Những bài cùng tác giả
I. Tuổi thơ không suông sẻ
Cách đây 200 năm, ngày 12/2/1809, tại ngôi làng nhỏ
Shrewsbury, vùng Shropshire miền tây nước Anh, cậu bé Charles Robert Darwin
đã chào đời. Cậu đứng thứ 5 trong gia đình có 6 người con. Ba người chị là
Marianne (1798), Caroline (1800), và Susan (1803). Người anh là Erasmus
(1804) và người em trai là Catty (1810).Mẹ cậu, bà Susannah, là con gái
trong vọng tộc Wedgewood, nhưng đã qua đời ở tuổi 52 vào tháng 7-1817, khi
cậu mới lên 8 . Cha cậu, ông Robert W. Darwin và ông nội cậu, ông Erasmus
Darwin đều là những bác sĩ danh tiếng. Ông ngoại cậu là Josiah Wedgwood.
Erasmus Darwin 1731-1802
Ông nội Charles Darwin |
Josiah Wedgwood 1730-1795
Ông ngoại Charles Darwin |
Về sau theo Francis, con ông kể lại thì ông đã được
thừa hưởng khí chất hòa nhã thân thiện từ mẹ và tài hoa dào dạt từ cha.
Darwin năm 7 tuổi (1816)
Tháng 7-1817 khi mới 8 tuổi ông đã mất đi người mẹ
thân yêu của mình. Tháng 9 năm 1818 Darwin được gửi vào học ký túc ở trường
Công giáo Shrewsbury, một ngôi trường nội trú ở gần nhà, nhưng ở đó ông
chẳng học được gì cả. Hồi tưởng lại cuộc sống 7 năm tại nhà trường này, ông
than phiền: ”Đối với sự phát triển trí tuệ của tôi, không gì tồi tệ hơn ngôi
trường của tiến sỹ Butler. Nó cổ điển quá, ngoài những kiến thức sử địa cổ
xưa, tôi chẳng học thêm được điều gì cả”. Khi rời khỏi nhà trường, đánh giá
của thầy giáo và cha đối với ông là:”Một đứa trẻ hết sức bình thường, khả
năng trí tuệ dưới mức trung bình” (!). Cha ông từng tức giận mắng ộng: ”Con
ngoài việc bắn chim, đùa nghịch với chó và bắt chuột thì chẳng chịu làm gì
cả. Nếu cứ như vậy, sẽ là nỗi hỗ thẹn không chỉ đối với con, mà còn là đối
với cả gia đình”. Darwin cảm thấy rất tủi thân, sau này ông nhớ lại: ”Cha
tôi là một người tốt bụng, nhưng ông đã cư xứ với tôi không công bằng”.
Năm 1825, Darwin được đưa đến Edinburgh, thủ phủ xứ
Scotland, theo học nghề y để nối nghiệp cha và ông. Nhưng bản tính của ông
hoàn toàn không thích hợp để làm thầy thuốc. Nếu môn Giải phẫu học và Tiếng
La Tinh chỉ làm cho ông chán nản, thì cảnh máu mê càng khiến ông phản cảm.
Xem người khác mổ và sau này ông tự tay mổ dưới điều kiện không có thuốc mê
lúc bấy giờ, ông đã thốt lên, “Đây là một nghề đầy thú tính(!)” và ông đã bỏ
học luôn.
Ông dành mùa hè năm 1825 để giúp đỡ cha ông như một
trợ thủ chữa bệnh cho những người nghèo khổ ở Shropshire. Sao đó đươc ông
nội đưa vào học ở trường Đại học Edinburgh. Ông thích môn Vạn vật học nghiệp
dư hơn là các môn học chính khóa và đã rất sớm thể hiện khả năng nghiên cứu
khoa học. Ông học kỹ thuật nhồi thú từ thầy John Edmonstone và tỏ ra rất
thích thú . Khi là sinh viên năm thứ hai ông đã gia nhập Học hội Plinian
(Plinian Society). Ông góp phần khám phá về giải phẫu học và chu kỳ sinh
sống của nhiều động vật không xương sống biển ở vịnh Forth. Năm 1827, ông đã
trình bày trước Học hội Plinian về sự phát hiên ra các bào tử đen thường gặp
ở sò (oyster) chỉ là trứng của một loài đỉa (skate leech). Ông cũng theo học
thày Robert Jameson về địa chất học
Thày ông, tiến sĩ Robert Edmund Grant (1793-1874) ,
từng phát biểu một bài trên ”Tạp chí triết học mới”, ủng hộ mạnh mẽ thuyết
biến đổi về loài. Ông cũng từng đọc cuốn ”Đông vật học” của ông nội ông
-Erasmus Darwin, người ủng hộ thuyết ”biến hình luận” của nhà tự nhiên học
người Pháp Jean-Baptiste Lamarck (1744-1829), người đã trình bày trong tác
phẩm “Triết học động vật” từ nguồn gốc sự sống đến nguồn gốc con người theo
quan điểm “Tự nhiên thần luận”- “Thiên nhiên đã sử dụng nhiệt, ánh sáng,
điện và độ ẩm tạo nên sự sống ngẫu nhiên và trực tiếp”. Lamarck cho rằng các
nhân tố chính của sự tiến hóa là sự tiệm tiến (gradation) và sự biệt hóa
thích nghi do điều kiện biến đổi của môi trường.

