|
1- Những người được giải trẻ nhất cho
từng môn:
 |
Vật lý: Sir William Lawrence Bragg 25 tuổi (1915) |
 |
Sinh lý học/Y khoa: Sir Frederick G. Banting 32 tuổi
(1923) |
 |
Hoá học: Koichi Tanaka ,
33 tuổi (2000) |
 |
Hòa bình: Rigoberta Menchü Tum 33 tuổi (1992) |
  |
Hóa học: Frédéric Joliot 35 tuổi, Irène Curie Joliot 38
tuổi (1935) |
 |
Vật lý: Marie Curie, Sklodowska
36 tuổi (1903) |
 |
Văn chương: Rudyard Kipling 42 tuổi (1907) |

2- Những người được giải già tuổi nhất
cho từng môn:
Piotr L. Kapitsa 84 tuổi (1978)
 |
Sinh lý học/Y khoa: Francis Peyton Rous (1966)
87 tuổi |
 |
Sinh lý học/Y khoa: Karl von Frisch (1973)
87 tuổi |
 |
Vật lý: Vitaly L. Ginzburg
(2003) 87 tuổi |
 |
Hòa bình: Ferdinand Buisson (1927) 86 tuổi
|
 |
Văn chương: Theodor Mommsen (1902) 85 tuổi
|
 |
Vật lý: Pyotr L. Kapitsa (1978) 84 tuổi
|
 |
Hóa học: Charles J. Perdersen (1987) 83
tuổi |

3- Tuổi trung bình cho mỗi môn
Hóa học: 54,24 tuổi
Văn chương: 63,68 tuổi
Hòa bình: 62,31 tuổi
Sinh lý học/Y khoa: 55,88 tuổi
Vật lý: 51,22 tuổi
Trung bình tổng cộng: 57,46 tuổi

4- Những cặp vợ chồng cùng lãnh

5- Sui gia cùng lãnh:

6- Anh em cùng lãnh:
  |
Gia đình Tinbergen:
Jan lãnh giải Kinh tế năm 1969,
em ông là Nikolaas được giải Sinh lý học/Y khoa năm 1973
|
|
|

7- Cha, mẹ, con cùng lãnh:
  |
Gia đình Bragg:
Cha: William Henry
và con William
Lawrence cùng nhận giải Nobel Vật lý năm 1915 |
  |
Gia đình Euler:
Hans von Euler-Chelpin lãnh giải Hóa học
năm 1929,
con trai ông Ulf von Euler, lãnh giải thưởng Sinh lý học/Y khoa
năm 1970 |
  |
Gia đình Siegbahn:
Mann Siegbahn lãnh giải Nobel Vật lý
năm 1924,
con trai là Kai Siegbahn lãnh giải Nobel cùng môn, năm 1981 |
  |
Gia đình Bohr:
Niels Bohr lãnh giải Nobel Vật lý năm
1922,
con trai ông Aage Bohr lãnh giải Nobel năm 1975 cùng môn |
  |
Gia đình Thomson:
sir Joseph Thomson, giải Nobel Vật lý
năm 1906 là cha của sir George Paget Thomson, được giải Nobel
Vật lý năm 1937 |
  |
Gia đình Curie:
Marie và Pierre Curie lãnh giải Vật
lý năm 1903,
Marie lãnh giải Hóa học năm 1911,
con gái là Irène Curie lãnh
giải Nobel Hóa học năm 1935 |

8- Tiếp tục được lãnh lần thứ hai
  |
John Bardeen:
Lãnh giải Nobel Vật lý năm 1956 cùng chia với W. H. Brattain
và W. Shokley về việc hiệu chính transistor Germanium
Lãnh giải Nobel Vật lý năm 1972 cùng với L. Cooper và J.
R. Schrieffer về lỳ thuyết về chất siêu dẫn
|
  |
Linus Pauling
Giải Nobel Hóa học năm 1954 vể những công
trỉnh về tính chất các nối hóa học với những áp dụng cho cơ cấu các phức
chất
Giải Nobel Hòa bình năm 1962 cho cuộc đấu tranh theo sự
hủy bỏ khí giới hạch tâm
|
  |
Marie curie: Giải thưởng Nobel Vật lý năm 1903 cùng chia giải với
chồng bà, Pierre Curie và H. Becquerel vi tìm ra chất phóng xạ.
Giải Nobel Hóa học năm 1911 cho sự khám phá chất Polonium
và Radium
|
  |
Frederic Sanger Lãnh giải Nobel Hóa học năm 1958 cho những công
trình trên cơ cấu protéine và insuline
Lãnh giải Nobel Hóa học năm 1980 chia với W.
Gilbert vè sự đóng góp của họ cho việc định rõ những
dây base trong acide nucléique |

9- Tổ chức quốc tế :
HCR Cao ủy liên hiệp quốc cho người tị nạn
Nobel Hòa bình năm 1954
Nobel Hòa bình năm 1981
Hôi Hồng Thâp tự:
Nobel Hòa bình năm 1917
Nobel Hòa bình năm 1944
Nobel Hòa bình năm 1963

10- Từ chối không lãnh:
Tự nguyện:
 |
Jean Paul Sartre, giải Nobel Văn chương năm 1964 |
|
Lê Ðức Thọ, giải Nobel Hòa bình năm 1973 |
Vì ép buộc chính trị:
 |
Boris Pasternak nhà văn Liên Xô,
lúc đầu nhận lãnh giải Nobel Văn chương năm 1958. Sau đó nhà cầm quyền
nước ông từ chối giải |
 |
Ba nhà khoa học Ðức được giải Hóa học bị Adolph Hitler cấm
lãnh: 1) Richard Kuhn, giai Nobel Hóa học năm 1938
|
 |
2) Adolf Friedrich Johann
Butenandt (giải Nobel Hóa học năm 1939) lãnh
giải này
|
 |
3) Gerhard Domagk, Nobel Sinh lý học/Y khoa năm 1939
Họ lãnh sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 chấm dứt |
|
|
|
|
|
|

|