Những bài cùng tác
giả
Với sự
tan rã của Liên Bang Xô Viết năm 1991, Hoa Kỳ đột
nhiên được đẩy lên địa vị siêu cường duy nhất. Kỷ
nguyên mới bắt đầu với tác phẩm The End of
History and the Last Man (Chung cuộc của Lịch Sử và
Người Cuối Cùng) của Francis Fukuyama xuất bản
năm 1992, dọn đường cho sự ra đời của nhóm The
Project For The New American Century năm 1997.Mười hai
năm sau, vào đầu năm 2009, trong một bài báo trên tờ
Washington Post, Richard Cohen viết: Điều
Henry Luce gọi là "Thế Kỷ của Hoa Kỳ" đã đi vào dĩ
vãng.
Cohen nói đúng.
THẾ KỶ
CỦA HOA KỲ RA ĐỜI
Khi tạp
chí Time-Life sáng tạo ra cụm từ lừng danh
đó, ý định của tác giả là kêu gọi người Mỹ phải hành
động. Xuất hiện trên tờ Life, số ra ngày
7-2-1941, bài The American Century đã được
tung ra vào lúc thế giới đang lâm vào một cuộc khủng
hoảng lớn lao. Cuộc chiến ở Âu châu đã bị chệch
hướng một cách tai hại. Cuộc chiến thứ hai không kém
nguy hiểm đang diễn ra ở Viễn Đông. Phe Trục hiếu
chiến đang thắng thế.
Với số
phận của các quốc gia dân chủ đang lâm nguy, người
Mỹ mãi chần chừ. Luce kêu gọi Hoa Kỳ nên "sốt sắng
dấn thân chấp nhận nhiệm vụ và cơ hội của quốc
gia hùng mạnh và nòng cốt nhất thế giới...để vận
dụng toàn bộ ảnh hưởng của chúng ta trên thế giới
nhằm thành đạt những mục tiêu chúng ta thấy thích
hợp và bằng những phương tiện chúng ta thấy thích
hợp".
Ngày nay
nhìn lại, bài xã luận của Henry Luce, một pha trộn kỳ lạ
thái độ ái quốc thái quá với tự tôn đến
kiêu căng, không có đủ lý do để đứng vững. Tuy
vậy, cụm từ "Thế Kỷ của Người Mỹ" đã được vồ
vập và phổ biến nhanh chóng. Nó đã thượng tồn và giữ
một vị trí trong kỷ nguyên đương đại tương tự như
Thời Đại Victorian trong thế kỷ 19. Trong một cụm từ
gẩy gọn, ý niệm nầy đã gói ghém được cốt lõi của một
sự thật: nước Mỹ luôn sẵn sàng cứu rỗi và hỗ trợ,
giữ vị trí tiên phong và hướng đạo trong lịch sử, và
là nguồn cảm hứng cho nhân loại.
Trong
hình thức cổ điển, châm ngôn của "Thế Kỷ Hoa Kỳ"
là Thiện thắng Ác, Chính thắng Tà. Hoa
Kỳ, nhất là lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, bảo đảm sự
đắc thắng của Thiện và Chính. Nhưng mãi đến
khi được thúc đẩy lần chót ngày 7-12-1941, người Mỹ
mới sẵn sàng chấp nhận nhiệm vụ lãnh đạo, nhờ đó, đã
giúp thế giới thoát khỏi nhiều chế độ toàn trị tàn
bạo kế tiếp. Và người Mỹ không những đã duy trì, mà
còn trở thành mô hình, của tự do nhân bản.
TỪ MẪU
MỰC ĐẾN TỰ TÔN THÁI QUÁ
Nguyên
thủy của Thế Kỷ Của Hoa Kỳ, theo các tín đồ
gốc Mỹ, là thế.
Nhận
thức nầy đặt ra hai vấn đề. Trước hết, các tín đồ Mỹ
đã tự giành cho mình quá nhiều công trạng. Thứ đến,
nhận thức quá chủ quan hay tự tâng bốc quá đáng đã
loại ra ngoài, không quan tâm, hay quá coi thường
nhiều sự kiện lịch sử.