J.B. Lamarck
Trước Lamarck đã có không ít quan điểm về sự tiến hóa
của các loài sinh vật. Nhà triết học cổ Hy Lạp
Platon
(427-347 trước Công
nguyên) với Thần tạo luận (Creationism) cho rằng mọi sinh vật đều do nhân tố
siêu hình là Tạo hóa sinh ra. Học trò Platon là
Aristotle (334-322 trước CN)
lại cho rằng mọi vật trong thiên nhiên đều tuân theo một hướng duy nhất là
tiến tới đạt hướng lý tưởng – mục đích cuối cùng (Mục đích luận-
Theleology). Hòn đá hướng tới thực vật, thực vật hướng tới động vật, động
vật hướng tới người, người hướng tới trời (!). Thuyết âm dương thời
Trung
Hoa cổ đại cho rằng nguồn gốc phát sinh và nguyên nhân phát triển của vạn
vật là do sự tương tác giữa âm và dương . Âm Dương tương tác ra Ngũ hành,
Ngũ hành tương tác sinh ra vạn vật (!). Quan điểm Nguyên tử luận (Atomism)
của các nhà triết học cổ Hy Lạp như Heraclite (530-470 trước CN), Democrite
(460-370 trước CN) và Empedocle (490-430 trước CN) cho rằng toàn bộ thiên
nhiên bắt đầu từ những phần tử nhỏ nhất đến những vật thể vĩ đại nhất đều
trong sự xuất hiện và tiêu diệt vĩnh viễn trong một quá trình liên tục vận
động, biến đổi không ngừng.
Nhưng tất cả chưa đủ để lay chuyển sự tin tưởng của
Darwin đối với những quan điểm về”Thượng Đế tạo ra muôn loài” như được ghi
trong Kinh Thánh.
Giấc mộng thầy thuốc không thành, cha ông muốn
Darwin trở thành mục sư. Tháng 10 năm 1927, Darwin lại một lần mài ghế tại
Học viên Cơ đốc giáo (Christ’s College), thuộc Đại học Cambridge. Nhưng số
mệnh chưa mỉm cười với ông. Ông từng viết:”Ba năm ở Cambridge, thời gian đều
thật lãng phí. Chương trình ở Đại học này, chẳng khác gì thời ở Edinburgh và
thời Trung học”. Nhưng đối với ông, đây vẫn là 3 năm vui vẻ. Ông tự học là
chính và vẫn thi đậu tất cả các môn một cách dễ dàng. Ông thích thu thu thập
các mẫu bọ Cánh cứng (beetle). Ông rất thân với John Stevens Henslow – về
sau trở thành một giáo sư Thực vật học và cũng là chuyên gia về bọ Cánh
cứng. Darwin chịu ảnh hưởng của Henslow và coi khoa học như một tôn giáo
Thần học tự nhiên (natural theology)
II. Cuộc hành trình lịch sử trên
tàu Beagle
Trong lúc cha ông đã tuyệt vọng với đứa con ưa ”bắt
chuột” này, thì chuyến đi trên chiếc quân hạm khảo sát mang tên HSM Beagle
thuộc hải quân Hoàng gia Anh với tư cách nhà vạn vật học không lĩnh lương,
bắt đầu từ ngày 27/12/1831 và kết thúc ngày 2/10/1836, đã làm thay đổi cuộc
đời Darwin.
Darwin có được chuyến đi cũng thật là gian truân. Lúc
đầu cơ hội đó dành cho 2 nhân viên thực tập, nhưng họ từ chối, cơ hội đó mới
dành cho Darwin. Lúc đó ông vừa trẻ vừa thiếu kinh nghiệm, nhưng ông lại
được bạn ông, G/S Henslow hết sức tin tưởng và tiến cử. Tuy vậy, lại vấp
phải sự phản đối quyết liệt cha ông. Bác sỹ Robert Darwin, cha ông đã nói:
”Chỉ cần một người có kiến thức thông thường ủng hộ ý tưởng kỳ quặc của con
tôi, tôi sẽ cho nó đi”. Người đó đã xuất hiện, chính là cậu và bố vợ tương
lai của Darwin, Wedgewood đã thuyết phục được Robert Darwin.
Tàu Beagle cũ kỹ 3 cột buồm và 10 khẩu cannon, điều
kiện ăn ở rất kém. Một góc bàn đặt bản đồ hàng hải ở boong tàu, chính là
”phòng làm việc” của Darwin cùng với thuyền trưởng, chiếc ghế bố ông nằm
phải treo trên chiếc bàn đó. Darwin hay bị say sóng, chỗ ông ở lại là chỗ
chòng chành nhất. Có lúc đã xuất hiện những kiến nghị bất lợi cho ông, muốn
rút nhắn hành trình. May mắn thay, cuộc khảo sát vẫn được tiến hành như dự
định. Beagle đã đi vòng quanh trái đất, đầu tiên vượt Đại Tây Dương, có dừng
lại ở quần đảo Cape Verte (Mũi Xanh), rồi đi dọc bờ biển Đông và Tây Nam Mỹ.
qua đảo Đất Lửa (Terre de Feu) rồi vượt Thái Bình Dương . Tầu dừng lại khá
lâu ở quần đảo Galapagos. Đây là một quần đảo có 12 đảo lớn và hàng trăm đảo
nhỏ, cách vùng xích đạo Nam Mỹ khoảng 1000 km. Tầu đi về phía tây châu Mỹ
đến đảo Tahiti , New Zealand, Australia, quần đảo Mauritius , Cape of Good
Hope (mũi Hảo vọng), đảo Sainte Hélène, đảo Ascension, rồi trở lại Brasil
trước khi quay về Anh. Cuộc hành trình kéo dài 5 năm , từ tháng 12 năm 1831
đến tháng 10 năm 1836. Khi ra đi Darwin chỉ mới 22 tuổi.

Khi tàu Beagle đi theo hướng nam dọc bờ biển Nam Mỹ,
Darwin đã chú ý đến các biến chủng thay đổi tùy theo những vùng địa lý khác
nhau. Ông tự nhủ: Thượng Đế phải mất bao thời gian và công sức để tạo ra
những khác biệt nhỏ bé như vậy, một cách làm không kinh tế chút nào!
Những băn khoăn đó trở nên nổi bật lên khi ông khảo sát quần đảo Galapagos.
Quần đảo này nằm ở vùng xích đạo cách bờ phía tây Nam Mỹ 600 dặm (1 dặm=
1,6093km), bao gồm 20 đảo núi lửa nhỏ cằn cỗi, về mặt địa chất còn rất trẻ.
Đây là vùng đất có dân cư thưa thớt nên có điều kiện thích nghi cho nhiều
biến dị mà trên đất liền không thể xảy ra được. Những động vật sống trên
những hòn đảo nhỏ đó tuy cùng một chi với động vật trên lục địa Nam Mỹ,
nhưng là loài đặc hữu của đảo. Ngoài ra, Darwin còn nhận thức được, trên các
đảo còn có các loài chim, rùa độc đáo riêng của mình, có những nét khác biệt
rất rõ ràng. Nhóm chim Bạch yến ở đó tuy gần giống nhau nhưng ở đó có thể
phân thành 14 loài khác nhau. Không có loài nào trong số này có ở những nơi
khác trên thế giới. Darwin cho rằng xưa kia có một loài bạch yến từ xa đến
sống ở đây, rồi biến đổi dần qua nhiều thế kỷ thành các loài hiện nay. Có
nhóm ăn một loại hạt, có nhóm ăn loại hạt khác và có nhóm ăn sâu bọ. Chúng
có những loại mỏ với kích thước và cấu tạo khác nhau Quần đảo Galapagos còn
được coi là phòng thí nghiệm sống về tiến hóa, ở đó, mặc dù điều kiện sống
về cơ bản giống nhau, nhưng do xuất hiện các biến chủng và cách ly sinh dục,
cho nên đã tạo ra những loài mới đặc thù cho các đảo nhỏ.

Darwin dừng chân ở Sydney một thời gian và từng đến
cảng Darwin (ngày nay) ở miền bắc Australia. Ông nghiên cứu những loài động
vật có túi chỉ ở lục địa Australia. Ông từng nói một cách tế nhị: “Phải
có tới hai đấng tạo hóa mới lo tạo ra nổi những động vật chẳng giống ai này!”.
Điều đó mang tính quyết định nhất đối với cuộc đời ông, thúc đẩy ông từ một
vị mục sư chính thống trong tương lai, trở thành một nhà vạn vật học, địa
chất học, phân loại học và nhất là người có tư tưởng tiến hóa kiên định.
III. Cuộc sống sau chuyến đi
Khi trở về Anh quốc, Darwin đã có những chuyển biến rõ
rệt. Ông thường nói chuyến đi này là “cuộc giáo dục thực sự lần đầu” đối với
ông. Ông nói: “Cuộc hành trình của Beagle là sự kiện quan trọng nhất
trong đời tôi, nó xác định tất cả đời tôi”. Điều quan trọng hàng đầu là
giúp ông hình thành thói quen “ làm việc chăm chỉ với sinh lực dồi dào và
tập trung cao độ”, giúp rất nhiều cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học về sau.
Khi ông phát hiện ra “những thú vui từ quan sát và suy nghĩ thực ra còn cao
hơn nhiều so với nghệ thuật và thể thao”, tất cả những ưa thích trước đây
ông đều vứt bỏ, nhường chỗ cho khoa học.
Chuyến viễn du khiến tư tưởng ông thay đổi đến mức, khi
gặp lại đứa con của mình sau 5 năm xa cách, cha của Darwin đã phải thốt lên:
”Ôi chao, tư tưởng nó đã thay đổi lớn như vậy sao!”
Sau khi trở về, ông sống cuộc sống bình yên nhưng có
quy luật. Nhà mạo hiểm dũng cảm trên chuyến tàu Beagle bỗng dưng trở thành
người bệnh ốm yếu và dễ bị kích động. Giống như cha mình, ông đã lấy người
chị họ trong gia tộc Wedgewood, cô Emma làm vợ. Họ cưới nhau năm 1839.
 
