Giáo dục Đại học theo hệ thống tín chỉ - Một kinh nghiệm

Vietsciences-Gs Hà Dương Tường          08/03/2005  

 

Theo báo chí, ngày 31.7.2001, bộ GD&ĐT đã có quyết định về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp ĐH, CĐ hệ chính quy theo học chế tín chỉ. Tuy nhiên, từ hơn ba năm sau quyết định này, hình như học chế theo tín chỉ này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi ở các trường. Vì thế, trong tháng giêng vừa qua, nhân dịp ghé thăm trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, đáp lời yêu cầu của GS Bùi Văn Ga, hiệu trưởng trường, tôi đã trình bày kinh nghiệm về học chế này ở trường đại học công nghệ Compiègne (UTC, Pháp), nơi tôi giảng dạy từ nhiều năm nay. Bài viết này xuất phát từ buổi trình bày ấy, xin được gửi tới xê-mi-na giáo dục như một đóng góp về một khía cạnh rất cụ thể về tổ chức giáo dục đại học.

1/ Vài hàng giới thiệu về trường UTC

Trường đại học công nghệ Compiègne (Université de Technologie de Compiègne, gọi tắt là UTC) được thành lập năm 1973, nằm trong hệ thống đại học Pháp (theo nghĩa là trực thuộc bộ đại học về mặt quản lý ; nhân viên giảng huấn – tiếng Pháp gọi chung là « enseignant-chercheur », gồm hai hạng : giáo sư (professeur) và «phó giáo sư» (maître de conférences) - được tuyển lựa như ở các đại học khác [1] và có thể được thuyên chuyển sang một đại học khác; trường có nhiệm vụ kết hợp giảng dạy và nghiên cứu v.v.), nhưng lại có một số điểm đặc thù xin liệt kê dưới đây để người đọc dễ theo dõi hơn một vài khía cạnh của vấn đề.

1.1/ Trước hết, đây là một trường đào tạo kỹ sư theo hệ « bac + 5 », tức 5 năm sau Trung học phổ thông Pháp (dưới đây, xin gọi tắt là tú tài – baccalaureat). Trường không cấp các bằng licence (« bac+3) » - tiếng Việt : « cử nhân » ?) hoặc maîtrise (« bac+4 »), song kể từ năm nay, trường sẽ cấp bằng master (« bac+5 » - thạc sĩ ?). Sinh viên muốn có bằng master phải theo học một số đơn vị học trình đặc thù, do « Ecole doctorale » (Phòng đào tạo sau đại học) của trường ấn định. Sinh viên muốn học thêm có thể được nhận làm nghiên cứu sinh để lấy bằng tiến sĩ.

1.2/ Trước khi đi vào các chuyên ngành kỹ sư, sinh viên được tuyển chọn (theo hồ sơ và phỏng vấn) từ tú tài sẽ phải theo học hai năm « dự bị », nói chung là về những môn khoa học cơ bản (toán, lý, hóa, sinh, tin học) hay văn hóa phổ thông trong đó có ngoại ngữ. Vì hai năm này là chung cho các chuyên ngành nên được gọi là « Tronc Commun » (viết tắt : TC). Như vậy, quá trình học tập của một sinh viên kỹ sư được chia làm hai gian đoạn : giai đoạn 1 là hai năm TC, giai đoạn 2 là 3 năm chuyên ngành.

1.3/ Ngoài các giáo sư và phó giáo sư trong ngạch giảng huấn của bộ đại học, trường được một đặc quyền mà các trường đại học khác ở Pháp không có, là được tuyển thẳng từ các cơ sở sản xuất một số chuyên gia tham gia giảng dạy mà không phải qua chế độ tuyển của bộ đại học. Chẳng hạn, các chuyên gia này không cần phải có bằng tiến sĩ, nhưng tất nhiên, họ phải có kinh nghiệm nghề nghiệp ở mức độ cao được thừa nhận (ví dụ như có một số bằng sáng kiến, hoặc đã chỉ huy thành công những công trình, những đơn vị sản xuất ở các xí nghiệp có tên tuổi v.v.). Các chuyên gia này có thể vừa tiếp tục công việc của mình ở xí nghiệp vừa tham gia giảng dạy, hoặc nghỉ hẳn công việc ở xí nghiệp trong vài năm để làm nhân viên giảng huấn và nghiên cứu toàn phần cho trường. Lương của họ do hội đồng quản trị nhà trường quyết định, thường là tương đương với lương giáo sư có vài năm thâm niên.