Hậu quả
là người Mỹ đã nuôi dưỡng một loạt ảo tưởng - dù ít
nhiều có giá trị trong nhiều thập kỷ trước đây - từ
lâu không còn lợi ích thực tế. Nói một cách ngắn
gọn, sự duy trì quá lâu dài một huyền thoại tự tôn
đã khiến các tín đồ Mỹ đánh mất bản chất của
chính mình, gây trở ngại cho chính nỗ lực lèo
lái con thuyền quốc gia qua những thời kỳ sóng gió
mãi cho đến ngày nay. Nói trắng ra, người Mỹ đã kéo
dài cuộc sống trong huyền thoại, ngày một xa thực
tế, và ngày nay đã biến thái thành một ung bướu ác
tính. Mặc dù Richard Cohen có thể đã đúng khi tuyên
bố Thế Kỷ của Người Mỹ đã cáo chung, dân Mỹ,
nhất là giới lãnh đạo chính trị, vẫn còn chìm đắm
trong huyền thoại tự tôn.
Muốn rút
tỉa những bài học quá khứ hữu ích cho hiện tại,
người Mỹ phải biết sẵn sàng trả lại cho lịch sử
những sự kiện Thế Kỷ Hoa Kỳ đã gạt bỏ ra
ngoài.
Chẳng
hạn, trong chừng mức sự sụp đổ của các chế độ toàn
trị xứng đáng được xem như một bài học lịch sử đương
đại nổi trội, công đầu cho thành tích nầy rõ ràng
thuộc về Liên Bang Xô Viết. Để đánh bại Đức Quốc Xã
(Third Reich), Liên Xô đã phải gánh chịu đến 65% số
thương vong của phe Đồng Minh trong Đệ Nhị Thế
Chiến, so với 2% của Hoa Kỳ. Trước sự kiện lịch sử
nầy, các cựu quân nhân lão thành Mỹ phục vụ trong
thời Thế Chiến tưởng cần phải tỏ lời cám ơn với
nguyên lãnh tụ Cộng sản Stalin.
Việc Hoa
Kỳ tự cho mình có công đầu trong quá trình triệt hạ
Wehrmacht đâu khác gì hãng Toyota tự giành cho mình
thành tích phát minh xe hơi. Người Mỹ trong thực tế
đã nhập cuộc muộn màng, nhưng rồi nhanh nhẹn giành
công đầu trong chiến thắng.
Thế Hệ
Vĩ Đại,
thực sự, chính là thế hệ người Nga tự nguyện hy
sinh hàng triệu đồng bào Xô Viết của họ để đổi lấy
hàng triệu binh sĩ Đức Quốc Xã tử vong.
Trong
thời Chiến Tranh Lạnh tiếp theo sau Đệ Nhị
Thế Chiến, hàng ngũ phe Đồng Minh trước đây đã
biến thái thành những quốc gia đối lập cạnh tranh.
Một lần nữa, Hoa Kỳ , sau nhiều thập kỷ tranh giành
ảnh hưởng, đã nghiễm nhiên trở thành siêu cường duy
nhất.
Thành
tích mới nầy đã phản ảnh rất ít vai trò xuất chúng
của các chính khách Hoa Kỳ, trong thực tế, đã phản
ảnh rất nhiều tình trạng bất lực của các vị cầm đầu
Điện Cẩm Linh. Các lãnh đạo Nga, vụng về, khắt khe,
độc đoán, đã phạm nhiều lỗi lầm trong vai trò lèo
lái khối Xô Viết cho đến khi toàn bộ hệ thống tan
vỡ, vĩnh viễn đánh mất uy tín của chũ nghĩa
Marx-Lenin như một hệ ý thức thay thế, đối với chủ
nghĩa tư bản dân chủ tự do. Con rồng Xô Viết đã tự
hủy hoại. Các xứ Tây phương thật ra phải biết cám ơn
các đồng chí Gueorgui Malenkov,
Nikita Sergeyevich Khrushchev,
Leonid Brezhnev,
Yury Vladimirovich Andropov,
Konstantin Ustinovich Chernenko và
Mikhail Sergeyevich
Gorbachev.