Nếu như ông biết được những thí nghiệm của Mendel
(năm 1865), chắc không dám có cuộc hôn nhân cận huyết này, nhưng trên thực
tế, con cháu ông rất nhiều người thành đạt, trong đó có 3 người con trai
được phong hàm quý tộc Lord.

Darwin và con trai (1842) Con gái Annie của Darwin
Cuộc hôn nhân này đã giải tỏa áp lực đòi hỏi ông phải
tìm một nghề để kiếm sống. Người vợ mới cưới đã mang về cho ông của hồi môn
đáng kể, tổng cộng 5,000 bảng Anh, ngoài ra còn có thu nhập thường niên 400
bảng, cha ông còn cho ông 13,000 bảng. Có được khoản thu nhập cộng lại hằng
năm vượt xa con số 1,000 bảng, đủ đảm bảo cho ông ổn định cuộc sống và cống
hiến suốt đời cho sự nghiệp khoa học.
 
Nguyên nhân ông ốm yếu quanh năm, đến nay vẫn còn là
một dấu hỏi, nhưng dù sao ông vẫn sống được đến 73 tuổi. Cuộc chữa trị theo
phong cách điển hình thời Victoria làm cho thể chất ông càng suy nhược thêm,
nhưng ông vẫn làm được rất nhiều việc. Vợ chồng ông tổng cộng sinh được 10
người con, nhưng chỉ có 7 người sống được đến tuổi trưởng thành, đúng là một
người ốm yếu nhưng lại có ”thể chất mạnh như thép”. Các con của ông là:
William Erasmus (1839-1914), Anne Elizabeth (3/1841- 4/1851), Marry Eleanor
(9/1842-10/1842), Henrietta Emma “Etty” (1843-1929/, George Howard
(1845-1912), Elizabeth “Bessy” (1847-1926), Francis (1948-1925), Leonard
(1850-1943), Horace (1851-1928), Charles Waring (12/1856-6/1858). Khi bé
Anne mất lúc mới 10 tuổi ông bị sốc rất lớn và không tin vào Công giáo nữa.
Ông từ bỏ việc đến nhà thờ. Các con ông là George, Francis và Horace là
thành viên của Hiệp hội Hoàng gia với các cương vị nghiên cứu thiên văn,
thực vật và kỹ sư công trình công cộng. Leonard sau khi rời bỏ quân ngũ đã
trở thành nhà nghiên cứu sinh học.
  
Một giả thuyết cho rằng ông đã nhiễm ký sinh trùng
hình Nam Mỹ, cách chữa trị lúc bấy giờ dẫn đến ngộ độc với arsen. Loại ký
sinh trùng này tuy có nguồn gốc Nam Mỹ, nhưng có quan hệ họ hàng với loại
Tifanosoma gây bệnh buồn ngủ ở châu Phi, khiến người nhiễm bệnh suy kiệt
dần, cả thể chất cũng như tinh thần. Ông hồi tưởng, khi ở tỉnh Mendoza thuộc
Argentina, ông từng bị loài ”bọ xít đen cực lớn đồng cỏ Nam Mỹ” tấn công.
Ngày nay mới biết, đây là loài Triatoma infestans, vật chủ trung gian
chính của loại ký sinh trùng máu này.

Triatoma infestans
Darwin dựa vào bút ký và nhật ký của mình, viết ra rất
thành công mấy tác phẩm về địa chất học và cuốn ”Chuyến du hành trên chiến
hạm Beagle”, được độc giả đón nhận nhiệt liệt. Những cuốn sách trên tuy
không mang lại cho ông lợi nhuận gì về kinh tế, nhưng đã làm cho ông rất vui
mừng vì đã giúp ông trở thành một nhà khoa học có tên tuổi. Ông đã giải
thích một cách thành công nguyên nhân hình thành đá ngầm san hô hình vòng,
đóng góp quan trọng cho Địa chất học ở thế kỷ 19. Những năm tháng ở London,
với tư cách Thư ký Hiệp hội Địa chất học, ông đã gặp gỡ nhiều nhà khoa học
cũng như lãnh đạo các tổ chức học thuật. Chẳng hạn, nhà địa chất học Lyell,
nhà thực vật học J.D. Hooker (1817-1911) đều là những người bạn thân thiết
nhất của ông. Sau này, trong cuộc tranh chấp với Wallace về bản quyền thuyết
tiến hóa, họ đóng vai trò như người phát ngôn của Darwin. Do sức khỏe ông
rất kém, nên ông quyết định cùng gia quyến rời London đến làng Darwen, thuộc
tỉnh Kent cách London không xa, ở đó, gia đình ông sống một cuộc đời gần như
ẩn dật.
IV. Darwin với thuyết tiến hóa
Ngày nay tên tuổi Darwin gần như đồng nghĩa với thuyết
tiến hóa và chọn lọc tự nhiên. Trên thực tế ông đã tổn hao nhiều thời gian
hơn cho các vấn đề khác không liên quan trực tiếp đến tiến hóa. Làm thế nào
Darwin đã từ chủ trương Chọn lọc tự nhiên phát triển lên tới Thuyết tiến
hóa? Ông từng giải thích, cuộc chuyển biến từ người theo thuyết Thượng
Đế sáng tạo sang thuyết Tiến hóa đã nẩy sinh trong chuyến du khảo. Ông đã
quan sát hóa thạch các loài có vú ở Argentina và suy nghĩ về những loài
chim, rùa trên quần đảo Galapagos. Nhưng từ thời điểm đó đến khi ông chính
thức phát biểu thuyết Tiến hóa cách nhau tới 20 năm. Ngay khi về Anh, Darwin
đã rút ra kết luận, sự hài hòa giữa động vật và mội trường không phải do
Thượng Đế “thiết kế” ra, mà là kết quả của sự thích nghi. Thích nghi là sản
phẩm của tiến hóa, có nghĩa là được di truyền song song với những biến đổi
của cơ thể.
Ngay từ năm 1837-1839, dường như Darwin đã tin vào sự
tiến hóa.Từ năm 1839 tới mấy năm tiếp theo Darwin đã cùng cộng sự công bố 5
tập “Động vật học của cuộc hành trình của tàu H.M.S. Beagle” . Có hai quyển
do Darwin biên tập là: 1840-Hóa thạch của Thú (Part I-Fossil Mammalia)
và 1839- Thú (Part II.Mammalia).Năm 1842, ông công bố tác phẩm Cấu
trúc và phân bố của rạn san hô (The Structure and Distribution of Coral
Reefs). Năm 1844- Quan sát địa chất các đảo núi lửa ( Geological
Observations of Volcanic Islands). Năm 1846- Quan sát địa chất Nam Mỹ (Geological
Observations on South America). Năm 1849- bĐịa chất học (Geology).
Năm 1851- Hóa thạch của lớp phụ Cirripedia (A Monograph of the Sub-class
Cirripedia). Năm 1851- Hóa thạch của họ Lepadidae ( A Monography on
the Fossil Lepadidae).Năm 1854- Hóa thạch của họ Balanidae và họ
Verrucidae ở Anh (A Monograph on the Fossil Balanidae and Verrucidae).
Năm 1858: Thảo luận về xu thế hình thành biến dị của loài cùng với tính vĩnh
cửu của biến dị và ý nghĩa tựu nhiên của sự chọn lọc loài (On the
tendency of Species to form Varieties; and on the Perpetuation of Varieties
and Species by Nature Means of Selection). Ông tiếp tục đào sâu suy
nghĩ, đến ngày 22-11-1859, chịu sức ép từ Wallace, ông mới vội vàng cho in
cuốn”Nguồn gốc các loài” (On the Origin of Species). Thực ra tên
chính thức của cuốn sách in 1250 bản này có tên dài dòng hơn- Nguồn gốc các
loài bằng con đường chọn lọc tự nhiên hay sự bảo tồn các chủng thích nghi
trong cuộc đấu tranh sinh tồn On the Origin of Species by Means of
Natural Selection, or The Preservation of Favoured Race in the Struggle for
Life.

