Từ dăm tháng nay, báo chí truyền thông đưa rất nhiều thông tin
về việc học sinh « ngồi nhầm lớp » (theo nghĩa ghi tên vào lớp
học, nhưng không có đủ trình độ tương xứng để theo nổi chương
trình) và dư luận cho rằng đây là một tai hại lớn cho ngành Giáo
dục. Chắc chẳng cần nói thêm.
Nhưng « đứng nhầm lớp » còn tai hại hơn. Tôi muốn nói đến sự
việc có những nhà giáo không có khả năng và trình độ phù hợp, mà
vẫn được trao trách nhiệm giảng dạy. Tai hại hơn, vì mặt nào, đó
là sự góp phần biến những học sinh, sinh viên thành những người
« ngồi nhầm lớp ». Để khỏi rườm rà, tôi xin bỏ qua trường hợp
của các lớp mẫu giáo, các trường tiểu học, các trường trung học,
mà đề cập thẳng đến giáo dục đại học. Chẳng cần nói quanh co :
hiện nay không ít nhà giáo đại học không có bằng cấp tương xứng
– và dù cho có bằng cấp, thì chưa chắc đã có hiểu biết tương
xứng – để giảng dạy đại học. Vậy mà vẫn dạy. Và lại có sự ồ ạt
mở thêm nhiều đại học, và nhiều đại học lại được mở thêm nhiều
ngành. Lớp thì mở nhiều, nhà giáo có trình độ tương xứng thì ít.
Rồi sinh viên tốt nghiệp sẽ có trình độ nào để vào đời đáp ứng
được nghiệp vụ, trong một khung cảnh toàn cầu hóa ? Không quyết
tâm giải quyết nạn « đứng nhầm lớp », thì e rằng những lời phát
biểu về chấn hưng giáo dục đại học chỉ là những khẩu hiệu rỗng,
những chỉ tiêu nêu ra sẽ chỉ là bảng kê những thành tích ảo
tương lai.
Lấy thí dụ con số 2 vạn tiến sĩ dự kiến sẽ được đào tạo cho đến
năm 2015. Trước hết là về số lượng nghiên cứu sinh, tuyển họ ở
đâu ra ? Bao nhiêu người mỗi năm ? Giả thử như có đủ ngân quĩ để
« nuôi » họ một cách tương xứng, họ sẽ được đào tạo ở cơ sở nào,
ai hướng dẫn họ, ngành này bao nhiêu, ngành kia bao nhiêu, đề
tài nghiên cứu gì, trong nước ? Câu hỏi cũng tương tự, nếu như
đủ ngân quĩ để gửi họ ra để được đào tạo ở nước ngoài. Hình như
một số nhà quản lý khi nêu chỉ tiêu đã « quên » rằng các đại học
nghiêm chỉnh nước ngoài không dễ gì nhận nghiên cứu sinh nếu như
quá trình học tập cơ bản không chứng tỏ được là họ đã là những
sinh viên xuất sắc tốt nghiệp từ những đại học có trình độ. Tiếp
theo đó, soạn một luận án, không phải là cứ học chăm, tiếp thu
nhanh bài giảng của thày, trả bài đúng ý ban giám khảo, là có «
bằng tiến sĩ », na ná như kiểu ông cha ta ngày xưa đi thi Hội
thi Đình. Nói một cách tóm tắt và đơn giản hóa cùng cực cho dễ
hiểu, luận án tiến sĩ ngày nay mặt nào có thể ví như những «
bằng sáng chế » nhưng mang tính hàn lâm, có thể có ứng dụng ngay
hay không. « Tìm ra cái mới » là theo nghĩa đó, chứ hoàn thành
một luận án tiến sĩ không phải là ngồi viết ra một cái gì «
không giống người khác ». Một điều lạ là đâu đó có lúc nêu ra
tiêu chí kiểu : muốn được bảo vệ luận án tiến sĩ, phải có vài
bài báo đã đăng ở « tập san có giá trị » ở nước ngoài, thậm chí
còn đòi hỏi người muốn dự thi làm nghiên cứu sinh phải có 2 «
công trình khoa học » đã công bố. Hình như tác giả của những chủ
trương này không biết rằng thời gian chờ đợi để một bài báo được
thẩm định xong và được đăng lên một tập san nghiêm chỉnh có khi
mất hàng hai, ba năm hay hơn nữa. (Ở đây tôi không kể đến trường
hợp « có tay trong » hay « thày trò đều xuất chúng », hay trường
hợp đặc biệt xảy ra ở một số nước đã phát triển, có những luận
án có nội dung tế nhị đụng tới an ninh quốc phòng, kết quả không
bao giờ được công bố). Như vậy thì cần bao nhiêu năm để có được
2 vạn tiến sĩ, và bao nhiêu trong đám tiến sĩ này sẽ là nhà giáo
cho các đại học đã thành lập hiện nay ở Việt Nam ?