  
Gueorgui Malenkov,
Nikita Sergeyevich Khrushchev,
Leonid Brezhnev
  
Yury Vladimirovich Andropov,
Konstantin Ustinovich Chernenko và
Mikhail Sergeyevich
Gorbachev
LỖI LẦM
VÀ TỘI ÁC
Những gì
các tín đồ của giáo phái "Thế Kỷ của Hoa Kỳ"
đã gạt ra ngoài tự truyện huyền thoại, không những
là phần đóng góp của phe "Ác-Tà", mà còn nhiều bước
chệch đường, những lỗi lầm, những tội phạm của chính
Hoa Kỳ - những nguyên nhân đưa đến những bi lụy của
người Mỹ hiện nay.
Những
sai lầm và tội ác mang nhãn hiệu "made in
Washington", nếu không thể xếp loại chung với
nạn diệt chủng Armenian, cuộc cách mạng Bolshevik,
thái độ cầu hòa với Adolf Hitler, hay Holocaust,
cũng vẫn là những sự kiện lịch sử mang tính tai
họa. Nếu được tính sổ một cách khách quan, các
sự kiện nầy nhất thiết đã phải làm rúng động nhiều
người, khiến khúc tự tình của giáo phái "Thế Kỷ
của Hoa Kỳ"thêm phần chối tai chát chúa.
Thử đơn
cử một vài sự kiện quen thuộc, mặc dù hệ lụy của
những sai lầm ngày nay chúng ta đang phải đối diện,
luôn được cố tình che giấu.(1)
CUBA:
Năm 1898, Hoa Kỳ đã tuyên chiến với Tây Ban
Nha dưới chiêu bài giải phóng khu vực được gọi là
Hòn Ngọc Antilles (the Pearl of the Antilles).
Khi cuộc chiến ngắn ngủi chấm dứt, Hoa Thịnh Đốn đã
nuốt lời hứa. Nếu thực sự đã có một Thế Kỷ của
Hoa Kỳ, thì đây là điểm khởi đầu, với chính phủ
Mỹ đã chối bỏ một cam kết long trọng trong khi luôn
tuyên bố trái ngược một cách sống sượng. Qua quyết
định biến Cuba thành một xứ bảo hộ
(protectorate), Hoa Kỳ đã khởi động một chuỗi
dài các biến động cuối cùng đã đưa đến sự trỗi dậy
của Fidel Castro, sự kiện Vịnh con Heo (Bay of
Pigs), Chiến dịch Mongoose, vụ Khủng Hoảng Tên Lửa
Cuban, và trại tù Guantanamo Bay hiện nay. Khúc
tuyến nối liền các biến động vừa kể có thể không
phải là một đường thẳng, với những bước ngoặc quanh
co, nhưng luôn liên hệ chặt chẽ với nhau.
 

(2) BOM
HẠT NHÂN:
Vũ khí hạt nhân thường trực đe dọa sự
trường tồn của nhân loại. Được sử dụng bừa bải, loại
vũ khí nầy có thể triệt tiêu mọi văn minh trần thế.
Viễn tượng vài xứ tương đối nhỏ bé như Bắc Hàn,
Iran, đang tìm cách thủ đắc vũ khí nguyên tử, cũng
đủ gây căng thẳng cân não trên toàn thế giới. Tổng
Thống mới Barack Obama, cũng như một số tổng thống
Mỹ trước ông, đã tuyên bố: hủy bỏ loại vũ khí ghê
rợn nầy là việc làm cấp thiết. Điều không một
tổng thống nào muốn xác quyết là vai trò của Hoa Kỳ
trong quá trình trùm phủ lên nhân loại hiểm họa
nguyên tử tai ương nầy.
Hoa Kỳ
đã phát minh ra vũ khí hạt nhân. Hoa Kỳ - nước duy
nhất trong câu lạc bộ hạt nhân - đã thực sự sử dụng
bom nguyên tử như một vũ khí chiến tranh. Hoa Kỳ
cũng là nước dẫn đầu trong việc xác quyết khả năng
sử dụng vũ khí nguyên tử như tiêu chí quyền lực
trong thế giới thời hậu chiến, khiến các cường quốc
như Xô Viết, Anh, Pháp và Trung Quốc thi đua cố bắt
kịp. Ngày nay, Hoa Kỳ vẫn duy trì sẵn sàng một kho
vũ khí hạt nhân khổng lồ, và nhất quyết từ chối cam
kết chính sách không-sử-dụng-trước (no-first-use
policy), mặc dù luôn tỏ ra kinh tởm trước viễn
tượng một nước nào đó lăm le noi gương Hoa Kỳ.