Tại sao có sự chậm trễ như vậy? cách giải thích
truyền thống là do ông e ngại công khai tuyên truyền quan điểm dị đoan vì bị
ám ảnh bởi hiện hình ảnh của Bruno và Galileo. Nhưng ông cũng biết rõ, việc
đưa người tà giáo lên giàn hỏa thiêu đã chấm dứt từ năm 1600. Nỗi lo lớn lao
hơn là ông lo học thuyết của mình chưa đủ sức thuyết phục. Thuyết tiến hóa
không phải là lý thuyết mới, nhưng nếu thiếu sự giải thích về cơ chế tiến
hóa, thuyết này vẫn chỉ là lý thuyết suông. Mặc dù ngay Darwin và một số
người khác đôi lúc làm lẫn lộn hai vấn đề “ Tiến hóa có từng xẩy ra không?”
và “ Cơ chế phát sinh tiến hóa như thế nào?”, nhưng ông vẫn nhận thức được
đó là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Đến năm 1859, ngoài lý do có thể bị
Wallace cướp công, ông cũng đã tự tin mình có đủ bằng chứng, những bằng
chứng đó nếu chưa đủ cho mọi người không tin không được, thì ít ra cũng
thuyết phục được đa số. Darwin xuất bản cuốn ”Nguồn gốc các loài” và được
đáng giá một cách xứng đáng. “Ở những điểm mà Lamarck chỉ có 1 dữ liệu, thì
Darwin có tới 100 dữ liệu”.
V. Robet Malthus (1766-1834) và Thuyết nhân mãn
Những nhà phê bình muốn hạ thấp thành tựu của Darwin,
thường chỉ trích một cách khinh miệt rằng, chỉ có bậc thân hào thời kỳ Nữ
hoàng Victoria mới viết ra được cuốn sách chẳng có chút giá trị sáng tạo nào
như vậy. Sách đó chẳng qua chỉ là áp dụng thuyết Malthus vào giới động vật
và thực vật mà thôi.

