Hiện nay, câu hỏi : « Có thể coi giáo dục đào tạo là
hàng hóa được không ? » được một số người nêu ra,
kèm theo những vấn đề liên quan như tư hữu hóa giáo
dục, trường công trường tư, dịch vụ có lãi, hay vô
vị lợi vv. Trong bài « Về giáo dục và thị trường »
đăng trên Thời báo Kinh tế Sai gòn, ngày
14/10/04, tôi có nêu thí dụ nước
Pháp để diễn tả một số ý. Trong bài « So sánh chương
trình giáo dục đại học ở Mỹ và Việt Nam » đăng trên
mạng
http://www.vast.ac.vn/HVGD/ của xemina « Chấn hưng
giáo dục », tác giả Vũ Quang Việt có đề cập đến một
số vấn đề liên quan đến câu hỏi trên trong khung
cảnh nước Mỹ, đất nướccủa nền kinh tế thị trường tự
do. Mỹ và Pháp đều là nước tư bản, nhưng có những
khác biệt trong cách tổ chức giáo dục đào tạo
(GDĐT) ; tuy nhiên, về câu hỏi nêu trên, lại có
những điểm
tương đồng.
Chính vì vậy mà tôi thử nêu lên những điểm tương
đồng đó, nhằm mục đích góp một phần vào giải đáp cho
câu hỏi trên, trong khung cảnh của nước nhà. (Tôi
không nêu thí dụ các nước khác, vì nói chung, chúng
cũng na ná như một trong hai trường hợp dẫn trên, và
tôi chỉ đề cập đến GD đại học).
Mỹ là
nước liên bang, GD thuộc về các bang, mỗi bang cũng
gần như một nước; Pháp là nước có chính quyền tập
trung, có Bộ quốc gia GD ; nhưng mục tiêu GDĐT của
Mỹ và Pháp không khác nhau mấy, thí dụ như trong GD
đại học không đặt vấn đề « đào tạo nhân tài », mà
nhằm mục tiêu trang bị cho người học những hiểu biết
cơ bản nghiêm túc và, ngay từ đó hay sau đó, mang
lại cho họ những kỹ thuật nghề nghiệp vững chãi để
đi vào thị trường lao động. Tài năng được nảy nở hay
không là ở lúc đã vào đời.
Ở Pháp,
đại học chủ yếu là công lập, nhà nước trợ cấp tài
chính ; sinh viên hầu hết thuộc hệ thống công lập,
trả học phí ít, vì lẽ dân chúng cho rằng tiền bạc
của nhà nước là do của cải chung của nhân dân, người
dân đóng góp trả thuế, cho nên nhà nước phải gánh
GDĐT.
Ở
Mỹ, có nhiều đại học tư, nhưng tư lập đây là theo
nghĩa không chịu sự quản lý của chính quyền về mặt
tài chính, trong khi công lập hưởng một phần sự tài
trợ từ ngân sách của bang hoặc thành phố. Bảng thông
kê của Vũ Quang Việt cho biết ở Mỹ tỉ số sinh viên
công lập là 77%, tư lập là 23%, học phí ở đại học
công chiếm 19% ngân quĩ (còn lại là tài trợ của
chính quyền trung ương và địa phuơng, đóng góp của
các nhà hảo tâm, vv.), học phí ở đại học tư chiếm
49%, vv. (trong khi một số người ở Việt Nam muốn
nâng tỉ số sinh viên hệ « ngoài công lập » lên 40% ,
thậm chí 50%, và học phí trường công lập đôi khi
cũng không nhẹ gì so với tư lập). Nhưng dù ở Mỹ hay
ở Pháp, nói chung, công hay tư, các đại học đều
không có mục đích kinh doanh, chúng hoạt động « vô
vị lợi », chúng không phải là những công ty với cổ
phần viên hưởng lợi nhuận. Lợi nhuận nếu có, thí dụ
như do những hợp đồng ký và thực hiện với các doanh
nghiệp, được sử dụng vào trang trải các kinh phí và
trang bị nghiên cứu hoặc đầu tư phát triển trường.
Trên mặt này, có thể nói là Mỹ và Pháp đều không coi
giáo dục là một thứ hàng hóa mua bán kiếm lời.
Ở Pháp,
giáo sư đại học được duyệt tuyển theo hai vòng :
theo tiêu chuẩn quốc gia công nhận đủ tư cách ứng
viên rồi các đại học tuyển lựa ; ở Mỹ, các đại học
tự tuyển lựa trực tiếp theo tiêu chuẩn của mình.
Nhưng ở cả hai nước, danh hiệu giáo sư gắn liền với
chức vụ-chỗ làm, (khác hẳn với hình thức « phong
hàm » - nay đổi gọi là phong chức danh - có lẽ đến
ngày nay chỉ ở nước ta mới có). Theo tôi biết, thì ở
hai nước kể trên, người ta cũng chỉ mở trường khi có
hội tụ đủ những điều kiện, đặc biệt là điều kiện có
được một đội ngũ nhà giáo đủ tiêu chuẩn. Cho nên dù
có « cầu », cũng không cứ phải có « cung ». Nghe đồn
là hiện nay ở nước ta, có nhiều đơn xin mở đại học
dân lập tư lập chưa nhận được giấy phép ; « cầu »
thì thấy rõ là có, nhưng với đội ngũ giảng dạy nào,
có đủ chất lượng và số lượng, để « cung » ?