(3)
IRAN:
Chìa tay trước cho Tehran, Tổng Thống Obama
muốn mời gọi cấp lãnh đạo Cộng Hòa Hồi giáo buông
lỏng nắm tay của mình (unclench their fists).
Tuy vậy, nắm tay thù nghịch Iran phần lớn là tác
phẩm của chính người Mỹ.
Nhiều
người Mỹ chỉ bắt đầu biết đến Iran từ cuộc khủng
hoảng con tin năm 1979-81, khi một số sinh viên
Iran chiếm tòa đại sứ Mỹ ở Tehran, giam giữ vài chục
nhà ngoại giao và sĩ quan Mỹ, và áp đặt một
bài-học-444-ngày-nhục-nhã lên chính quyền Jimmy
Carter.
Đối với
đa số người Iran, câu chuyện quan hệ Mỹ-Iran đã khởi
đầu sớm sủa hơn nhiều, đã thực sự bắt đầu từ năm
1953, khi một số nhân viên tình báo CIA, phối hợp
với các đối tác người Anh, lật đổ chính quyền dân cử
của Thủ Tướng Mohammed Mossadegh và phục hồi ngôi
báu cho Shah of Iran. Âm mưu thành công. Quốc vương
Iran, The Shah, giành lại ngôi báu. Người Mỹ được
tưởng thưởng dầu khí cùng với một thị trường tiêu
thụ vũ khí béo bở. Người dân Iran phải gánh chịu
nhiều thua thiệt. Tự do, dân chủ không hề được phát
huy. Thái độ thù nghịch năm 1979, với sự chiếm đóng
tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Tehran, không phải không có lý
do chính đáng.
 
Jimmy Carter,
Shah-Reza-Pahlavi

(4)
AFGHANISTAN:
Tổng Thống Obama không phải phí nhiều
thì giờ để biến cuộc chiến Afghanistan thành cuộc
chiến của chính ông. Giống như người tiền nhiệm,
Obama quyết chí đánh bại phe Taliban. Cũng như người
tiền nhiệm, trước hết, Obama sẽ phải đối diện với
vai trò của nước Mỹ trong việc khai sinh ra phe
Taliban nguyên thủy. Hoa Thịnh Đốn, một thời, đã rất
hãnh diện với sự thành công trong vai trò tiếp liệu
vũ khí và viện trợ cho người Afghanistan cực đoan,
trong cuộc thánh chiến chống quân chiếm đóng nước
ngoài. Dưới thời Jimmy Carter và Ronald Reagan,
thành tích nầy đã được xem như đỉnh cao của nghệ
thuật trị quốc. Sự yểm trợ của Hoa Kỳ cho tổ chức
Afghan Mujahideen đã gây rất nhiều nhức nhối,
khó khăn cho người Xô Viết. Tuy nhiên, cùng lúc, đó
cũng là đầu mối khai sinh ra ung nhọt ác tính để rồi
lại gây ra nhiều tổn thất cho chính Hoa Kỳ - và quân
lực Hoa Kỳ ngày nay đã sa lầy trong một cuộc chiến
chưa thấy dứt điểm.


Kaboul đổ nát
HÀNH VI
SẤM HỐI
Nếu Hoa
Kỳ trước đây đã hành động trái ngược, liệu Cuba đã
có thể phát triển trở thành một nền dân chủ ổn
định và thịnh vượng, một hải đăng hy vọng
cho châu Mỹ La Tinh? Liệu thế giới đã tránh được
hiểm họa vũ khí hạt nhân? Liệu Iran ngày nay đã
có thể là một đồng minh của Mỹ, một hải đăng tự
do trong thế giới Hồi giáo, thay vì một thành
viên của trục ma quỹ? Liệu Afghanistan đã có thể là
một xứ an lạc sống hòa bình với các nước láng
giềng?
Đã hẳn,
không ai có thể đoan chắc điều gì đã có thể xẩy ra.