1.4/ Mỗi SV vào trường được chỉ định một « giáo sư cố vấn » (enseignant conseiller) để được hướng dẫn trong quá trình học tập của mình, cũng như để liên hệ nhờ giúp đỡ nếu có bất kỳ khó khăn nào trong quá trình học tập đó (kể cả khó khăn riêng trong đời sống, cần người khác lắng nghe, khuyên nhủ hoặc giúp giải quyết nếu có thể).

1.5/ Thời gian học tập của sinh viên được tổ chức thành hai học kỳ mỗi năm, mỗi học kỳ dài 17 tuần (kể cả một tuần dành cho thi kiểm tra cuối học kỳ, nhưng không kể các tuần nghỉ lễ). Nói chung, học kỳ Thu bắt đầu từ tuần thứ hai của tháng 9 cho tới tuần thứ ba của tháng giêng năm sau, học kỳ Xuân bắt đầu từ tuần đầu tháng 3 cho tới tuần cuối tháng 6. Tháng 7 là tháng nghỉ hè, còn tháng 2 và tháng 8 là hai giai đoạn giữa học kỳ (« intersemestre »), trong đó trường tổ chức cho sinh viên các kỳ thực tập ngắn ở xí nghiệp hay ở ngay tại trường, gọi tắt là « stage ouvrier ». Đối với sinh viên ngoại quốc, hai kỳ intersemestre này có thể được dành cho việc học tiếng và văn hóa Pháp (4giờ/ngày trong tuần + thăm viếng văn hóa cuối tuần).

1.6/ Các học kỳ thứ 3 và 6 trong giai đoạn 2 (chuyên ngành) được dành hoàn toàn cho thực tập ở xí nghiệp hay một phòng thí nghiệm (số ít), trong hay ngoài nước Pháp. Báo cáo cuối mỗi kỳ thực tập phải được ban giám khảo ngành thông qua, nếu không SV có thể bị buộc phải viết lại báo cáo hoặc làm lại nguyên một kỳ thực tập khác (trường hợp hãn hữu). Báo cáo kỳ thực tập ở học kỳ 6 cũng là luận văn tốt nghiệp của SV. Các học kỳ khác (1,2,4,5) là những học kỳ tạm gọi là « lý thuyết » (để phân biệt với hai học kỳ thực tập nói trên).

2/ Hệ thống tín chỉ ở UTC

2.1/ Ở UTC, nội dung các môn học được chia thành từng «đơn vị học trình» (unité de valeur, gọi tắt là UV). Mỗi UV kéo dài suốt học kỳ, nói chung gồm 2 giờ lý thuyết, 2 giờ bài tập và/hoặc 1,2 giờ thực hành – trên máy tính hay trong phòng thí nghiệm - mỗi tuần (chưa kể thì giờ làm việc riêng ở nhà), nhưng cũng có một vài UV nặng hơn (3g lý thuyết và 3g bài tập), nói chung là về các môn khoa học cơ bản ở TC, hoặc nhẹ hơn (một số UV có tính chất « văn hóa phổ thông »). Danh sách các UV trong niên khóa 2004-2005, kèm theo nội dung tóm tắt và số giờ học, có thể xem trên trang web

http://www.utc.fr/formations/initiale/ingenieurs/catalogueUV04-05.pdf

Cũng xin mở ngoặc để nói ngay, hiện nay mỗi UV được tính tương đương với 5 tín chỉ trong hệ đại học châu Âu (European Credit Transfert System, viết tắt ECTS), nhưng bắt đầu từ năm tới sẽ tính kỹ hơn : một UV có thể được tính tương đương với 4, 5 hoặc 6 ECTS, nhưng trong tổng thể, một sinh viên trung bình vẫn sẽ đạt được khoảng 6 UV hay 30 ECTS trong mỗi học kỳ. Xin xem hệ thống ECTS trên trang

