1.
Học = Vô thức + ý thức
Ngày 16-05-2002, tạp chí Journal of
Consciousness Studies công bố một công trình nghiên
cứu của McFadden tại Đại học Surrey ở Anh chứng minh
rằng cơ sở vật chất của tư duy là một trường điện từ
của bộ não, trong đó khẳng định rằng hoạt động tư
duy bao gồm vô thức và ý thức. Học là một hoạt động
tư duy điển hình như vậy:
Học = Vô thức + ý thức.
Nhìn một cái cây, nhận thấy lá của nó
màu xanh, đem lại cảm giác dịu dàng, dễ chịu, đó là
vô thức. Thắc mắc tại sao lá của nó mầu xanh, đó là
ý thức. Làm một phép toán nhân một con số có 4 chữ
số với một số có 2 chữ số, cứ theo quy tắc mà làm ra
đáp số, đó là vô thức. Thắc mắc tại sao quy tắc lại
như thế, đó là ý thức. Nếu bỗng nhiên đem hỏi người
lớn tại sao lại làm theo quy tắc đó, e rằng nhiều
người sẽ lúng túng. Điều này chẳng có gì lạ, bởi vì
xx hội không đòi hỏi mọi người phải giải thích quy
tắc, mà chủ yếu chỉ đòi hỏi thành thạo áp dụng quy
tắc. Trong trường hợp này, không cần nhiều tư duy ý
thức, chỉ cần vô thức nhậy bén là đủ rồi.
McFadden nhấn mạnh: Rất nhiều người
thường đồng nhất tư duy với ý thức, thật là nhầm lẫn
lớn. Thực tế phần lớn tư duy là vô thức, vô thức bao
giờ cũng có trước, ý thức có sau, vô thức là cái
phần bẩm sinh mà ai cũng có, nhưng vấn đề là nó có
được đánh thức hay không. Ý thức là cái có sau, hình
thành trong quá trình sống, phụ thuộc nhiều vào hoàn
cảnh môi trường. Vô thức và ý thức liên quan mật
thiết với nhau, thiếu một trong 2 vế đều dẫn tới tư
duy què quặt.
Trẻ em tư duy chủ yếu bằng vô thức, lớn
lên mới bổ sung dần dần ý thức. Vô thức có ngay từ
khi lọt lòng, thậm chí ngay từ trong bụng mẹ. Các
bác sĩ thường khuyên các bà mẹ có thai nên nghe âm
nhạc cổ điển dịu dàng, ngắm những bức tranh phong
cảnh đẹp hoặc người đẹp... là hoàn toàn có lý: Thai
nhi tiếp thu thông tin về thế giới qua người mẹ ngay
từ khi đang ở trong bụng mẹ, thông qua hoạt động vô
thức của não.
Vô thức bám theo con người trong suốt cả
cuộc đời, nhưng khi ý thức lấn át vô thức, làm cho
tư duy mất cái hồn nhiên sinh động, thậm chí phản tự
nhiên. Chỉ có sự cộng hưởng nhịp nhàng giữa 2 loại
tư duy này mới đem lại hiệu quả tốt đẹp.
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã học văn chương
bắt đầu từ vô thức. Ông viết: “Những lời hát ru tràn
đầy lục bát của mẹ nuôi thế giới tinh thần tôi lớn
lên một cách vô thức”(1). Đó là cái mầm
để sau này ông trở thành một nhà thơ, một nhà phê
bình văn học nổi tiếng.
Sigmund Freud coi vô thức là cái tiềm ẩn
sâu xa quyết định mọi hoạt động của con người. Tất
cả các nhà khoa học lớn cũng đều nhấn mạnh đến cái
vô thức ẩn náu bên trong trực giác (intuition).