Điều chúng ta biết chắc là các chính sách, do các
chính khách kinh nghiệm, lừng danh, ở Hoa Thịnh Đốn,
soạn thảo, ngày nay đã tỏ rõ cực kỳ sai quấy.
Vậy
người Mỹ nên xử lý như thế nào trước các chính sách
rõ ràng thiếu sáng suốt nói trên?
Nhiều
người Mỹ có thái độ tiêu cực, thoải mái, và tự trấn
an, tránh nhìn thẳng sự thật, nhờ đó, có thể duy trì
tự truyện "Thế Kỷ của Hoa Kỳ". Đó là thái độ
của phái Tân Bảo Thủ do nhóm Bush, Cheney,
Rumsfeld, Condoleezza Rice, Wolfowitz...lãnh đạo.
 
Bush, Cheney
  
Rumsfeld, Condoleezza Rice,
Wolfowitz
Một số
người Mỹ khác, tích cực hơn, lại nghĩ, nên tránh
giải pháp dễ dàng đầy cám dỗ đó, và chấp nhận một
thái độ hoàn toàn trái ngược: công khai thú nhận
lãnh đạo chính trị trước đây đã sai lầm, người Mỹ đã
làm hỏng mọi việc. Họ nghĩ chỉ có thái độ thẳng
thắn, can đảm đó mới có thể giúp người Mỹ tránh lặp
lại cùng những lỗi lầm. Có thể nói, Godfrey
Hodgson, thuộc Đại Học Yale, và Andrew Bacevich,
thuộc Boston University, là hai đại diện hùng hồn,
mạch lạc nhất của nhóm nầy.
 
Godfrey Hodgson,
Andrew Bacevich
Thực
vậy, người Mỹ cần phải công khai nhận lỗi. Để tránh
lặp lại sai lầm, người Mỹ cần một thái độ chân thành
hối lỗi. Người Mỹ phải xin lỗi dân Cuba, vì đã làm
vẩn đục quan hệ Mỹ-Cuba trong nhiều thập kỷ. Tổng
Thống Obama nên đại diện nhân dân Mỹ xin lỗi người
Nhật ở Hiroshima và Nagasaki. Tổng Thống Obama cũng
nên tỏ rõ nổi hối tiếc sâu xa của nhân dân Mỹ với
người Iran, người Afghanistan, và ngay cả với người
Iraq, người Việt Nam..., về những tai họa gây ra do
các chính sách can thiệp của Mỹ vào nội tình các xứ
liên hệ.Theo
nhóm thứ hai, Hoa kỳ nên làm những việc trên, và
không nên chờ đợi một đáp ứng nào từ các xứ nạn
nhân. Dù người Mỹ có nói gì, làm gì đi nữa, Fidel
Castro cũng sẽ không thú nhận Cuba cũng có phần lỗi
của mình. Người Nhật cũng sẽ không xếp Hiroshima
chung với Pearl Harbor và xúy xóa. Các lãnh tụ Hồi
giáo mullahs Iran, các lãnh tụ thánh chiến jihadists
Afghanistan cũng sẽ không "let bygones be
bygones"!



6/8/1945, Mỹ ném bom
nguyên tử xuống Hiroshima giết 78 ngàn người ngay ngày
đầu tiên...
Người Mỹ
phải xin lỗi họ, vì chính quyền lợi của nhân dân Mỹ
- để tự gột rửa những kiêu căng "Thế Kỷ của Hoa
Kỳ", và để xác nhận Hoa Kỳ đã tham gia vào các
việc làm man rợ, điên cuồng, và thảm kịch của thời
đại. Với những tội phạm đó, người Mỹ phải tự gánh
lấy trách nhiệm.
Để giải
quyết những vấn đề trên, người Mỹ cần phải nhìn lại
chính mình, để thấy rõ thực sự mình là ai. Muốn vậy,
người Mỹ phải cùng lúc tự rủ bỏ mọi ảo tưởng trong
huyền thoại "Thế Kỷ của Hoa Kỳ".