http://europa.eu.int/comm/education/programmes/socrates/ects_en.html

của tiểu ban Giáo dục và đào tạo thuộc Ủy ban Châu Âu. Bài viết này sẽ không đi thêm vào chi tiết hệ thống này, mà tập trung vào hệ thống UV của UTC. Chỉ cần nói ngắn rằng ECTS là đơn vị học trình nhỏ nhất trong hệ thống đang tiến tới của đại học châu Âu sau Tuyên bố Bologna [2] năm 1999, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc công nhận bằng cấp của các đại học, và cho SV có thể chuyển đổi nơi học từ nước này sang nước khác, từ đại học này sang đại học khác. Mỗi giáo trình mở ra ở một đại học châu Âu, khi quá trình chuyển đổi cơ cấu này hoàn thành, sẽ được tính bằng một bội số của ECTS chứ không thể ít hơn.

2.2/ Như trên đã nói, một sinh viên (SV) sẽ chọn 6 UV (với sự hướng dẫn của giáo sư cố vấn) để theo học trong mỗi học kỳ. Sau mỗi học kỳ, một hội đồng giám khảo chung của TC sẽ, trên cơ sở kết quả thi các UV, cho phép SV học tiếp một cách bình thường, hoặc có những khuyến cáo và hướng dẫn chọn lựa UV cho học kỳ tiếp đó nếu SV đạt kết quả kém. Một SV xuất sắc qua một học kỳ có thể được ghi tên theo học 7 hoặc 8 UV trong học kỳ tiếp đó, hoặc một SV có kết quả không tốt ở học kỳ trước có thể chỉ được ghi 4 hay 5 UV trong học kỳ sau.

Các UV trong giai đoạn 1 (TC) được chia làm 3 loại : « khoa học và ngôn ngữ khoa học », « kỹ thuật và phương pháp » và văn hóa. Các UV về « văn hóa » thực ra là chung cho sinh viên cả hai giai đọan (TC hay chuyên ngành), bao gồm hai loại : loại thứ nhất về « tiếng nói và truyền thông » (tạm dịch « expression et communication »), chủ yếu là các UV về ngôn ngữ và văn hóa nước ngoài, song cũng có các UV về các kỹ thuật truyền thông đại chúng, về âm nhạc, kịch nghệ v.v. ; loại thứ hai, gọi chung là « văn hóa đại cương » (« culture générale »), bao gồm các UV về kinh tế, quản lý, xã hội học, tìm hiểu xí nghiệp, triết học, lịch sử khoa học hay lịch sử kinh tế v.v. Cả hai loại UV này do cùng một khoa (département) của trường đảm nhận. Khoa này có tên là Khoa công nghệ và khoa học nhân văn (technologie et sciences de l’homme, viết tắt là TSH).

Một SV TC, sau 4 học kỳ phải đạt ít nhất 22 UV, trong đó phải có đủ 18 « UV chuẩn » như sau :

-  8 UV « khoa học và ngôn ngữ khoa học », gọi tắt là UV khoa học ;

-  4 UV « kỹ thuật và phương pháp », gọi tắt là UV kỹ thuật ;

-  2 UV « tiếng nói và truyền thông », gọi tắt là UV ngôn ngữ ;

-  3 UV « văn hóa đại cương » ;

-  1 UV đánh dấu kết quả của « stage ouvrier ».

