Virgil Ivan Grissom, Hải Quân; Walter Marty Schirra Jr., Alan
Bartlett Shepard, Hải Quân và Donald Kent Slayton, Không Quân.
Bẩy nhà phi
hành này phải qua một kỳ tập dượt rất gay go. Họ được học hỏi về Toán Học,
Vật Lý, Thiên Văn, Khí Tượng, Hàng Không, Không Gian Liên Hành Tinh và Sinh
Lý Học Không Gian. Họ được huấn luyện về mưu sinh trên biển cả và trên sa
mạc, và cả về những điều bất trắc khi phi thuyền đáp xuống. Các cách điều
khiển và kiểm soát phi thuyền trên quỹ đạo cũng được giảng dạy cho họ. Họ
được thực tập về các kỹ thuật bay, những nhiệm vụ trên không gian và cách
vượt lên cũng như đáp xuống mặt đất. Ngày 21/2/1961 cơ quan NASA tuyên bố
trong chuyến bay đầu tiên, trách nhiệm sẽ được giao phó cho một trong 3
người là Glenn, Grissom và Shepard. Trong việc tuyển chọn cuối cùng được
thực hiện vào tháng 5 năm đó, Alan Shepard được đề cử.

23 ngày sau khi Liên Xô đặt vào quỹ đạo của trái đất một nhà phi hành, phi
thuyền Freedom- 7 mang theo Alan Shepard cũng được phóng lên vào lúc 9:34
giờ ngày 5/5/1961 bằng hỏa tiễn Redstone do nhóm chuyên viên của Wernher Von
Braun chế tạo. Nhưng phi thuyền Freedom- 7 chỉ bay một phần quỹ đạo. 4 phút
rưỡi sau khi hỏa tiễn được khai hỏa, nhà phi hành Shepard đã lên tới điểm
cao nhất là 115 dậm, ông ta đã nhìn vũ trụ qua viễn kính toàn cảnh và đã
phải thốt lên câu “cảnh đẹp quá chừng”. 8 phút sau khi phóng lên, phi thuyền
Freedom- 7 trở về lớp khí quyển và Shepard đã phải chịu đựng áp suất 10 G.
Lúc 9:45 giờ, phi thuyền đáp xuống bình yên ngoài khơi Florida 302 dậm. Alan
Shepard được chở lên Hàng Không Mẫu Hạm Lake Champlain bằng máy bay trực
thăng.
Ngày 21/7/1961, phi thuyền Liberty Bell trong chương trình Mercury được
phóng lên không gian lúc 7:20 giờ. Với phi thuyền này Grissom đã bay như
Shepard nhưng vì hỏa tiễn Redstone đã cháy 3/10 giây lâu hơn dự định, nên
phi thuyền Liberty Bell đã lên cao hơn 3 dậm và đi xa hơn 9 dậm trái với
điều dự tính. Nhờ đã thực hiện hàng trăm phi vụ tại Đại Hàn, Đại Úy Grissom
vượt qua được những trở ngại về máy móc và đã đáp xuống an toàn trên Đại Tây
Dương cách đảo lớn Bahama 145 dậm về phía đông bắc.
9 tháng rưỡi sau khi Shepard được phóng lên không gian, vào ngày 20/2/1962
phi thuyền Friendship- 7 chở John Herschel Glenn do hỏa tiễn Atlas- B phóng
đi lúc 9:47 giờ, đã đi vào quỹ đạo của trái đất. Trong 4 giờ 56 phút, John
Glenn đã bay chung quanh trái đất 3 vòng, thực hiện quãng đường 81,000 dậm.
Trong cuộc bay này, John Glenn đã nhìn thấy 4 lần hoàng hôn, 3 lần trong khi
bay và một lần lúc đáp xuống. Hồi 14 giờ 43 phi thuyền Friendship- 7 đã hạ
xuống biển, phía bắc Porto Rico. Sau cuộc bay, John Glenn trở nên vị anh
hùng không gian của Hoa Kỳ kể từ thời Lindberg và được toàn thể Thế Giới Tự
Do ca ngợi. Tại mũi Canaveral, nhà phi hành này được Tổng Thống, bà Kennedy
và cô con gái Caroline nghênh đón. John Glenn được tiếp đón tưng bừng tại
New York, Washington và tại tỉnh cư ngụ New Concord thuộc tiểu bang Ohio.