HUYỀN
THOẠI "BIỆT LỆ HOA KỲ"
Những ai
tin tưởng Hoa Kỳ có sứ mệnh đặc biệt - phát huy tự
do, dân chủ, nhân quyền trên thế giới - hiện đang
đứng trước một thời vận cực kỳ bất lợi. Hai cuộc
chiến chưa thấy dứt điểm và sự sụp đổ của hệ thống
tài chánh đang gieo rắc ấn tượng một siêu cường trên
đà tuột dốc. Các lý tưởng của Hiệp Chủng Quốc, ngày
một hoen ố dưới hai nhiệm kỳ tổng thống của George
W. Bush, chỉ có thể được cải thiện bởi sự tái khẳng
định tiềm năng của nước Mỹ qua tư cách của người kế
nhiệm.
Từ ngày
khai sinh Cộng Hòa Hiệp Chủng Quốc, ý tưởng hứng
khởi "thành phố trên đỉnh đồi"
luôn ẩn náu ở một nơi sâu thẳm trong tâm thức người
Mỹ. Như
Thomas Paine từng phát biểu, "Chính nghĩa
của Hoa Kỳ phần lớn cũng là chính nghĩa của nhân
loại".
Nói một cách khác, Hoa Kỳ là biệt lệ, không chỉ
hành động vì quyền lợi và tham vọng tranh giành đất
đai và châu báu như bất cứ quốc gia nào, mà còn nung
nấu bởi sứ mệnh, như lời của Lincoln, bảo đảm đem
lại cho hành tinh ý niệm "chính quyền của dân, do
dân, vì dân".
Cốt lõi của ý niệm biệt lệ Hoa Kỳ (American
exceptionalism) là một sứ mệnh , một niềm tin,
của một quốc gia đang vâng theo tiếng gọi hướng
thượng toàn cầu.
Đây
chính là ý niệm, Godfrey Hodgson - một tác giả người
Anh rất thông hiểu Hoa Kỳ, đồng thời cũng là người
tình đã vỡ mộng với Hoa Kỳ - đã mổ xẻ trong tác
phẩm: "The Myth of American Exceptionalism"(Huyền
Thoại về Biệt Lệ Hoa Kỳ). Như nhan đề đã gợi ý,
Hodgson không bị thuyết phục bởi huyền thoại sứ mệnh
toàn cầu của nước Mỹ. tác giả viết, Hoa Kỳ đã chỉ
trở thành một trong những nước lớn nhưng thiếu hoàn
hảo.
Không chỉ nghi ngờ, Hodgson còn giận dữ, thất
vọng trước sự nhào nặn mang tính tôn giáo, tự tôn,
và hữu khuynh, một ý tưởng vốn cao quí. Ông đưa ra
luận cứ: Một tập hợp những niềm tin, trong cốt
lõi mang tính tạo dựng tự do, đã bị thối rữa thui
chột trong 30 năm qua bởi sự tự tin thái quá và
quyền lợi riêng tư, nay đã biến thái thành một căn
bản nguy hiểm cho chính sách quốc gia và hệ thống
quốc tế
.
Không ai
có thể chối cãi hiện tượng "thối rửa, thui chột"
vừa nói. Chính sách biệt lệ hung bạo đã biểu
hiện rõ nét trong quá trình tranh cử trong năm rồi
khi các đảng viên Cộng Hòa, một đảng chính trị với
sức mạnh tinh thần cằn cổi, đã ra sức thu góp chút
năng lượng chính trị còn leo lét từ ý niệm thiên
mệnh cuồng nhiệt trong suốt 8 năm cầm quyền của đảng
Cộng Hòa. Nhưng cử tri Mỹ không còn tha thiết với
chiêu bài biệt lệ; họ chỉ vồ vập chương trình
bảo hiểm y tế kiểu Âu châu.
Vào thời
điểm quyết định nầy, tác phẩm của Hodgson đã đem lại
một sự thẩm duyệt điều mà tác giả gọi là tự
truyện chắt lọc và biến dạng về đức tính biệt lệ của
Hoa Kỳ.
Ngay từ
đầu, Hodgson đã nói, Hoa kỳ thực ra ít "biệt lệ"
hơn là họ tưởng tượng. Nếu đọc lại lịch sử, chúng ta
hẳn biết: các nhà lập quốc là những hậu duệ tinh
thần của Thời Đại Khai Sáng, tư tưởng chính trị cấp
tiến của họ đã được un đúc bởi John
Locke, David Hume,
Charles Montesquieu và François Voltaire.