Albert Einstein khẳng định: “Nhiệm vụ tối cao của
nhà vật lý là khám phá ra những định luật cơ bản chi
phối vũ trụ. Không có con đường suy luận logic để đi
tới những khám phá đó; chỉ có trực giác nằm trong
nhận thức bằng giao cảm (sympathetic understanding)
mới có thể dẫn tới những khám phá đó”(2).
Vì thế nếu giáo dục không biết đánh thức
cái năng lượng vô cùng to lớn tiềm ẩn đó trong con
người thì bao nhiêu cố gắng nhồi nhét chữ nghĩa cũng
sẽ vô dụng. Công việc đánh thức được người phương
Đông gọi là Khai Tâm, sự nghiệp giáo dục chủ yếu là
Khai Tâm?
Nền giáo dục hiện đại quá chú trọng và
quá vội vàng trong việc “Khai trí” (cung cấp thông
tin) đến nỗi thường lãng quên nhiệm vụ Khai Tâm.
“Toán học mới” thất bại vì quá vội vã Khai Trí: vội
vã áp đặt vào trẻ em những kiến thức trừu tượng hình
thức mà trước đây chỉ đến khi trở thành sinh viện
đại học mới tiếp thu nổi, làm thui chột tư duy vô
thức sinh động của các em. Hiện nay, sự vội vã đó đã
bị phê phán. Bách khoa toàn thư Americana
Encyclopedia viết: “Việc không chú ý tới cách học
thuộc bài tỏ ra phản sư phạm: Chẳng hạn, ít nhất thì
việc cần phải làm phép tính 1/2+2/3=? cũng quan
trọng ngang với việc giải thích ý nghĩa của phép
tính đó”.
Vậy cái mới lạ nằm ngay trong đáy sâu
của tầng vô thức của trẻ em chứ chẳng ở đâu khác.
Hãy khai thác nó một cách triệt để, hãy đánh thức nó
dạy, hãy làm cho trẻ em khao khát muốn biết cái mới
lạ trong môn học, thay vì nhồi vào đầu các em một mớ
chữ nghĩa mà các em chán ngấy. Một trong những người
đi tiên phong trong việc đưa cái mới lạ theo hướng
đánh thức người học là Joy Hakim.
2.
Sách giáo khoa của Joy Hakim:
 |
Joy Hakim |
Ngày 18-03-2003 dưới đầu đề “A Radical
Formula for Teaching Science” (Một phương pháp cơ
bản để dạy học) nhật báo The Washington Post của Mỹ
viết: “Joy Hakim đang phá vỡ tất cả các luật lệ.
Sách giáo khoa lâu nay chỉ là những bản thống kê
kiến thức buồn tẻ và nhàm chán, nhưng sách của Hakim
lại như một loại truyện kể. Thông qua những câu
chuyện lịch sử khoa học hấp dẫn, Hakim dạy cho học
sinh hiểu khoa học, hiểu quá trình hình thành các tư
tưởng khoa học và ảnh hưởng của các tư tưởng đó đối
với thế giới”.
Tại sao sách giáo khoa kiểu của Hakim được dư luận
công chúng hưởng ứng? Đơn giản vì nó sinh động hấp
dẫn hơn hẳn những cuốn giáo khoa đang lưu hành. Hans
Christian von Bayer, giáo sư Vật lý Trường cao đẳng
William & May, nhận xét: “Sách giáo khoa hiện nay ở
Mỹ do một số hội đồng sư phạm viết ra. Họ chẳng có
tài gì về văn chương, giọng điệu chẳng có gì hấp
dẫn, chẳng có chút gì gọi là văn phong, chẳng có
chút sức mê hoặc (charm) nào cả. Họ chỉ đặc biệt chú
trọng đến các chi tiết chuyên môn... Kết quả là trẻ
em cố gắng học thuộc, cố nôn mửa (spew out) thông tin vào bài kiểm tra tuần sau,
nhưng để rồi quên đi, quên hẳn, quên một cách tuyệt
đối”.