Thomas Robert Malthus
Cũng giống Darwin, Malthus đã khơi lên quan niệm cách
mạng ở thời đại đó trong phạm vi toàn thế giới. Hai người đều viết được
những tác phẩm để đời và đều bị phản đối điên cuồng, mà những người phản đối
đó chưa từng đọc kỹ tác phẩm của hai ông. Các tác phẩm nổi tiếng của họ đều
đã được tái bản nhiều lần, để đáp trả lại sự phê bình của độc giả và cập
nhật những khái niệm đang thay đổi. Hai cuốn sách này đều được sửa đổi
nhiều, đến nỗi những cuốn tái bản về sau khác hẳn so với những lần in trước.
Malthus từng tranh luận với cha mình về bản tính và tiền đồ của nhân loại,
sau đó ông mới viết cuốn “ Bàn về nguyên tắc dân số” (An essay on the
Principle of Population). Malthus cha là bạn của Rousseau, ông hết sức
nhồi nhét cho con mình về chủ nghĩa tự do, vế loài người sẽ ngày một hoàn
thiện hơn. Malthus con lại phản đối tất cả những cách nghĩ lạc quan về tương
lai loài người, còn tính ra một tương lai ảm đạm, khiến mọi người khiếp sợ
nhưng không bác bỏ được.
Quan điểm trong cuốn ”Bàn về nguyên tắc dân số” là:
Khuyết điểm của loài người là bẩm simh, không thể thay đổi, nên những mơ
tưởng kiểu Utopia quyết không thể thực hiện được. Phần lớn trạng thái tự
nhiên của loài người là khổ nạn và tội ác, là bệnh tật, chiến tranh, giết
trẻ sơ sinh, loạn giao. Những tôi ác đó giúp cho ngăn ngừa sinh sản, hoặc cứ
cho sinh sản mặc sức, đến khi sinh sản quá mức thì tiêu diệt những kẻ dư
thừa. Nên tất cả mọi đau khổ đều là hậu quả tất yếu của hai nhu cầu cơ bản
của loài người- đó là Thức ăn và Tình dục.
Nhân khẩu tăng theo cấp số nhân, còn khả năng cung cấp
thức ăn của thiên nhiên tăng theo cấp số cộng. Cuộc giành giật khốc liệt về
tài nguyên sẽ không thể tránh khỏi. Mọi sinh vật đều gây áp lực với tài
nguyên, bất kể là người, động vật hay thực vật.
Darwin đã áp dụng quan điểm của Malthus và cho rằng
trong thiên nhiên những cá thể không có ưu thế đấu tranh sinh tồn sẽ bị diệt
vong.
Chính quan điểm của Malthus về giành giật tài quyên để
sinh tồn giữa các sinh vật đã gợi ý cho Darwin coi chọn lọc tự nhiên là cơ
chế tiến hóa. Cơ sở của học thuyết tiến hóa của Darwin là Thuyết chọn lọc
tự nhiên. Chọn lọc tự nhiên là nhân tố chủ yếu , là động lực của tiến
hóa. Quan điểm của ông có thể tóm tắt như sau: trong giới sinh vật tồn tại
vô số biến dị cũng như sức sinh sản lớn lao; trong cuộc đấu tranh sinh tồn,
các biến chủng có khả năng thích nghi khác nhau. Từ hai quan điểm trên dễ
dàng suy ra: thiên nhiên đã tiến hành chọn lọc đối với tất cả các biến chủng
và chỉ có những biến chủng thích nghi nhất mới để lại được nhiều cá thể và
được bảo tồn. Ảnh hưởng của môi trường tạo điều kiện thuận lợi để nẩy sinh
những tính trạng khác biệt và phân ly những tính trạng đó cho tới khi hình
thành những loài độc lập. Chúng sẽ khác nhau và khác với tổ tiên của chúng.
Thiên nhiên đã thực hiện việc lựa chọn những cá thể có sức chịu đựng dẻo dai
hơn và thông qua chọn lọc tự nhiên mà phân nhánh thành vô số các
Darwin cho rằng cây trồng và vật nuôi rất đa dạng so
với tổ tiên hoang dại. Tuy đa dạng nhưng chúng có những nguồn gốc chung. Ông
nhận thấy trong bất kỳ một nhóm vật nuôi nào cũng có những sai khác ngẫu
nhiên về kích thước, màu sắc và tập tính giữa các cá thể. Lợi dụng những
biến dị ấy người ta đã tác động một cách có ý thức trong việc phát triển một
số biến chủng này và loại trừ một số biến chủng khác. Các đặc điểm biến dị
là bằng con đường chọn lọc phù hợp với lợi ích của con người. Darwin nhận
thấy các sai khác nhỏ giữa các cá thể cùng loài là nguyên liệu cho tác động
của sự chọn lọc tự nhiên. Ông cho rằng: “Cần phân biệt hai nhân tố: bản chất
cơ thể và bản chất của các điều kiện. Nhân tố đầu là rõ ràng và quan trọng
nhất. Bởi vì những biến đổi giống nhau xảy ra trong những điều kiện rõ ràng
là hoàn toàn giống nhau” . Về quan hệ phức tạp trong thế giới sinh vật
Darwin đã viết: “ Chúng ta trông thấy bộ mặt thiên nhiên một cách hân hoan,
chúng ta thường thấy sự quá dư thừa thức ăn. Chúng ta không thấy hay quên
rằng những con chim đang rảnh rang hót quanh chúng ta phần lớn sống bằng côn
trùng và hạt và như vậy thường xuyên phá hủy sự sống. Hay chúng ta quên rằng
những con chim đó hoặc trứng của chúng đã bị hủy diệt một cách rộng rãi như
thế nào bởi những con chim khác và những con thú, chúng ta cũng không luôn
luôn nhớ rằng dù thức ăn lúc đó dư thừa, nhưng điều đó không bao giờ có như
vậy đối với tất cả các mùa của mỗi năm.” Darwin đã sử dụng thuật ngữ đấu
tranh sinh tồn theo nghĩa rộng. Ông viết: “Tôi phải nói trước rằng tôi
dùng thuật ngữ này theo nghĩa rộng và bao gồm sự phụ thuộc một sinh vật đối
với sinh vật khác và gồm (điều này quan trọng hơn) không chỉ đời sống của
một cá thể mà còn thành công trong việc tạo ra nhiều hậu thế. Hai động vật
thuộc chi Canis (chó) trong thời gian đói có thể hoàn toàn đúng khi
nói rằng chúng đấu tranh với nhau giành thức ăn và sự sống còn. Cây cối ở
rìa sa mạc sẽ được gọi là đấu tranh vì sự sống nhằm chống lại hạn hán, mặc
dù nói đúng hơn, nó phụ thuộc vào độ ẩm môi trường. Cây hàng năm chẳng hạn
cho hàng nghìn hạt mà chỉ có một hạt đạt đến độ chín, nói đúng hơn chúng đấu
tranh với những cây tương tự hay cây khác để phủ mặt đất. Cây Chùm gửi phụ
thuộc vào cây táo và một số cây khác. Nhưng chúng ta chỉ nói gượng gạo là nó
đấu tranh với những cây đó, vì nếu nhiều vật ký sinh như vậy mọc trên cùng
một cây sẽ làm cho cây đó suy yếu và chết đi. Chùm gửi phát tán nhờ chim, sự
tồn tại của chúng phụ thuộc vào chim và có thể nói rằng chúng đấu tranh với
những cây có quả khác vì khi thu hút chim ăn hạt của chúng mà tình cờ hạt
được phát tán. Trong một vài ví dụ như vậy tôi sử dụng thuật ngữ tổng quát
đấu tranh sinh tồn cho thuận tiện. ” Ông còn viết: ” Cuộc đấu tranh
sinh tồn tất yếu bắt nguồn từ sự sinh sản với tốc độ nhanh của các sinh vật.
Thậm chí con người tuy sinh sản chậm nhưng cũng sẽ tăng gấp đôi trong vòng
25 năm và với tốc độ đó thì chưa đầy 1000 năm thực sự sẽ không có chỗ đứng
cho con cháu họ”.
Về chọn lọc tự nhiên Darwin viết: “Con người chỉ có
thể ảnh hưởng đến các dấu hiệu bên ngoài thấy được. Còn thiên nhiên duy trì
các dạng thích nghi nhất ảnh hưởng đến bên ngoài chỉ khi nào nó cần cho loài
sinh vật nào đó. Thiên nhiên có thể ảnh hưởng đến bất kỳ cơ quan nào bên
trong, đến mỗi nét của cấu tạo thân thể chúng, lên toàn bộ sự sống. Con
người chọn lọc vì lợi ích của mình, thiên nhiên thì chỉ vì lợi ích của cá
thể được duy trì. Mỗi đặc điểm cấu tạo nhờ chịu ảnh hưởng của chọn lọc mà
được sử dụng hoàn toàn, điều này bắt nguồn ngay từ sự kiện chọn lọc. Thiên
nhiên tích lũy biến đổi trong quãng thời gian dài, có khi cả một thời kỳ địa
chất. Các biến đổi của thiên nhiên tốt hơn với những điều kiện vô cùng phức
tạp của sư sống và rõ ràng mang dấu hiệu gọt giũa kỹ hơn. Có thể nói rằng
chọn lọc tự nhiên hàng ngày, hàng giờ trên toàn thế giới với cả những biến
đổi nhỏ nhất, vứt bỏ đi những cái xấu, duy trì và tích lũy những cái tốt.
Chọn lọc tự nhiên tiến hành âm thầm, lặng lẽ ở bất cứ nơi nào miễn có cơ
hội, để hoàn thiện cho từng sinh vật đối với các điều kiện sống hữu cơ và vô
cơ của nó”.
Chỉ có những biến dị di truyền được mới có ý nghĩa
trong tiến hóa. Darwin cũng đã so sánh chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân
tạo. Chọn lọc nhân tạo tạo ra được giống cây trồng, vật nuôi tốt trong một
thời gian ngắn, chứng tỏ tính hữu hiệu của chọn lọc. Trong thiên nhiên, vai
trò của chọn lọc tự nhiên thể hiện ở hai mặt:
- Dẫn đến phân ly tính trạng hoặc hình thành loài;
- Đồng thời loại thải những loài và biến chủng kém thích
nghi hơn.
Trong hệ thống lý thuyết của Darwin, khái niệm ”loài”
chiếm một vị trí then chốt. Người đầu tiên nêu ra khái niệm ”loài” chính
là nhà phân loại học Thụy Điển
Carl von Linné (1707-1778), nhưng đối với ông thì ”loài”
là cứng nhắc và không thay đổi, còn biến chủng chẳng có ý nghĩa gì. Darwin
coi ”loài” là tập hợp những cá thể trong một quần thể có mối gắn kết với
nhau trong một thời gian nhất định. Còn biến chủng có một vị trí quan trọng,
là xuất hiện “loài”mới. Như vậy, ”loài” ở trong trạng thái động chứ không
phải đứng yên; các sinh vật đều từ một tổ tiên chung phân hóa mà ra.

Carl von Linné
Trong cuốn ”Nguồn gốc các loài”, Darwin coi tiến hóa
là việc hiển nhiên, mà đặt trong tâm vào việc dùng chọn lọc tự nhiên để giải
thích tiến hóa. Ông cũng không đề cập đến nguồn gốc sự sống. Khởi đầu cuốn
sách là nói về biến dị: Chương 1, Biến dị dưới điều kiện nuôi dưỡng; Chương
2, Biến dị trong trạng thái tự nhiên. Ông đã dẫn chứng bằng những tư liệu vô
cùng phong phú. Nhưng đối với nguyên nhân của biến dị thì vào thời đại đó
ông không thể nào biết được.
Cuốn “Nguồn gốc các loài” xuất bản lần đầu đã bán sạch
ngay hôm đầu tiên, gây nên làn sóng ảnh hưởng lớn lao. Darwin đã phải tốn
nhiều thời gian trả lời những thắc mắc và phê phán, trong đó gay cấn nhất là
ý kiến phê bình của nhà vật lý học Lord Kelvin (1824-1907) và kỹ sư F.
Jenkin. Lord Kelvin cho rằng nếu tiến hóa là do tích lũy những biến dị nhỏ,
thì ít nhất phải mất hàng tỷ năm, mà tuổi thọ của trái đất theo tính toán
của ông dựa trên nguyên lý nhiệt động học, mới chỉ có 100 triệu năm, vỏ trái
đất nguội đi mới có 20 triệu năm, hoàn toàn không đủ quỹ thời gian dành cho
một cuộc tiến hóa dù là nhỏ nhất. Jenkin dùng kết quả toán học chứng minh
biến di mới khi xuất hiện, như một giọt mực sẽ bị biển cả nuốt chửng ngay,
thức chất đây là thuyết “di truyền hòa hợp”. Do hạn chế về trình độ khoa học
lúc đó, Darwin không bác bỏ được những ý kiến đó, cho nên khi tái bản ”Nguồn
gốc các loài” lần thứ 6 và các lần về sau, tuy vẫn kiên trì thuyết Chọn lọc
tự nhiên, nhưng phần nào ông đã tiến gần đến với thuyết của Lamarck, coi
trọng hơn tính tập nhiễm và cho rằng các cơ quan nào sử dụng nhiều thì tiến
hóa, ít sử dụng thì thoái hóa.
Những khúc mắc đó phải đợi đến năm 1900, khi ba nhà
khoa học (H.de Vries, C.Correns và E.von Tschermak) “tái phát hiện” những
thí nghiệm của Gregor Mendel
(1822-1884) thực hiện từ năm 1865. mới giải
quyết được.