 
John
Locke, David Hume
 
Charles Montesquieu và
François Voltaire
Theo
Hodgson, bên cạnh những dị biệt, Hoa Kỳ và Âu
châu trong thế kỷ 19, trong cốt lõi, đều là thành tố
của cùng một nền văn minh tư bản tự do, cấp tiến.
Tuy nhiên, Hodgson vẫn xác quyết, cuộc cách mạng
Hoa Kỳ đã khai sinh một Cộng Hòa rộng lớn đầu tiên
trên thế giới, và đã thay ý niệm quyền do thiên
mệnh, thừa kế, và tính chính đáng tục thức với quyền
hành tối thượng của người dân.
Điều đáng ngạc nhiên là tất cả những nét độc đáo đó
đã được thể hiện ngay cả khi giới lãnh đạo đương
quyền vẫn chấp nhận cái mà Hodgson gọi là dòng
mạch đức tin tôn giáo vào số phận trong khuôn mẫu ái
quốc của người Mỹ - thứ sở thích loại ngôn từ chuộc
tội và cứu rỗi rất rõ nét từ Lincoln qua
Woodrow Wilson cho
đến Reagan và Bush.
  
Lincoln,
Woodrow Wilson, Reagan
Tác phẩm
của Hodgson trải dài theo hai lối: con đường của
một dân tộc, từ chủ nghĩa biệt lệ vươn tới chỗ
quá-tầm-với và ngông cuồng, và con đường chính tác
giả dõi theo, từ một phóng viên trẻ tuổi ở Hoa Thịnh
Đốn tìm thấy cảm hứng trong "Đại Xã Hội với bình
đẳng chủng tộc và sẻ chia thịnh vượng" đến vỡ mộng
cay chua.
Đôi khi phần tự truyện của phóng viên hầu như lấn át
phần tự truyện của cả một dân tộc.
Chẳng
hạn, Hodgson nói, biên giới mới dài rộng của Hoa Kỳ
đã đem lại cho nước Mỹ một sắc thái khác với Âu
châu, và đã giúp định hình những ý niệm riêng về tự
do; nhưng tác giả đã không thể cưởng lại ý tưởng
riêng nên đã phải viết tiếp: ký ức tập thể của
người Mỹ đã đưa đến sự thẩm định thiếu sót về tầm
mức ảnh hưởng của các biến cố trong lịch sử Âu châu
đối với quá trình bành trướng về phía tây của chính
Hoa Kỳ.
Đã hẳn, việc tậu mãi Louisiana là một giao dịch bất
động sản kỳ diệu phương hại cho người Pháp, nhưng
thử hỏi cử chỉ đó đã làm giảm thiểu tinh thần đặc
thù cá nhân chủ nghĩa và doanh thương của người
Mỹ như thế nào?
Tác phẩm
của Hodgson đăc biệt thuyết phục khi mô phỏng quá
trình biến thái trong tư tưởng của người Mỹ trong
những thập kỷ gần đây. Sự kiện Chiến Tranh Lạnh
cáo chung đã để lại siêu cường duy nhất Hoa Kỳ
với sứ mệnh toàn cầu được tăng cường mang tính định
mệnh. Bắt đầu với phản ứng của phái bảo thủ trước
cao trào phản văn hóa (counterculture) của thập kỷ
1960s, chính trị Mỹ đã rẽ lối qua phía hữu, vun quén
huyền thoại uy lực Hoa Kỳ. Giới lao động lép
vế trước các đại công ty chủ nhân và giới tài phiệt
Wall Street được hoàn toàn buông lỏng tự tung tự tác
trong khi chủ nghĩa tư bản giữ địa vị chủ nhân ông
như một cánh của huyền thoại biệt lệ Hoa Kỳ ngang
hàng với lý tưởng dân chủ. Chiến tranh văn hóa
đã đưa đến sự trỗi dậy của cánh hữu tân cơ đốc quyết
tâm bảo vệ hệ giá trị Mỹ, không những chống lại văn
hóa tự do luyến ái của các đô thị duyên hải, mà cả
văn hóa Canada và Âu châu đang miệt thị văn hóa tôn
sùng hình phạt tử hình. Hậu quả, theo Hodgson, là
một Hiệp Chủng Quốc biệt lệ không phải nhờ giá trị
đạo đức mà vì các bất cập và hoang tưởng.Số phạm
nhân cao giữ kỷ lục biệt lệ. Chất lượng các
dịch vụ y tế tồi tệ đến mức biệt lệ. Cấp độ
bất quân bình xã hội cũng sâu rộng biệt lệ.