(còn lại 4 UV khác hoàn toàn tự do), mới được cấp bằng tốt nghiệp DEUTEC (Diplôme d’Etudes Universitaires de Technologie) và được phép học lên giai đoạn 2 của trường, hoặc có thể chuyển sang một đại học khác, xin tương đương với bằng DEUG (Diplôme d’Etudes Universitaires Générales), là bằng kết thúc hai năm học đầu của các đại học Pháp. Một SV xuất sắc có thể được cấp bằng DEUTEC sau 3 học kỳ, với điều kiện thi đỗ 20 UV, trong đó có 18 UV chuẩn. Một SV kém hơn có thể được cấp DEUTEC trong 5 học kỳ, nếu cũng đạt đủ 22 UV với 18 UV chuẩn như SV trung bình. Trong trường hợp đặc biệt, hội đồng giám khảo của TC có thể cho phép một SV tiếp tục học tới học kỳ 6 để lấy bằng DEUTEC (vẫn phải đạt đủ số UV như nói trên), nhưng việc tiếp tục được theo học giai đoạn 2 không còn là tự động mà phải được hội đồng giám khảo của chuyên ngành mà SV muốn theo học cho phép. Một SV có 20 hay 21 UV cuối học kỳ 4, nhưng đủ các UV chuẩn, nhất là đã có điểm tốt ở các UV khoa học, có thể được phép ghi tên học chuyên ngành nhưng phải « trả nợ » số UV thiếu trong học kỳ đầu của giai đoạn 2. Hội đồng giám khảo toàn quyền cân nhắc, định đoạt trong những trường hợp này.

Trong giới hạn được xác định bởi 18 « UV chuẩn », SV được lựa chọn khá tự do để theo học các UV có trong danh sách các UV được giảng dạy. Ví dụ, một SV giỏi toán có thể lấy 3 UV toán, 2 lý, 2 hóa, 1 sinh để đủ 8 UV chuẩn về « khoa học », đồng thời học thêm 1 hay 2 UV toán khác để tính trong số các UV tự do, trong khi một SV khác có thể chỉ lấy được 2 UV toán, nhưng có thêm 2 lý, 2 hóa, 2 sinh học, cũng đủ 8 UV chuẩn về « khoa học » v.v. Một SV đã giỏi tiếng Anh sau tú tài có thể mất ít thì giờ lấy 2 UV tiếng Anh cho đủ tiêu chuẩn 2 UV « ngôn ngữ », rồi học thêm một ngoại ngữ thứ hai, hoặc học sâu hơn về tin học, hay kinh tế chẳng hạn, để tính vào các UV tự do.

2.3/ Trong các chuyên ngành (gọi chung là « génie », ví dụ như « génie informatique », « génie chimique » v.v.), cũng có nguyên tắc chung tương tự về việc phân loại các UV của ngành (gồm các « UV cơ bản » và « UV chuyên nghiệp ») và về tự do chọn lựa của SV trong khuôn khổ những tiêu chuẩn định sẵn. Một SV theo học bất kỳ chuyên ngành nào đều có thể ghi tên theo học một hay nhiều UV của chuyên ngành khác, với sự đồng ý của ban phụ trách ngành mình, tính vào một UV tiêu chuẩn nào đó, tất nhiên khi UV đó có nội dung phù hợp. Ví dụ, một UV loại cơ bản của ngành tin học (như UV về kỹ thuật xử lý hình – imagerie – chẳng hạn) có thể được ngành y sinh (biomédical) xếp vào loại UV chuyên nghiệp v.v. Ngay cả trong trường hợp một UV ngành A không được coi như cơ bản hay chuyên nghiệp trong ngành B, SV của ngành B vẫn có quyền theo học UV đó, nhưng chỉ được tính sổ trong số các UV tự do của mình. Mặt khác, mỗi ngành lại có thể chia thành hai hay nhiều nhánh (filière) khác nhau, dựa trên một chuyên môn hẹp trong nganh, và danh sách các UV cơ bản hay chuyên nghiệp của mỗi nhánh cũng thay đổi. Trong ngành Tin học, SV học chuyên môn về mạng (réseaux) phải chọn UV trên một danh sách khác danh sách UV của SV chuyên về xử lý hình ảnh… Ngoài ra, trong mỗi ngành, SV có thể học thêm một vài UV để được chứng nhận là mình có thêm một chuyên môn phụ (mineur). Ví dụ : mineur Etudes Européennes, có những UV về các chính sách kỹ nghệ, lao động, tài chính trong Liên hiệp châu Âu ; mineur Philosophie des Technologies Cognitives có những UV về tâm lý học, về khoa học trí não (neurosciences), về Intelligence artificielle (tôi không biết tiếng Việt dịch là gì, xin tạm để tiếng Pháp).