Hakim đã phá vỡ cái truyền thống coi
khoa học như một bản thống kê các chi tiết kỹ thuật.
Bà đã đặt khoa học đúng như khi nó xuất hiện trong
lịch sử. Bà viết: “Bằng những câu chuyện phản ánh
quá trình thay đổi tư tưởng và trí tuệ qua các thời
đại, tôi sẽ cố gắng giúp học sinh hiểu khoa học. Tôi
muốn các em nhỏ trở thành các thám tử, vì thế tôi
muốn viết như thế nào để thu hút các em tới mức các
em còn muốn học tiếp thêm nữa”.
Nếu cái khung sách giáo khoa hiện nay là
một bản thống kê các chi tiết kỹ thuật chán ngấy thì
cái khung sách của Hakim là lịch sử - lịch sử như
một dòng chảy cuốn theo mọi sự kiện, trong đó khoa
học không thể là một ngoại lệ. Để giới thiệu thuyết
tương đối hẹp, bà đánh thức học sinh bằng cách kích
thích trí tò mò của các em đối với hoàn cảnh ra đời
của lý thuyết này. Bà viết: “Rõ ràng là chàng thanh
niên Albert Einstein rất thông minh, nhưng thái độ
học tập của anh thì có vẻ bất ổn: Anh không kiên trì
làm bài ở nhà trường và thường vắng mặt trên lớp; có
vẻ như anh chỉ chăm chú theo đuổi cái gì mà anh
thích. Một thầy giáo đã gọi anh là con chó lười
biếng, vì anh thường không làm tròn bổn phận được
giao. Nhưng ông thầy đã nhầm. Anh chẳng lười tí nào.
Bộ óc của anh suy nghĩ không ngừng; Suy nghĩ về một
chùm ánh sáng. Suốt hơn 10 năm, câu hỏi “điều gì sẽ
xẩy ra với tốc độ ánh sáng?” dường như không lúc nào
rời khỏi đầu anh. Cuối cùng, năm 1905, Einstein đã
trả lời được câu hỏi của chính mình về chùm sáng đó:
ông đã phát minh ra một trong những lý thuyết quan
trọng nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại – Thuyết
tương đối hẹp”.

Nhưng cụ thể Hakim đã phá vỡ cái gì?
Kiểu viết như thế không còn là sách giáo
khoa theo quan điểm truyền thống nữa rồi. Sách của
Hakim là truyện khoa học, nhưng vẫn cung cấp đầy đủ
kiến thức kỹ thuật cho học sinh. Bà quan niệm giáo
dục phải tạo ra những “món ăn khoái khẩu” cho học
sinh, thay vì bắt học sinh ăn những món nhạt phèo mà
các em không ăn nổi.
Sách giáo khoa của Hakim hiện nay bán
rất chạy. Học sinh thi nhau mua để đọc, vì nó hấp
dẫn như một cuốn truyện lịch sử, thậm chí như một
cuốn trinh thám. Nhiều học sinh phát biểu rằng các
em có thể tự học vật lý qua cuốn sách của bà, rồi
đến lớp các em được nghe giảng lại nên hiểu rất sâu
sắc. Tâm lý chán học và sợ học biến mất.
Vậy bí quyết của Hakim là gì? Câu trả
lời đã rõ: Bà đã đánh trúng vào tâm lý khao khát cái
mới lạ của học sinh. Tâm lý ấy bấy lâu nay vẫn “lơ
mơ ngủ” trong đống chữ nghĩa thuần túy kỹ thuật chán
ngấy. Hakim đã đánh thức nó dạy. Bà lay động vào cái
vô thức tiềm ẩn trong tâm hồn các em, có thế thôi.
1. Văn học – Phê bình, Nhận Diện, NXB Văn học 1999,
“tôi học văn như học sống”
2. Pythagoras’ Trousers, Margaret Wertheim, Fourth
Estate, London, 1997, trang 187 |