Những bài cùng tác giả

Thụy Điển (Suède, Sweden) nằm trên cùng, giữa
Norway và Finland
 |
 |
Vua Suède Carl
XVI Gustaf, cháu gọi Nữ
hoàng Victoria là bà cố |
Hoàng hậu Silvia |

Đây là diễn văn khai mạc Nobel của TS. Marcus Storch, Chủ
tịch Hội đồng Quỹ Nobel, tại lễ phát giải thưởng vào ngày 10 tháng 12 năm 2008 tại Stockholm, Thụy Điển. Thật không phải thừa khi
nghe lại vai trò của đại học trong thời toàn cầu hóa được ông trình bày dưới cái nhìn của một người
của Quỹ Nobel. Cám ơn Quỹ Nobel cho phép chuyển ngữ
và phổ biến.
Kính thưa Nhà Vua, Kính thưa Hoàng Hậu, Thưa Các Nhà được
vinh danh, Thưa Quý Bà, Quý Ông,
Thừa lệnh của Quỹ Nobel, tôi vui mừng được chào đón
Quý Vị tại Buổi lễ Phát GiảiNobel của năm
nay. Đặc biệt tôi muốn chào đón các Nhà được vinh danh, và gia đình họ tại buổi lễ này mà mục đích của nó là để vinh danh các Nhà được giải
và những đóng góp của họ cho khoa học và văn học.
Chúng tôi xin gửi những lời chào mừng nồng nhiệt đến Giáo sư Nambu, người không thể đến Stockholm được.
Vừa mới hôm nay tại Oslo, nhà được giải Hòa bình
Martti
Ahtisaari được vinh danh “vì các nỗ lực quan trọng
của ông, trên nhiều lục địa và hơn ba thập kỷ, để giải quyết các cuộc khủng hoảng thế giới.”
Thể theo ý nguyện của Alfred Nobel, nhiệm vụ của Quỹ Nobel –
thông qua các viện xét giải – là chọn lựa những người
trong lãnh vực khoa học và văn hóa đã có những đóng
góp lớn nhất vào sự tiến bộ nhân loại. Do đó nhiệm vụ của chúng tôi không
phải là tiên đoán tương lai, mà mô tả tốt nhất theo
khả năng mình những gì đã xảy ra.
Điều này không ngăn cản chúng tôi mô tả những kinh nghiệm
chúng tôi đã thu thập được trong hơn 100 năm qua từ
khi Quỹ Nobel được thành lập. Nền tảng của sự phát
triển con người là tri thức. Những đóng góp quan trọng nhất làđến từ các đại học. Cho nên một cách lôgíc nếu chúng ta cố
gắng mô tả làm thế nào một đại học có thể hoàn thành
nhiệm vụ của nó một cách tốt nhất.
Như tôi nhìn thấy, một đại học có ba nhiệm vụ chính:
1. Là ký ức của xã hội
2. Là mũi nhọn của xã hội, và
3. Là tấm gương phê phán của xã hội.
Xin cho phép tôi được bình luận về ba nhiệm vụ này.
Để là ký ức của xã hội, nó đòi hỏi sự chuyễn tiếp đến thế hệ
kế tiếp những gìchúng ta tri thức hôm nay.
Trong Alice in Wonderland, Lewis Carroll đã nói: “Bạn
cần phải chạy nhiều mà bạn có thể, mới giữ được mình
nguyên tại cùng vị trí.” Tri thức chúng ta – cái nền tảng – tăng trưởng liên tục, điều đó có nghĩa là những yêu cầu để chuyển tải tri
thức hôm nay tăng lên không ngừng. Nếu không tăng
trưởng được nguồn lực của các đại học bằng một cách
nào đó để chúng ta giữ vững được nền tảng, thì chúng ta sẽ không thể thỏa
mãn được nhiệm vụ cơ bản. Hệ lụy sẽ là một xã hội
đình trệ.
Ngày nay, nhân loại không nghi ngờ gì nữa đang đối mặt với
các thách thức tăng lên hơn bao giờ hết, và các
nghiên cứu mũi nhọn đang và sẽ đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, xét một cách toàn cầu. Điều này bao hàm khả năng kích
thích, tinh luyện và thu hút những nhà nghiên cứu hôm
nay cũng như những sinh viên giỏi nhất, nghĩa là các
nhà nghiên cứu của tương lai. Nhưng các đại học cũng phải có sự khoáng đạt
cho phép các học trình được theo đuổi một cách tương
đối tự do giữa các ngành học khác nhau.

