|
I) Thuyết Tương đối thu hẹp
Ánh sáng lan truyền với vận tốc nhất
định:
Năm 1675 Oleaus Römer là người đầu tiên
đã nhận định như vậy khi ông khảo
sát những vệ tinh của Jupiter và những thiên
thực của chúng (éclipse)Tính chất sóng của
ánh sáng được đưa ra vào thế kỷ
thứ 18, và năm 1817 Fresnel chứng tỏ
rằng đó là một chuyển động ngang.
Bởi vì có sự dao động (vibration) nên ông cho
rằng phải có một mặt nền (support):
đó là ÉTHER , vô cùng cứng rắn nhưng hoàn
toàn không có một sự chống đối nào
với các thiên thể.
Năm 1887, Michelson và Morley, trong một cuộc thí
nghiệm nổi tiếng, đã chứng tỏ
rằng, nếu như có sự hiện diện
của Éther thì trái Ðất phải có vận tốc
bằng không so với chất nền này.
Những thất bại liên tiếp của Cơ
học cổ điển và tính cách không thích hợp
với Ðiện từ học mang đến cho Einstein
thuyết Tương đối thu hẹp dựa trên
những lý thuyết căn bản:
* Chuyển động đều của một
vật chỉ có thể định nghĩa được
khi so với một vật khác, và không thể
thực hiện được nghiên cứu vật lý
nào cho phép xác định vận tốc của
chuyển động đó
* Vận tốc ánh sáng là tuyệt đối và toàn
năng (universel).
Từ kết quả của nguyên tắc đó, luật
cộng những vận tốc với nhau của Galilée
trở thành sai.
Nếu một người di chuyển với vận
tốc 1 mét/ giây trong tàu lửa và người này di
chuyển 10 m/ giây so với người quan sát cố
định, vậy thì người quan sát thấy người
trong xe lửa di chuyển với vận tốc 11m /s: là
luật cổ điển của sự cộng
vận tốc, chỉ là một phỏng chừng cho
những chuyển động cóvận tốc
nhỏ của Luật Tương đối.
Trong Cơ học cổ điển, nếu v
là vận tốc của một vật chuyển động
trong một hệ quy chiếu cũng di chuyển
với vận tốc V, thì vận tốc
của vật chuyển động đó đối
với một hệ quy chiếu đang đứng yên
được diễn tả là:
v' = v + V (1)
Trong thuyết Tương Ðối, luật
tạo thành của những vận tốc trở thành:
v' = (v+V)/(1+vV/c2) (2)
Lẽ đương nhiên nếu vận tốc quá
nhỏ so với vận tốc ánh sáng c, thì vV/c2
xem như không đáng kể và hai biểu thức (1)
và (2) xem như bằng nhau.
Từ đó đưa ra kết luận là số
đo thời gian, chiều dài và năng lượng
đều tương đối, có nghĩa là số
đo vận tốc chỉ riêng biệt cho từng người
quan sát.
Trong phạm vi của thuyết Tương Ðối Thu
hẹp, số đo không gian-thời gian được
tính bằng hàm số của những tọa độ
x, y, z và t dưới dạng:
ds2=c2dt2-dx2-dy2-dz2
De Minkowski nói : Métrique này định nghĩa
một espace-temps plat (không gian-thời gian phẳng)
giống như espace-temps tuyệt đối của
Newton trong đó métrique được diễn tả dưới
hình thức
ds2=dx2+dy2+dz2
Vậy thì khoảng cách giữa những điểm
nằm TRÊN một HÌNH NÓN ÁNH SÁNG (cône de lumière)
bằng không (ds=0) và chỉ những điểm
nằm TRONG hình nón thì có thể gặp được
(joignable) bởi vì khoảng cách ds2
giữa hai điểm phải luôn luôn dương
(số đo khoảng cách là một số hình
học)

Hai đường chéo màu đỏ tạo thành hình
nón ánh sáng (cône de lumière)
II) Thuyết tương đối tổng quát
Mười năm sau thuyết Tương đối
thu hẹp, Einstein tổng quát hóa nguyên tắc tương
đương cho mọi hệ qui chiếu cho bất
kỳ chuyển động nào.
Einstein đưa ra nguyên tắc tương
đương: không phân biệt gia tốc (accélération)
và sức hấp dẫn được
(gravitation), có nghĩa là không có cuộc thí nghiệm
nào cho phép ta quyết định nếu hệ
thống quy chiếu mà ta đang ở đang bị
ảnh hưởng của gia tốc -một tên
lửa đang được phóng đi chẳng
hạn- hay ở trong trọng trường của
một vật thể ( le champ de pesanteur d'une masse ) -
đến bề mặt của trái Ðất hay bất
kỳ một thiên thể nào.
Ngược lại với không gian tuyệt đối
của Newton, không gian của Einstein được dính
liền với vật được chứa (le
contenu). Không gian KHÔNG CÓ TRƯỚC mà chính sự
hiện diện của khối lượng sẽ áp
đặt hình học của nó và cũng từ đó
thay đổi ngay cả cách hoạt động
của vật thể và ánh sáng.
* Vũ trụ của Newton cứng cỏi được
thay thế bằng espace-temps bốn chiều, và cong
bởi sự hiện diện của khối lượng
* Lực hấp dẫn được thay thế
bằng những đặc tính hình học của không
gian: Vật thể làm cong espace-temps chung quanh nó.
* Ðể hiểu hiện tượng này, ta phải
loại bỏ vũ trụ ba chiều của Newton mà dùng
toán espace-temps bốn chiều.
* Trong khi Newton thấy một lực giữa hai
vật thì Einstein chỉ còn thấy một
đường cong espace-temps, và một thiên
thể đang quay chung quanh một thiên thể khác
được thấy như đang quay theo đường
cong tạo ra bởi thiên thể này
Sự việc này cho ra những hậu quả nào?
Chúng ta đã thấy rõ ràng: :Tia sáng bị
lệch khi chạm một vật thể bởi vì nó
đi theo những quỹ đạo tương
ứng với con đường ngắn nhất (đường
trắc địa, géodésique).
Khi đến gần một vật thể, thời
gian đi chậm hơn. Hậu quả của hiệu
ứng này là lực hấp dẫn redshift, ( redshift
gravitationnel, xem từ vựng Thiên văn) , một
sự xê dịch (décalage) đến những tần
số thấp của một tia phát ra từ bề
mặt của một vật thể.
Khi những tia sáng đi gần một vật thể,
chúng bị trễ, do bởi chúng phải trải qua
một khoảng cách lớn hơn (hiệu ứng
Shapiro, xem tài liệu dưới đây)Tất cả
những kết quả được được
đo bằng thí nghiệm.
Một thử nghiệm khác liên quan tới sự
đến sớm hơn của điểm périhélie
của Mercure (périhélie là điểm trên một hành
tinh hay sao chổi gần mặt trời nhất, điểm
xa nhất gọi là aphélie). Hành tinh này cò một
quỹ đạo rất lệch tâm (excentrique) do đó
có sự thay đổi quan trọng về vận
tốc. Thuyết tương đối tổng quát là
thuyết duy nhất có thể cho phép giải thích
tại sao cứ mỗi thế kỷ là điểm
gần mặt trời của nó đến sớm hơn
43 giây sau khi đã khấu trừ ảnh hưởng
của những hành tinh khác. (xem tài liệu dưới
đây)

|