2.4/ Danh sách các UV do ban phụ trách các Khoa (mỗi ngành được tổ chức thành một khoa, cộng với khoa TSH) đưa ra, trên cơ sở chuyên môn của giáo chức trong khoa mình, và nhận định của họ về thị trường nhân lực của ngành mình. Sự có mặt trong ban giảng huấn của các chuyên gia trong kỹ nghệ cho phép mở ra những UV về các môn kỹ thuật đang được sử dụng nhiều trong kỹ nghệ.

Việc xác định nên dạy những môn nào – thể hiện trong nội dung các UV – được bàn bạc trong hội đồng Khoa, tất nhiên là với tầm nhìn của các uỷ viên hội đồng (gồm một số giáo sư được Khoa bầu ra, và một số (khoảng 1/3) uỷ viên là chuyên gia trong ngành nhưng hoạt động trong các cơ sở nghiên cứu hoặc sản xuất ngoài trường – số ủy viên này không lấy trong số các chuyên gia đã được mời vào ban giảng huấn của trường). Mỗi thay đổi nội dung của UV, hoặc việc mở ra UV mới, do hội đồng Khoa đề xướng, phải được tiểu ban « học tập và đời sống » (Conseil des Etudes et de Vie Universitaire, gọi tắt là CEVU) của trường thông qua. Tiểu ban này bao gồm giám đốc phụ trách giảng huấn của trường (directeur des études) và một số giáo chức, nhân viên của trường được bầu ra, với nhiệm kỳ 4 năm. Một UV trong danh sách đã được thông qua có thể được mở ra hay không trong mỗi học kỳ, tùy theo có đủ số SV ghi tên hay không. Trong trường hợp UV không mở, giáo sư phụ trách phải tham gia dạy một UV khác, trong khuôn khổ số giờ mình phải dạy mỗi năm. Vì thế, không một giáo sư nào có thể nói tôi được tuyển vào trường chỉ để dạy một UV nào đó. Các giáo sư cũng có thể bàn bạc với nhau để mở ra một chuyên môn phụ, nhưng cũng phải được CEVU thông qua.

2.5/ SV chuyên ngành cũng có quyền thay thế một học kỳ « lý thuyết » tại trường bằng một học kỳ tại một trường ngoại quốc có quan hệ hợp tác với UTC. Trong trường hợp này, nội dung và kết quả các môn học trong thời gian theo học tại trường nước ngoài phải được xét tương đương với những UV của UTC. Tính chung, kể cả những SV đi làm thực tập ở nước ngoài và SV đi học tại một trường ngoại quốc trong một học kỳ « lý thuyết », có hơn 50 % SV của UTC có một thời gian đi học ở nước ngoài trước khi tốt nghiệp.

3/ Thay lời kết

3.1/ Việc tổ chức cho SV học theo học kỳ và tín chỉ tại UTC, theo người viết, là hơn hẳn chế độ học theo niên chế ở nhiều điểm :

- Trước hết, nó cho phép mỗi SV phát huy tối đa tính tự chủ của mình trong học tập. Do khác nhau về năng khiếu và sở thích, có thể nói ít có trường hợp hai SV hoàn toàn có quá trình học như hệt nhau ! Điều này là một chuẩn bị quan trọng cho SV khi ra hành nghề, và hoàn toàn không mâu thuẫn với việc SV cũng được rèn luyện thói quen làm việc chung với người khác (trong những giờ thực hành của các UV, SV thường được chia thành từng nhóm nhỏ để làm việc chung). Và cũng để giúp SV khẳng định dần tính tự chủ của mình, các giáo sư cố vấn chỉ hướng dẫn SV chọn lựa UV (khi có yêu cầu) nhưng không áp đặt.