Đại học Berlin khoảng 1900. Đại học này được thành lập 1810,
theo tinh thần của Humboldt, là
tự do học, tự do
dạy, và thống nhất việc giảng dạy và nghiên cứu.
Người thầy giỏi trước nhất phải là người thầy nghiên cứu
giỏi. Khoa học phải được xem là “cái chưa tìm được
hết, cái không bao giờ tìm được ra trọn vẹn, và chúng takhông ngừng đi tìm nó. Một khi người ta chấm dứt việc đi tìm khoa
học, hay tự nghĩrằng, khoa học không cần được tạo ra
từ chiều sâu của tinh thần (trí tuệ), mà chỉ cần được
thu thập xếp hàng dài, thì lúc đó tất cả sẽ bị mất mát một cách không gì cứuvãn được…và nếu vẫn tiếp tục, khoa học sẽ biến thành một ngôn ngữ
rỗng.” (W.v.Humboldt)
Trong những năm đại học, nhiều nhà được vinh danh của chúng
tôi trong các ngành khoa học cũng đã từng học các đề tài nhân văn. Sự kích thích qua
lại này đã chứng minh có ý nghĩa lớn lao trong việc giành được sự thành đạt. Trong lúc
đó, để là một đại học thành công, nó đòi hỏi một quy mô tối thiểu. Khuynh hướng trong
nhiều quốc gia là tạo ra một số các đại học mới ngày càng nhiều, và do đó làm mỏng đi các
nguồn lực luôn luôn giới hạn của chúng ta, gây nguy cơ các đại học không thể chu toàn
nhiệm vụ của mình được.
Nhiều chuyên gia cho rằng có hai loại nghiên cứu – loại
nghiên cứu tốt và nghiên cứu xấu. Có nhiều sự thật trong nhận định đó. Một cách tiếp
cận khác là chúng ta nói có loại nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Đại thể,
nghiên cứu cơ bản hoạt động
không cần ược định trước, trong khi nghiên
cứu ứng dụng hoạt động với
các mục tiêu được định trước. Cả hai đều quan trọng và là
điều kiện tiên quyết của nhau.
Những tiến bộ lớn đem lại lợi ích cho nhân loại phần lớn
xuất phát từ nghiên cứu cở bản, điều được minh họa – một cách đặc biệt – bởi danh sách của
các Nhà được vinh danh trước đây và bây giờ. Nghiên cứu ứng dụng sử dụng các tiến
bộ này. Một trong những nhà sáng lập Giải Lasker, Cô Mary Lasker, đã nói:
“Nếu bạn nghĩ nghiên cứu là tốn kém, thì hãy bịnh đi sẽ biết.” Rất tiếc, khuynh hướng hôm nay là
phần tổng nguồn lực của chúng ta được dành cho nghiên cứu cơ bản ngày càng ít đi.
Giáo sư Gunnar Öquist, Thư ký thường trực của Hàn lâm viện khoa học Thụy Điển, gần đây
đã viết: “Quan niệm rằng, chính sách nghiên cứu cần phải được hướng theo các nhu cầu
của khu vực thương mại,chứng tỏ những người biện minh cho một sự phát triển như thế
không hiểu gì về những thách thức nhân loại đang đương đầu. Nó cũng thiếu luôn sự
hiểu biết về tiềm năng vốn có trong hệ thống nghiên
cứu khoa học.” Nghiên cứu cơ bản là nhân tố quan trọng nhất và duy nhất làm cho chúng ta có khả năng đối phó với các thách thức
mà nhân loại đangphải đối phó. Chúng ta phải chăng đang đi trên con đường
đúng đắn? Nhiệm vụ thứ ba là tấm gương phê phán của xã hội. Trong thế
kỷ 20, và đặc biệt sau những sự kinh hoàng của Thế chiến thứ hai, nhu cầu xác
định các quyền con người tăng lên trên bình diện quốc tế. Và chính xác hôm nay, chúng
ta kỷ niệm sinh nhật thứ 60 của tuyên bố bởi Liên Hiệp Quốc về Tuyên Ngôn Phổ Quát về
các Quyền Con người vàongày 10 tháng 12, 1948. Rất ít quốc gia thực hiện tất cả 30
điều khoảng của Tuyên ngôn.
Mặc dù thế, chúng ta có thể nghi nhận rằng hồ sơ này – mà
tác giả chính của nó là RenéCassin, người được trao giải thưởng Nobel 40 năm trước –
thiết lập một chuẩn mực quantrọng có thể dùng đế đấu tranh chống lại những sự bất công
và áp bức. Một trong những điểm chính yếu của quyền con người là tự do tập hợp và trao
đổi tri thức. Một khuynh hướng gây rối là ngày càng có nhiều hạn chế về tự do ngôn
luận, và do đó về các cơ hội để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, có thể được thấy rõ trong số
tình huống ngày càng tănglên trên thế giới. Có một nguy cơ nghiêm trọng, đó là những
sự phát triển trên thế giới cóthể đi vào hướng, đối với tất cả chúng ta, sai lạc.
Tôi đã đưa ra các nguy cơ tôi nhìn thấy trong cách xử lý
những thách thức lớn mà nhân loại đang gặp phải. Điều tích cực là chính chúng ta sẽ
xác định chúng ta muốn hành động thế nào. Sự lựa chọn chiến lược của chúng ta sẽ đòi hỏi
cả hai, tri thức và can đảm./.
====== 1 Tựa đề do
người dịch tự đặt 13.1.2009
©
http://vietsciences.free.frr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Xuân Xanh
|