(Để minh
họa, tôi xin nêu thí dụ vài con số ở Pháp hiện nay,
niên học 2003-2004 :
Số sinh
viên đủ mọi ngành là 2254949, kể cả ngành học ngắn
hạn (tú tài+2 như IUT, mà có lẽ ở ta coi là cao
đẳng, vv), trong đó sinh viên hệ công lập là
1941304, tư lập là 313645.
Tổng
cộng số professeurs và maîtres de conférences đại
học, nghĩa là các nhà giáo đại học có « chức
danh chính thức » là 54956, với chi tiết như
sau : Số Giáo sư đại học (professeurs des
universités) là 19655 , gồm : 2596 cho các
ngành Luật, KH chính trị, Quản lý ; 4479 cho các
ngành văn khoa học nhân văn và xã hội ; 7854 cho các
ngành khoa học và kỹ thuật ; 4726 cho các ngành Y
Dược Nha. (Nhắc lại là giáo sư đại học ở Pháp ngày
nay phải có bằng tiến sĩ và HDR (Habilitation à
Diriger des Recherches) cho mọi ngành trừ Luật, KH
Chính trị và Quản lý phải có Agrégation de
l’Enseignement Supérieur, và được tuyển theo 2
vòng : vòng 1 do Hội đồng khoa học toàn quốc xét
duyệt công trình khoa học để công nhân tư cách ứng
viên (qualification), rồi vòng 2 do Hội đồng khoa
học trường đại học tuyển chọn theo nguyên tắc bàu ;
sau đó Tổng thống ký sắc lệnh bổ nhiệm). Số maîtres
de conférences (một danh hiệu khó dịch ra tiếng
Việt, vì bằng cấp và lý lịch khoa học tương đối cao
mà quyền hạn thì lại tương đối thấp so với nước
khác !) là 35301 gồm 5248 cho các ngành Luật,
KH chính trị, Quản lý ; 10285 cho các ngành văn khoa
học nhân văn và xã hội ; 16511 cho các ngành khoa
học và kỹ thuật ; 3257 cho các ngành Y Dược Nha.
(Nhắc lại là loại nhà giáo này phải có bằng tiến sĩ,
được
tuyển theo 2 vòng : vòng 1 do Hội đồng khoa học toàn
quốc xét duyệt công trình khoa học để công nhân tư
cách ứng viên (qualification), rồi vòng 2 do Hội
đồng khoa học trường đại học tuyển chọn theo nguyên
tắc bàu ; sau đó Bộ trưởng ký nghị định bổ nhiệm).
Đây là loại nhà giáo cơ hữu của các đại học công
lập ; trong số 54956 này không kể các
phụ giảng viên cơ hữu hay giảng viên theo hợp đồng
có bằng tiến sĩ hay không, giáo viên thỉnh giảng,
các nghiên cứu viên thấp hay cao như loại directeurs
de recherche CNRS tham gia giảng dạy một số giờ,
cũng không kể các nhà giáo của hệ tư lập. Số luận án
tiến sĩ bảo vệ
ở
Pháp là khoảng trên 1 vạn mỗi năm.)
Vì số
lượng và chất lượng của đội ngũ nhà giáo cần như
thế, tôi thiết tưởng, vấn đề cấp bách hiện nay không
phải là chuyển từ đại học tinh hoa sang đại học đại
chúng, mà là giáo dục đại học phải có trình độ đại
học, nếu không thì là chính thức hóa « học giả, bằng
thật », « dán nhãn hiệu chất lượng cho hàng hóa
dỏm ». Thà rằng, trong một thời gian chấn chỉnh, tạm
như Trần Hưng Đạo thời chống quân Nguyên đã nói :
quân tinh còn hơn quân đông.
Nếu coi
giáo dục đại học như một « dịch vụ », người giảng
dạy là người lao động, tất phải được hưởng thụ sự
đền bù công sức của mình, với điều kiện là chất
lượng giảng dạy của mình có giá trị phù hợp. Mà ở
mức độ này, chất lượng giảng dạy luôn luôn gắn liền
với khả năng cập nhật, với nghiên cứu khoa học, cho
nên ở đại học Mỹ hay ở đại học Pháp, nhà giáo cũng
là nhà nghiên cứu. Vì vậy mới có câu hỏi : cách tổ
chức đại học tách rời với các viện nghiên cứu (mang
dáng dấp lưu luyến với mô hình tổ chức kiểu Liên Xô
cũ với những nhược điểm của nó) liệu có khả năng bảo
đảm nổi chất lượng giảng dạy không ? Rồi cũng lại có
câu hỏi : giả thử như chấp nhận tư
hóa giáo dục, cho phép mở vung vãi nhiều đại học tư
và coi đó là những cơ sở kinh doanh với cổ phần viên
hưởng lợi nhuận, họ sẽ chọn mở những ngành thời
thượng nhưng nhất thời và cần đầu tư nhẹ nhất để
chóng có lãi mà ít vốn ; vậy thì những ngành đầu tư
nặng, lâu dài nhưng
mang tính chiến lược, thì ai lo ? Vì vậy mà GD đại
học không nên tư hóa quá một tỉ số nào đó, điều mà
chính nước Mỹ, đất nước của tư bản và kinh tế thị
trường tự do, cũng chú ý.
Tôi đã cố thử tìm hiểu vài khía cạnh của vấn đề .
Nhưng xét cho cùng, từ ngữ không thể thay thế được
cho một đường lối. Thay vì câu hỏi « GD có là hàng
hóa hay không ? », phải chăng câu hỏi chính phải
giải đáp là : ta muốn gì ?