- Với một tỉ lệ các UV tự do hợp lý, nó cũng mở ra khả năng SV tìm cách nâng cao nền hiểu biết chung của mình, ngoài những môn học chuyên môn của ngành mình chọn. Ngoài hai học kỳ thực tập ở xí nghiệp, cách đào tạo này cũng góp phần làm cho UTC luôn luôn đứng hạng rất cao trong danh sách các trường kỹ sư Pháp được các chuyên gia tuyển lựa nhân lực đánh giá cao (cụ thể : thời hạn chờ đợi để có việc làm sau khi ra trường thuộc loại ngắn nhất, lương vào nghề thuộc loại cao nhất).

- Nó cũng cho phép hạn chế khả năng SV « mất » một năm học mà không có kết quả nào. Một SV do khó khăn nhất thời, phân tâm về lý do gia đình hay riêng tư nào đó, chỉ đỗ 4 hay 5 UV trong một học kỳ, có thể đuổi lại trong học kỳ sau v.v. Cùng lắm, mất một học kỳ cũng còn hơn mất nguyên năm (SV hoàn toàn có thể tốt nghiệp vào tháng hai, sau học kỳ mùa thu, thay vì vào tháng 7 như đa số bè bạn mình).

- Nó cũng tạo điều kiện dễ dàng cho việc liên thông với các trường khác, như điểm 2.5 trên đây đã trình bày.

- Yêu cầu thích ứng các nội dung đào tạo của nhà trường với những thay đổi về công nghệ hay trong thị trường nhân dụng cũng có thể được đáp ứng dễ dàng, nhanh nhạy hơn.

3.2/ Ngược lại, quy trình đào tạo kiểu này đòi hỏi tính tổ chức cao đối với các bộ phận kỹ thuật và hỗ trợ giảng huấn của nhà trường, để có thể quản lý được quá trình học tập của từng SV và các phương tiện phòng ốc, máy tính dùng chung cho nhiều UV. Bài toán quản lý với nhiều ràng buộc này cũng giới hạn tự do của các thày giáo của trường (trong việc chọn thời khoá biểu riêng cho UV mình dạy chẳng hạn) !

3.3/ Một vài nguyên tắc tổ chức trên đây có thể áp dụng cho bất kỳ một trường đại học nào muốn tổ chức việc dạy và học theo chế độ tín chỉ, tất nhiên là với những cách phân loại UV khác nhau tùy theo mục tiêu đào tạo của trường. Tuy vậy, hiển nhiên là « không gian tự do » của SV sẽ rộng hay hẹp tùy theo khối nhân viên giảng huấn và khả năng tổ chức của bộ phận quản lý. Chia thành từng khoa không lớn lắm và cho phép SV được chọn (một tỉ số/khối lượng nào đó) UV của khoa khác là một cách để vượt qua phần nào khó khăn tổ chức đó.

Compiègne 15.2.2005
Hà Dương Tường
Giáo sư đại học
Đại học Công ngh Compiègne (UTC)

 


[1] Xin xem thêm các bài viết của GS Bùi Trọng Liễu về vấn đề này. Tôi cũng đồng ý với anh Bùi Trọng Liễu là cách gọi «phó giáo sư» không thật ổn đối với chức vụ maître de conférences của Pháp, song tạm dùng trong bài này cho tiện. Nói gọn, quá trình tuyển chọn các giáo sư đại học Pháp gồm hai bước như sau :

1/ Bước 1, ứng viên phải được một hội đồng đại học quốc gia (Conseil National des Universités, hay CNU) đánh giá đủ tiêu chuẩn khoa học. Bằng cấp tối thiểu là tiến sĩ đối với các « phó GS » (maître de conférences), và bằng HDR « habilitation à diriger les recherches » đối với các giáo sư (professeur). Bằng HDR thường được bảo vệ khoảng từ 4 tới 6 năm sau tiến sĩ, với một số kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong ngành – con số trung bình những bài nghiên cứu này rất khác nhau, tùy theo ngành -, và sau khi đã tham gia hướng dẫn ít nhất là một luận án tiến sĩ.