Giáo dục công lập cũng xuống cấp một cách biệt lệ.
Xu hướng Mỹ hóa sự kiện Holocaust và ủng hộ Do Thái
một cách mù quáng vô điều kiện đã chứng tỏ khả năng
nhắm mắt trước các sự thật phủ phàng, kể cả thái độ
thờ ơ của Mỹ trước nạn diệt chủng của Hitler khi
đang tiếp diễn.
Mọi chi
tiết từ số phận hẩm hiu của sắc dân da dỏ bản địa
đến tính keo kiệt trong ngạch số ngoại viện Hoa Kỳ
đều được đơn cử như những nguyên do đáng phiền
trách. Dù phải bỏ qua những tiểu tiết, cũng phải
công nhận Hodgson đã nắm bắt được vấn đề.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng không nên quá khắt khe để kết
luận một Hoa Kỳ, không quá tự tôn, ôn hòa và
trách nhiệm, chỉ nên ứng xử như bất cứ một thành
viên nào khác trong cộng đồng quốc tế.
Hoa Kỳ
đã được khai sinh như một ý tưởng, vẫn có thể và nên
theo đuổi lý tưởng của mình. Trên nhiều phương diện,
Hoa kỳ vẫn còn có thể là thành trì ý thức hệ cuối
cùng của hành tinh. Chúng ta đều biết Ấn Độ và
Trung Quốc là những đại cường đang lên, nhưng vẫn
chưa thể xác quyết họ đang và sẽ đại diện cho một hệ
tư tưởng hay giá trị phổ quát nào. Một Hoa Kỳ hồi
sinh và hoàn toàn đánh mất hình ảnh một quốc gia
tiên phong theo đuổi lý tưởng tự do, dân chủ, pháp
trị, và tự do kinh doanh, là một điều chưa hẳn đáng
mong muốn.
Bí quyết
là bằng cách nào để thể hiện và phát huy những lý
tưởng đó trong một thế giới liên kết hỗ tương với
nhiều vấn đề đòi hỏi giải pháp chung. Cường điệu,
kiêu căng, tham lam, bá quyền, kẻ cả ... không phải
là con đường dẫn tới tiến bộ. Hòa hợp, tương kính,
tương thân, tương trợ, tương nhượng ...có lẽ là lý
tưởng với nhiều cơ may đem lại hòa bình, thịnh
vượng, hạnh phúc cho thế giới ngày mai.
Tổng
Thống Obama cho biết ông tin ở biệt lệ Hoa Kỳ, một
biệt lệ cơ sở trên giá trị nhân bản hơn là cường
lực. Ông cũng đã bắt đầu điều chỉnh những sai lầm
Hodgson liệt kê trên đây. Thách thức lớn nhất đối
với Obama là bằng cách nào thể hiện được những cải
cách thiết yếu mà không phương hại, tổn thương những
lý tưởng cao đẹp nói trên của người Mỹ. Để thành
công, có lẽ Obama cần chứng tỏ một thái độ ôn hòa
vừa phải, cần chọn lựa những ngôn từ sám hối nhẹ
nhàng khả dĩ đoàn kết toàn dân Mỹ trong niềm tin của
Lincoln "hy vọng tốt đẹp nhất cuối cùng của hành
tinh".
Mong lắm
thay!
© GS Nguyễn
Trường
Irvine, CA,
USA
9-5-2009
SÁCH
THAM KHẢO:
(1) The
Limits of Power: The End of American Exceptionalism,
Andrew Bacevich, 2009, Amazon.com.
(2) The
Myth of American Exceptinalism, Godfrey Hodgson,
Yale University Press, 2009.
|