Gregor Mendel
VII. Nguồn gốc loài người và chọn
lọc giới tính
Khi cuốn”Nguồn gốc các loài” được xuất bản, thuyết
tiến hóa được nhiều người chấp nhận, thì giữa loài người và động vật, vẫn
còn một rãnh sâu ngăn cách, đó là trí trí khôn và linh hồn. Động vật chịu
tác động của quy luật tiến hóa, còn loài người là hoàn toàn tách biệt, phải
nhờ đến”bàn tay của Thượng Đế”. Với tuổi già sức yếu, không thể đi dã ngoại
được, nhưng bằng những cố gắng phi thường, năm 1871, ông đã xuất bản cuốn”
Xuất xứ của loài người và sự chọn lọc liên quan đến giới tính” (The
Descent of Man, and Selection in Relation to Sex). Với điều kiện chúng
cứ rất hạn chế, lại thiếu hẳn nhiều khâu trung gian quan trọng, ông đã tiên
đoán loài người với các loài linh trưởng bậc cao như hắc tinh tinh, đười
ươi, khỉ đột có chung một tổ tiên mà tổ tiên đó ngày nay đã tuyệt chủng. Nơi
phát sinh loài người là vùng rừng nhiệt đới, có thể là châu Phi. Darwin cho
rằng con người cũng sinh ra dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên. Hoạt động
chức năng và chọn lọc giới tính đã làm xuất hiện một số đặc điểm riêng ở
người. Chẳng hạn sự phát ra âm thanh để thách thức địch thủ hoặc để biểu lộ
tình cảm đối với phái nữ…Từ đó mà dẫn đến tiếng nói. Ông cho rằng sự khác
biệt giữa con người và con vật chỉ ở mặt số lượng , còn thì mầm mống ý thức,
tình cảm đều đã có ở các loài khỉ bậc cao. Darwin xác nhận: “điều kiện văn
minh đã tác động đối lập về nhiều mặt vơi ảnh hưởng của chọn lọc tự nhiên.”
Rất nhiều động vật, nhất là những loài ”đa thê”, ngoài
đặc trưng giới tính thứ nhất (khác biệt giữa cơ quan sinh dục đực và cái),
còn có đặc trưng giới tính thứ hai. Chẳng hạn như con đực thường to con hơn,
sư tử đực có bờm, tiếng hót và bộ lông sặc sỡ của chim trống…Darwin đã giải
thích sự hình thành đặc trưng giới tính thứ hai bằng ”chọn lọc giới tính”.
Những con đực có những đặc điểm riêng dễ dàng lọt qua “mắt xanh” con cái
hơn, có cơ hội giao phối lớn hơn và để lại con cháu nhiều hơn. Những đặc
điểm nhỏ nhặt ban đầu được tích lũy dần lại và hình thành nên đặc trưng giới
tính thứ hai. Trên thực tế nhiều đặc trưng giới tính thứ hai đã trở thành
của dư thừa trong tiến hóa. Chẳng hạn bộ lông sặc sỡ của nhiều loài chim
trống dễ làm cho kẻ thù phát hiện. Chọn lọc giới tính của loài nai dẫn đến
con đực có cặp sừng quá cỡ, khó di chuyển trong rừng, dẫn đến một số loài
nai cổ ở Bắc Mỹ bị tuyệt chủng. Về chọn lọc giới tính Darwin viết: “ Đây là
dạng chọn lọc được xác định không phải bởi cuộc đấu tranh sinh tồn giữa các
cá thể với các loài khác và với điều kiện thiên nhiên, mà là cuộc đấu tranh
giữa các cá thể cùng giới tính (thường là con đực) để chinh phục các cá thể
thuộc giới tính khác. Do đó không đưa đến cái chết của cá thể thất bại mà
chỉ làm giới hạn hoặc làm mất đi sự tồn tại con cái”. Sự chọn lọc theo hướng
vũ lực (tranh giành nhau) và hấp dẫn con mái bằng màu lông, tiếng hót… Đối
với sự tiến hóa của loài người, Darwin cho rằng chọn lọc giới tính đóng vai
trò quan trọng. không chỉ dẫn đến nam giới có có râu, hạch cổ, hệ cơ bắp
phát triển hơn, mà còn dẫn đến có khối lượng óc lớn hơn, do đó có năng lực
dũng cảm hơn và sáng tạo hơn so với nữ giới. Điều này rất giống với quan
điểm của Aristotle thời cổ Hy lạp.
Nhũng quan điểm không rõ ràng của ông về các nhóm cấu
thành loài người, khiến những những luồng tư tưởng khác nhau đều có thể lợi
dụng để làm chỗ dựa cho các quan điểm của mình. Đó là từ chủ nghĩa hòa bình
đến lái buôn chiến tranh, từ chủ trương bình đẳng giữa các chủng tộc đến
phân biệt chủng tộc, từ nam nữ bình quyền đến phân biệt giới tính...
Năm 1872 Darwin cho xuất bản cuốn “Biểu đạt cảm xúc ở
người và động vật” (The Expression of Emotion in Man and Animals),
đặt nền móng cho Khoa học tính cách . Những phương pháp nghiên cứu của ông
như quan sát nét mặt của trẻ sơ sinh, của người tâm thần, của nhà giám đinh
khi thưởng thức các danh họa, các tác phẩm điêu khắc, so sánh nét mét mặt
giữa các dân tộc khác nhau, tất cả đều đã trở thành những phương pháp nghiên
cứu kinh điển.
Darwin cũng đã chúng minh sư tiến hóa của hành vi cũng
như sự tiến hóa của các cơ quan, có thể trở thành ”hành vi thoái hóa” hoặc
”hành vi dấu vết”. Giống như động vật thủy sinh khi lên cạn, khe mang thứ
nhất biến thành lỗ tai, động tác ”gào thét” của loài người thoát thai từ
động tác “cấu xé” của động vật khi muốn tấn công kẻ thù.
VIII. Darwin và Wallace
Từ chuyến đi lịch sử trên tàu Beagle, năm 1842 và năm
1844 ông mới viết 2 bài luận văn ngắn về tiến hóa nhưng chưa hề phát biểu.
Mãi đến năm 1854 Darwin mới từ từ chỉnh lý những tài liệu cao ngập đầu mà
mình đã sưu tầm được. Ông dự định viết một pho sách đồ sộ.
Một sự kiện xẩy ra khiến ông choáng váng và thay đổi
tất cả. Ông đã nhận được một bản luận văn ngắn ”Bàn về khuynh hướng ly khai
vô hạn khỏi mô thức ban đầu của các biến chủng” của nhà khoa học kém ông 14
tuổi là Alfred Russel Wallace (1823 – 1913) gửi từ Malay, xin ý kiến của
ông. Quan điểm của Wallace gần như hoàn toàn giống với quan điểm của ông.
Ông viết: ”Trên đời lại có hai sự kiện trùng hợp đến mức kỳ lạ vậy sao?”,
ông nói, thậm chí ông muốn buông xuôi nhường quyền tác giả cho Wallace.