2/ Tiêu chuẩn được CNU thông qua trong bước 1 có giá trị 4 năm. Trong 4 năm đó, người đạt tiêu chuẩn có quyền ứng cử vào bất kỳ đại học nào khi thấy đại học đó mở ra một chức vụ giáo sư hay phó giáosư trong ngành mình. Một tiểu ban chuyên gia trong ngành của đại học (commision des spécialistes de l’université hay CSU) sẽ chọn người mình muốn trong những ứng viên đủ tiêu chuẩn. Người được chọn sau bước 2 này sẽ được bộ quốc gia giáo dục chính thức cử vào chức vụ tương ứng. Nếu qua 4 năm mà chưa chọn được (và được chọn) vào một trường đại học nào, ứng viên phải nộp lại hồ sơ ở bước 1, tất nhiên là hồ sơ phải có thêm những thành quả nghiên cứu đã đạt được trong 4 năm đó – nếu không có gì thêm, khả năng bị loại là khá lớn (tuy không là đương nhiên).

Quá trình này cho phép, trong một nước tương đối không lớn như nước Pháp, xác định trình độ chuẩn của các thầy dạy đại học (vì thế, chức vụ chính thức của giáo sư đại học ở Pháp là «professeur des universités, Université X», cách gọi một người nào đó là « professeur de l’Université X » chỉ là nói tắt). Tất nhiên, nói chung những người được thừa nhận là xuất sắc sẽ có khuynh hướng chỉ chọn ứng cử vào các trường đại học danh tiếng, song do các đại học này không phải năm nào cũng có quyền tuyển người – trong một chuyên ngành nhất định -, và do những lý do cá nhân, các trường « nhỏ » vẫn có khả năng tuyển được những nhà khoa học trình độ cao vào trường mình.

Mỗi chuyên ngành có một CNU gồm một số giáo sư và phó giáo sư được bầu ra bởi các GS và PGS trong ngành, và một số khác (khoảng ½ số được bầu) do bộ GD cử vào. Số GS và PGS bằng nhau trong mỗi CNU, nhưng các ủy viên là PGS không tham gia thảo luận và bỏ phiếu khi bàn về một vấn đề chỉ liên quan tới đối tượng GS. Ngoài nhiệm vụ xét tiêu chuẩn nói trên, CNU còn nhiệm vụ đề nghị lên ngạch lương cho các GS và PGS. Tương ứng với CNU trong mỗi ngành, các trường có một CSU của trường mình nếu có đủ người trong ngành đó. CSU cũng bao gồm một số GS/PGS được các đồng nghiệp cùng hạng bầu ra, và từ 30 đến 40 % GS/PGS của trường khác được ban giám hiệu trường mời vào. Nếu trong một ngành của trường, số GS/PGS ít quá, họ sẽ được kết hợp vào một ngành gần nhất với chuyên môn của mình.

[2] Tuyên bố Bologna là bản thỏa thuận giữa các bộ trưởng phụ trách giáo dục đại học của 29 nước, được ký kết sau một hội nghị về giáo dục đại học ở Bologna (Ý) ngày 19.6.1999. Các nước ký tên dưới bản Tuyên bố cam kết sẽ thúc đẩy những cải tổ cần thiết trong hệ thống giáo dục đại học của mình, nhằm đạt được sự tương thích trong các hệ thống đại học quốc gia, để chuẩn hóa bằng cấp giữa các đại học song vẫn tôn trọng quyền tự chủ của các đại học, sự đa dạng văn hóa và ngôn ngữ cũng như những đặc thù của các hệ thống giáo dục của mỗi nước. Việc chọn một đơn vị tín chỉ chung ECTS để đánh giá khối lượng các giáo trình được dạy ở các trường là nhằm mục tiêu chuẩn hóa này. Giá trị chung của ECTS được ấn định theo chuẩn mực mỗi SV toàn phần sẽ đạt được trong một năm học khoảng 60 ECTS. Tính trung bình, mỗi ECTS đòi hỏi từ 25 đến 30 giờ làm việc (kể cả giờ lên lớp, thực tập và giờ học ở nhà). Chế độ UV và học kỳ của UTC hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu này. Cho tới nay, hầu hết các đại học Pháp đã cải tổ chế độ học theo tín chỉ của mình, và dự tính cuộc cải tổ sẽ hoàn thành trên cả nước vào năm 2006.

 

© http://vietsciences.free.fr Hà Dương Tường