Sau sự thành công vẻ vang của John Glenn, cuộc phóng vệ tinh tiếp theo được
trù liệu cho hàng triệu người trên thế giới theo dõi bằng vô tuyến truyền
hình. Hồi 8 giờ 45 phút ngày 24/5/1962, nhà phi hành Malcolm Scott Carpenter
bắt đầu bay quanh trái đất bằng phi thuyền Aurora- 7 với vận tốc 17,459 dậm
một giờ. Nhưng trong khi bay, hệ thống kiểm soát tự động đã gặp trở ngại,
chiếc áo không gian của nhà phi hành không còn điều hành như cũ khiến cho
nhiệt độ thân thể tăng lên tới 39 độ. Trong 45 phút toàn thể Hoa Kỳ lo lắng
và chờ đợi. Sau khi đã bay được 3 vòng như John Glenn, Carpenter sẵn sàng
đáp xuống, lúc này nhiên liệu lại thiếu hụt quá mức vì phi thuyền không được
điều khiển tự động mà cần phải được điều khiển bằng tay. Để sửa chữa sự sai
lệch vì thiếu nhiên liệu, Carpenter phải cho dương một chiếc dù ở cao độ
9,000 mét thay vì 7,000 mét như đã dự định. Đáng lẽ dù phải tự động mở tại
3,300 mét nhưng bị trở ngại khiến cho Carpenter phải dùng cần tay để dương
dù ở 3,200 mét cao độ, trong khi đó việc truyền tin bị gián đoạn mà nhà phi
hành không hay biết. Dù sao, Carpenter cũng vẫn điều khiển phi thuyền
Aurora- 7 đáp xuống nhẹ nhàng cách vùng ấn định 250 dậm.
Tới ngày 3/10/1962, phi thuyền
Sigma- 7 được hỏa tiễn Atlas phóng lên lúc 7
giờ 15, mang theo nhà phi hành Walter Schirra Jr. Từ khi ở trong không gian,
Schirra luôn luôn ghi chép và báo cáo về trái đất những sự việc xẩy ra. Nhà
phi hành Slayton tại trung tâm kiểm soát Mercury đã nghe thấy Schirra hô lớn
“Sayonara” khi từng hỏa tiễn chót rời phi thuyền. Schirra đã nói rõ những
điều nhận xét về những vệt sáng mà John Glenn gọi là “những con ruồi lửa
không gian” khi ngắm nhìn trong chuyến bay trước kia.
Trong vòng bay đầu tiên trên miền Woomera của châu Úc, các nhà khoa học tại
nơi này đã chiếu lên trời 3 ngọn đèn cực sáng. Schirra đã nhìn thấy ánh sáng
nhưng không phân biệt được từng ngọn đèn một vì có mây che phủ. Schirra tới
Bắc Mỹ trong cuối vòng bay này và đã trò chuyện với nhà phi hành Carpenter
khi đó đang ở Guaymas, Mễ Tây Cơ. Trong khi bay qua đất Mỹ, Schirra đã liên
lạc với John Glenn tại mỏm Arguello, California và với Slayton tại Mũi
Canaveral rồi dùng thức ăn trên phi thuyền. Một đài theo dõi đặt tại một tầu
biển thả neo trên Ấn Độ Dương đã nhìn thấy phi thuyền trong 5 phút liền, ở
trên cao 100 dậm khi Sigma- 7 bay vòng thứ ba.
Trong lần bay thứ tư, vị giám đốc chương trình phi hành là Christopher Kraft
ngỏ lời khen ngợi Schirra qua máy vô tuyến về phương pháp điều khiển phi
thuyền một cách chu toàn. Bác sĩ Charles Berry của trung tâm kiểm soát cũng
cho biết tình trạng cơ thể của nhà phi hành rất điều hòa. Chính trong vòng
bay thứ tư này, Schirra đã chụp ảnh trái đất, nhất là miền Nam Mỹ. Trong
vòng bay thứ 6, phi thuyền đã bay ngang qua Nam Mỹ ngay trên Mũi Hảo Vọng,
Nam Phi. Vì mây quá dày che phủ, Schirra đã báo cáo không nhìn thấy ánh sáng
của ngọn đèn 3 triệu nến đặt tại Durban, Nam Phi. Hồi 16 giờ 07 phút,
Schirra khai hỏa hỏa tiễn đẩy ngược đầu tiên. Dù được cho mở ra lúc 16 giờ
21 và phi thuyền Sigma- 7 hạ thấp dần trong bầu khí quyển. Đường bay của phi
thuyền đã được hàng không mẫu hạm USS. Kearsarge theo dõi bằng radar. Cuối
cùng Sigma- 7 đã đáp xuống Thái Bình Dương sau khi bay được 155,000 dậm. Nhà
phi hành và phi thuyền được trục lên và Schirra nghỉ trên hàng không mẫu hạm
3 ngày trươc khi trở về Houston, Texas.
Các chuyến bay của các nhà phi hành trong Chương Trình Mercury chỉ là bước
đầu của con người trong công trình thám hiểm không gian. Sau Chương Trình
Mercury, Hoa Kỳ dự trù 3 chương trình phóng người vào không gian kế tiếp, đó
là Gemini, Apollo và Dyna Soar. Chương Trình Gemini và Apollo được Cơ Quan
NASA thi hành trong khi Dyna Soar là chương trình của Không Quân Hoa Kỳ.


©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.net
Phạm Văn Tuấn
|