Alfred Russel Wallace
Giáo sư Charles Lyell (1797-1875) và Joseph Dalton
Hooker (1817-1911) nắm biết rất rõ công việc của Darwin ròng rã trong 20 năm
trời, cho nên hai ông đã đứng ra xử lý vụ tranh chấp khoa học này một cách
công minh. Darwin đã viết quan điểm của mình thành một luận văn cô đọng,
cùng với bài của Wallace gửi lên Học hội Linné London (Linnean Society of
London) và đồng thời phát biểu trên nội san của Hội vào tháng 8 năm 1858.
Tiếp theo ông đã mất hơn 13 tháng để hỏa tốc hoàn thành và xuất bản
cuốn”Nguồn gốc các loài”. Trong cuốn sách đó, ông nói: ”Tôi ít khi quan tâm
đến vinh dự lớn lao về quyền phát minh thuộc về tôi hay về Wallace”.

Charles Lyell

Joseph Dalton Hooker
Được sự hỗ trợ ngấm ngầm nhưng đắc lực của bè bạn,
quyền ưu tiên cuối cùng đã thuộc về Darwin. Wallace ý thức được nếu chỉ dựa
vào luận văn của mình thi ảnh hưởng cũng rất hạn chế, nên ông đã coi đây là
một trong những chuỗi sư kiện bất hạnh của mình, tiếp nhận địa vị phụ thuộc
một cách rất phong độ. Ông đã sáng tạo ra nhóm từ “Chủ nghĩa Darwin”
(Darwinism) để suy tôn Darwin và phân biệt với những người đi tiên phong
khác theo thuyết tiến hóa. Chính Darwin cũng thấy Wallace đã khiêm tốn quá
mức, ông nói: ”Ông ấy là người tôi chưa từng thấy”. Wallace về sau đã viết
nhiều tác phẩm như “Phân bố địa lý của động vật” (
The Geographical Distribution of Animals,
1876), “Quần đảo Malay” (The
Malay Archipelago,1869), “Đóng góp vào lý
thuyết Chọn lọc tự nhiên” (
Contributions to the Theory of Natural Selection,
1870) , ” Thiên nhiên nhiệt đới và các khảo nghiệm khác” (
Tropical Nature, and Other Essays,1878),”
Sự sống trên đảo” (Island
Life, 1881). Tất cả đều là những tài liệu quý
giá về địa động vật và khu hệ động thực vật trên hải đảo. Ông cũng viết
nhiều sách phổ biến khoa học, phổ cập kiến thức về Thuyết tiến hóa của
Darwin, chẳng hạn như cuốn “Một thuyết trình về thuyết Chọn lọc tự nhiên,
với một số ứng dụng của chúng” (Darwinism:
An Exposition of the Theory of Natural Selection, with Some of Its
Applications 1889) … Wallace tin vào thuyết
duy linh, nhưng lại có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, như ủng hộ quyền bầu
cử của phụ nữ, chủ trương quốc hữu hóa đất đai v.v…Nhiều người đương thời đã
trêu ông là “Một nửa thiên tài, một nửa điên khùng”. Từ năm 1908 Học
hội Linnean đã đặt ra Huy chương Darwin-Wallace (Darwin-Wallace Medal) để kỷ
niệm 50 năm công bố các công btrình về Chọn lọc tự nhiên của Darwin và
Wallace.

IX. Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Darwin
Trước đây khi chưa có Chủ nghĩa Darwin, người ta quan
niệm thiên nhiên là do Thượng đế thiết kế và trực tiếp điều hành. Trái đất
là do Thượng đế vì loài người mà sáng tạo ra. Darwin đã cùng với Wallace,
tuyên chiến với quan điểm truyền thống đã ngự trị tư tưởng con người cả ngàn
năm . Bằng những chứng cứ không thể chối cãi, Darwin đã chứng minh sự thích
nghi giữa sinh vật và môi trường là hình thành qua những quãng thời gian dài
bởi sự chọn lọc tự nhiên tác dụng lên các ngẫu biến, chứ không phải do thông
minh tài trí của Thượng đế. Dưới con mắt ông, trần gian là một thế giới duy
vật, đầy tính ngẫu nhiên. Những giáo sĩ cố gắng gắn liền Thượng đế và sự
tiến hóa, nhưng không thể được. Thượng đế đã bị đẩy ra xa và trở thành một
khái niệm trừu tượng . Thiên tài của Darwin biểu hiện ở chỗ trong muôn vàn
sự phụ thuộc và hiện tượng phức tạp trong thiên nhiên, ông đã biết tách ra
và đánh giá vai trò của các quá trình chọn lọc là nguyên do chính của sự
tiến hóa, tìm ra cơ sở lịch sử tự nhiên chung, đặc trưng cho các sinh vật.
Chỉ trên cơ sở nguyên tắc chọn lọc người ta mới có thể giải thích được những
trường hợp xuất hiện các kiểu thích nghi thụ động như như các cây có gai, mu
rùa, sinh vật này thích nghi với một số sinh vật khác (ví dụ thực vật có hoa
và côn trùng) và cuối cùng là sự xuất hiện màu sắc để ngụy trang và bảo vệ ở
nhiều dạng khác nhau…
Bị căn bệnh mãn tính hành hạ, Darwin kiên quyết tránh
xa mọi cuộc tranh luận, đôi lúc đã ảnh hưởng đến phát triển của Thuyết tiến
hóa. May thay, đã có những nhà khoa học thông thái, kiên định và đầy sức
chiến đấu đứng mũi chịu sào, trong đó nổi bật nhất là giáo sư Thomas Henry
Huxley (1825-1895). Do bênh vực thuyết tiến hóa, ông đã từng bị người ta chế
diễu là “Con chó săn của Darwin”. Ông đứng thứ 7 trong một gia đình 8 con,
từ nhỏ ông chỉ có 2 năm cắp sách đến trường, vậy mà đã trở thành nhà khoa
học xuất sắc hoàn toàn nhờ tư học. Giống như Darwin và Wallace, Huxley từng
đi du lịch nhiều nơi, trở thành nhà bác học bao chùm các lĩnh vực động vật,
cổ sinh vật, địa chất, thực vật, nhân loại. Ông đã viết hơn 150 bài biên
khảo, thông thạo các ngôn ngữ Pháp, Latin, Đức, Ý, Hy Lạp , tất cả nhờ tự
học. Ông không những viết hay mà còn sở trường hùng biện.

Thomas Henry Huxley
Tháng 6 năm 1860, khi ”Nguồn gốc các loài” mới xuất
bản được 7 tháng, một cuộc tranh luận nổi tiếng đã xẩy ra giữa ông và giám
mục Samuel Wilberforce tại Hội nghị học thuật thường niên ở Đại học Oxford.
Tiêu điểm cuộc tranh luận là cuốn ”Nguồn gốc các loài” của Darwin, nhưng bất
ngờ là chính Darwin lại kiếm cớ vắng mặt. Hơn 700 thính giả đã chật cứng hội
trường, họ chống đối chủ nghĩa Darwin, họ đến là để nghe vị giám mục tài ba
Wilberforce vạch mặt ”Thuyết con khỉ”, nên mỗi lời ba hoa của giám mục
Wilberforce đều được vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Huxley ngồi dưới lắng
nghe, kết luận rằng ông này chẳng hiểu chút gì về thuyết tiến hóa, nên tự
tin nắm chắc phần thắng. Kết thúc bài diễn văn giám mục Wilberforce quay về
phía Huxley, hỏi một cách rất văn nhã: ”Thưa tiên sinh khả kính tự coi là
hậu duệ loài khỉ, ngài đã kế thừa dòng máu loài khỉ từ phía ông nội hay bà
nội?”. Cả hội trường cười ồ. Huxley bước lên trình bày ngắn gọn quan điểm
của Darwin, vạch trần sự ngu muội của vị giám mục. Cuối cùng, ông nói: ”Tôi
thà nhận con vượn đáng thương làm tổ tiên mình, còn hơn là nhận tổ tiên là
một con người thừa thông minh, nhưng mang sự trào lộng, chế diễu vào một
cuộc thảo luận khoa học nghiêm chỉnh”. Cuộc tranh luận đã đánh dấu sự toàn
thắng của thuyết tiến hóa trên đất Anh.