Hay là phải hiểu rằng con số được nêu ra, chỉ nhằm mục đích «
báo động » một tình trạng bất cập của giáo dục đại học hiện thời
?
Cho nên, giải quyết vấn đề « đứng nhầm lớp » (liên quan trực
tiếp đến việc chấn hưng giáo dục đại học) rất là khó, và ta nên
có cái nhìn thiết thực hơn. 40 năm làm giáo sư đại học ở nước
định cư – nước Pháp cũng thuộc loại đã phát triển cao và có một
chiều dày trong truyền thống giáo dục – tôi cũng có chút kinh
nghiệm để nhận thấy là cải cách theo kiểu đại trà là khó lắm,
bởi vì nó liên quan tới việc chuyển đổi đồng loạt cả một hệ
thống sẵn có, với những khuyết tật của nó, với phương tiện vật
chất cần có, với sức ì, với sự cầu an của một phần nhân viên. Ở
nước ta thì những khó khăn này lại gấp bội, do bối cảnh lịch sử
để lại, thí dụ như một thời đã trót tuyển một số nhà giáo có
trình độ yếu kém mà nay lại không thể sa thải, cộng với sự tế
nhị trong việc nâng lương bổng nhà giáo sao cho đủ sống để họ có
thể toàn tâm toàn ý trong việc thực hiện nhiệm vụ, cộng với khả
năng trang bị trường sở, cộng với việc phải nâng đỡ sinh viên về
điều kiện sinh sống và học tập như thế nào, để đạt được một
trình độ « bình thường » – khoan nói tới đẳng cấp cao làm gì –
của một nền giáo dục đại học. Đối với ai có cái nhìn khách quan,
không bị ràng buộc về mặt này mặt nọ, rõ ràng là giải pháp nâng
cấp các đại học sẵn có là một giải pháp đắt hơn, lâu hơn và khó
thực hiện hơn gấp bội.
Do đó, đã từ nhiều năm, tôi cố kiến nghị cho giải pháp thành lập
« mới » một đại học công lập, bước đầu cỡ nhỏ, để làm « mẫu » –
cho nên mới dùng tên gọi « hoa tiêu» – để giải quyết cấp bách,
song song với việc dần dần nâng cấp những cơ sở còn lại . Cũng
cần nói thêm rằng, theo ý tôi, « thành lập mới » không có nghĩa
là phải « xây cất mới » nhà cửa – có người hiểu lẫn « xây dựng »
với « xây cất » – mà trong ý tưởng « hoa tiêu » này, dù cho có
gọi nó là đẳng cấp quốc tế, hay đẳng cấp cao, hay có tiêu chuẩn
quốc tế, hay gì gì đi nữa, chữ « mới » cần hiểu theo nghĩa là :
phải tuyển chọn nhà giáo có trình độ, bổ nhiệm theo chức vụ, chứ
không phải theo quan niệm phong hàm, tập trung lại để có một
khối lượng tối thiểu nhân sự, kết hợp giảng dạy và nghiên cứu,
tổ chức phương cách quản lý, trang bị và giảng dạy theo chương
trình phù hợp, tuyển sinh có trình độ, học tập và kiểm tra
nghiêm túc, vv. Ý này trùng hợp với ý của một số đồng nghiệp
trong nước.
Trong nhiều năm trước đây, tôi đã kiến nghị sát nhập các viện
nghiên cứu vào các trường đại học, nhưng nay nhận thấy có những
đại học quá yếu để vực lên được khâu nghiên cứu khoa học.
Do đó tôi chia sẻ cái ý là nên thành lập một đại học « mới » từ
các viện nghiên cứu, nơi có nhiều nhân viên có khả năng và đã có
chức danh giáo sư, với điều kiện là nhân viên cũng phải được
tuyển chọn lại. Cơ sở vật chất lại đã có sẵn. Một đại học đa
ngành thành lập từ các viện nghiên cứu, đã có sẵn khả năng để
đào tạo tiến sĩ, và dần dần mở thêm những cấp đào tạo từ dưới
lên (cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ) để bảo đảm « đầu vào » thật nghiêm
túc, và dần dần kết hợp được khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công
nghệ và các ngành khoa học kinh tế, nhân văn , … là một giải
pháp nhanh chóng nhất mở ra triển vọng cho tương lai, trong đó
có khâu giải quyết vấn đề « đứng nhầm lớp ».
Nhưng việc thực hiện sẽ bao giờ xảy ra, hay rồi lại đợi chờ năm
này qua năm khác?
Đã đăng trên Vietnam.net
và Hanoimoi.com.vn