William Wilberforce
Thế kỷ 19 là thế kỷ phát triển mạnh mẽ của Sinh học
cũng như các chi nhánh của nó, như Sinh lý học và Vi sinh vật học- có tác
động đến sức khỏe con người. Tuy nhiên trên lĩnh vực tư tưởng, không môn nào
có ảnh hưởng lớn lao như Thuyết tiến hóa của Darwin. Thuyết tiến hóa đã
không còn chỉ bó hẹp trong Sinh học, mà đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác.
Những trào lưu xã hội và những trường phái triết học hoàn toàn trái ngược
nhau đều trích dẫn chủ nghĩa Darwin, lấy làm luận cứ khoa học của mình, kể
cả Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa Phát xít, Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa
cộng sản, Thuyết duy vật và Thuyết thần học tiến hóa (chủ trương tiến hóa
theo mục tiêu định sẵn của Thượng đế)…Darwin lúc đó nằm im lặng tại thôn
Darwen, không khuyến khích cũng không ngăn cản các trường phái nhân danh học
thuyết của mình
X. Chủ nghĩa Darwin xã hội
Chủ nghĩa Darwin xã hội ( Social Darwinism) chỉ trường
phái áp dụng thuyết tiến hóa Darwin cho xã hội loài người. Người sáng lập ra
Chủ nghĩa Darwin xã hội là nhà khoa học người Anh Herbert Spencer
(1820-1903). Nội dung được mô tả trong cuốn”Nguyên lý sinh học” (Principles
of Biology ,1864).
Theo Spencer, xã hội cũng giống như cơ thể sinh vật,
được thể hiện bằng mức độ tiến hóa. Thiên nhiên bao giờ cũng lựa chọn những
phần tử ưu tú nhất, thích nghi nhất và đền đáp họ bằng của cải vật chất và
địa vị xã hội. Những kẻ không thích nghi môi trường là những kẻ ”lơ đãng,
lười biếng, hiệu suất thấp, ngụ dốt, lỗ mãng”, sẽ bị đào thải. Xã hội sẽ
tiến hóa hơn, nếu như các ”phần tử ưu tú” tích cực sinh sôi nẩy nở hậu duệ
của mình. Sự thực thì ngược lại, trong lúc người giàu mải miết thu gom tiền
bạc thì người nghèo có mức sinh con vượt xa. Ngay tại điểm này, tính tương
đồng giữa chủ nghĩa Darwin xã hội và chủ nghĩa Darwin sinh học đã bị phá vỡ.
Ý định đánh đồng giữa hiện tượng tự nhiên và hiện tượng xã hôi đã hoàn toàn
bị phá sản.

Herbert Spencer
Để trấn an nỗi lo sợ đó, một người anh em họ của
Darwin là Francis Golton (1822-1911) đã đề ra thuyết ”Ưu sinh” (Eugenic),
chủ trương bằng các biện pháp cưỡng chế, nhằm đảm bảo các ”phần tử ưu tú” có
cơ hội sinh sản cao hơn để cải thiện nòi giống loài người.


Peter Kropotkin (1842-1921) là một Hoàng tử Nga theo
chủ nghĩa vô chính phủ. Ông từng dầy công điều tra khu hệ động thực vật vùng
Siberia. Ông phát hiện sự đấu tranh sinh tồn ở đây tuy cũng vô cùng khốc
liệt, nhưng chỉ tồn tại giữa các loài. Hầu như không tìm thấy chứng cớ về sự
đấu tranh trong nội bộ loài. Ông giả thiết, ngoài quy luật đấu tranh, còn có
một quy luật khác,”quy luật hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau”, đó mới là quy luật
hàng đầu thúc đẩy sự tiến hóa của nhiều loài. Trong tác phẩm ”Hỗ trợ” của
mình, ông đã viện dẫn trong sách ”Xuất xứ của loài người và sự chọn lọc liên
quan đến giới tính” của Darwin đã đề cấp một cách hàm súc về quy luật này,
đồng thời đáp trả ý kiến quá khích của Huxley về vai trò cạnh tranh trong
tiến hóa. Ông cho rằng, ý thức được lợi ích liên quan đến nhau, trong nội bộ
loài đã sinh ra một thứ bản năng, chính bản năng đó đã thúc đẩy hoạt động
của các loài côn trùng xã hội, cũng bản năng đó dẫn đến hiện tượng cả bầy
sói cùng đi săn mồi. Khuynh hướng sinh học xã hội ngày nay ủng hộ quan
điểm”Hỗ trợ” của Kropotkin.

Tiếng vang khắp bốn phía, thế sự nhiễu nhương, nhưng Charles Darwin
sẽ không bao giờ nghe thấy nữa. Vào hồi 4 giờ chiều ngày 19/4/1882, tại làng
Darwen, trái tim vĩ đại Darwin đã ngừng đập trong vòng tay của bà Emma
Darwin. Nguyện vọng của gia đình là muốn ông yên giấc tại nghĩa trang gia
đình, tại làng Darwen, nơi ông đã sinh sống suốt gần 40 năm, nhưng 28 nghị
sĩ đã liên danh viết thư thỉnh nguyện yêu cầu chôn cất ông (Đại giáo đường Westminster)
cho xứng đáng. Một tuần sau, lễ tang ông được cử
hành ở
Westminster Abbey theo nghi thức quốc tang. Bà Emma đã không dự,
trong 10 người khiêng linh cữu nhà bác học, có ba người bạn thân của ông lúc
sinh thời: Nhà thực vật học J. Hookek, người đã tiên đoán được tầm cỡ chấn
động toàn cầu của Học thuyết tiến hóa; A. Wallace, người đã cùng lúc và độc
lập phát hiện ra hiện tượng chọn lọc tự nhiên và T. Huxley, người đã trọn
đời bôn ba cổ xúy cho Học thuyết tiến hóa. Linh cữu đã được an táng phía
dưới bia mộ của nhà bác học Issac Newton.
Mặc dù 15 năm trước Darwin đã được Hoàng gia nước Phổ
phong hàm quý tộc, nhưng ở chính quốc, ông không được phong tước hiệu gì,
ông yên nghỉ ở Westminster với tư cách một người bình dân. Trớ trêu thay,
tuy Giáo hội Anh Quốc giáo suy tôn ông, nhưng đến khi nằm xuống, ông không
những không tin Chúa, còn rất phản cảm với Kito giáo, điều đó thể hiện trong
cuốn ”Tự truyện” (Autobiography of Charles Darwin) ông viết lúc cuối
đời, nhưng mãi đến năm 1959 mới được xuất bản hoàn chỉnh.
Năm 1986, tạp chí The Life của Mỹ đã bình chọn
cuốn ”Nguồn gốc các loài” của ông là cuốn sách vĩ đại nhất trong lịch
sử loài người. Nằm dưới suối vàng, ông có thể mỉm cười.
Chúng tôi không bàn ở đây các hạn chế của học thuyết
Darwin trước các tiến bộ như vũ bão của Sinh học nhất là Sinh học phân tử
trong những thập kỷ gần đây. Hy vọng đó là nội dung sâu sắc và phong phú của
những khảo luận khác.
©
http://vietsciences.free.frr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Lân Dũng, Chung Chí Thành
|