|
Hoàng Xuân Hăn (1908-1996)

Hoàng Xuân Hăn sinh ngày 8 tháng
3 năm 1908, (tức ngày mùng 7 tháng giêng năm
Mậu Thân) -trên giấy căn cước ghi sai,
đề ngày 3 tháng 3 năm 1909-, tại thôn Yên Phúc,
làng Yên Hồ, huyện La Sơn tỉnh Hà Tĩnh.
Con cụ Hoàng Xuân Úc, tú tài Hán học, và cụ bà
Lê Thị Ấu.
1914-1917: Học chữ Hán
và chữ quốc ngữ trong gia đ́nh.
1917-1921: Vào trường tiểu học Vinh (học
tiếng Pháp).
1921-1922: Học lớp nhất bậc tiểu
học, và đỗ bằng tiểu học ở
Thanh Hóa.
1922-1926: Học trường Quốc Học Vinh
(trung học đệ nhất cấp, tương
đương với lớp 6 đến lớp 9
hiện giờ).
1926: Đậu bằng Thành Chung.
1926-1927: Vào năm thứ nhất trường
Bảo Hộ tức là trường Bưởi
(Trung học đệ nhị cấp), tương
đương với lớp 10 bây giờ. Cũng
trong năm này, tự học lấy để thi
bằng Tú Tài Pháp, phần 1.
1927: Đỗ Tú Tài Pháp, phần 1 (thi nhẩy, thí
sinh tự do).
1927-1928 Được nhận vào lớp đệ
nhất ban toán (Mathématiques élémentaires, Terminale bây
giờ) trường Albert Sarraut Hà Nội.
1928: Đỗ Tú Tài Pháp, phần 2,
ban toán.
1928-1930 được chính phủ Đông Dương
cấp học bổng sang Pháp để học
dự bị thi vào các Trường Lớn (Grandes
Ecoles). Học Mathématiques Supérieures, Mathématiques Spéciales
ở lycée Saint Louis, Paris.
1930: Đỗ concours vào các trường: Ecole Normale
Supérieure, rue d'Ulm (Trường Cao Đẳng Sư
Phạm) và Ecole Polytechnique (Trường Bách Khoa).
Chọn học trường Polytechnique. Bắt đầu
soạn cuốn Danh Từ Khoa Học.
1932-1934: Vào học Ecole Nationale des Ponts et Chaussées
(Truờng Cầu Cống).
1934: Trở về Việt Nam 4 tháng.
1934: Sang Pháp. Trên chuyến tầu, gặp cô sinh viên
Nguyễn Thị Bính sang Pháp học dược
khoa.
1934-1936 trở lại Pháp; đậu cử nhân toán
1935, và thạc sĩ toán 1936.
1936: Kết hôn với cô Nguyễn Thị Bính, sinh
ngày 6/10/1911 tại Hà Nội, sau này trở thành dược
sĩ.
1936-1939 trở về nước. Dạy các lớp
đệ nhất ban toán trường Bưởi.
Hoàn tất cuốn Danh Từ Khoa Học.
Tham gia hội
Truyền Bá Quốc Ngữ. Chống nạn
thất học. Đưa ra phương pháp mới
để dậy chữ quốc ngữ. Đặt các
bài vè để học vần quốc ngữ, như:
o tṛn như
quả trứng gà
ô th́ đội
mũ, ơ th́ thêm râu
1939-1944: V́ chiến tranh, trường Bưởi
phải rời vào Thanh Hóa. Tại đây t́m
thấy những sử liệu về La Sơn Phu
Tử và Vua Quang Trung và những tấm bia nói
về sự nghiệp Lư Thường Kiệt.
1942 xuất bản Danh Từ Khoa Học.
1942-1943 trong ban chủ trương báo Khoa Học,
viết những bài Tính đố vui cho học sinh
trên báo Khoa Học.
1943: Đại Học Khoa Học được thành
lập tại Hà Nội. Hoàng Xuân Hăn dậy Cơ
học (Mécanique)
Tháng 4/1945 vua Bảo Đại mời vào Huế
để tham khảo ư kiền về việc thành
lập chính phủ độc lập đầu tiên
của Việt Nam.
17/4/1945: Tham dự nội các Trần Trọng Kim
với chức vụ Bộ Trưởng Giáo
Dục và Mỹ Thuật.
Từ 20/4/45 đến 20/6/45: Với chức
bộ trưởng, thiết lập và ban hành chương
tŕnh giáo dục bằng chữ quốc ngữ
ở các trường học. Áp dụng việc
học và thi Tú Tài bằng tiếng Việt. Dùng
tiếng Việt trong những công văn chính
thức.
Chính phủ Trần Trọng Kim tại chức
được 4 tháng.
Sau ngày chính phủ
Trần Trọng Kim từ nhiệm, trở về
dậy và viết sách toán bằng tiếng
Việt, cùng cứu văn những sách cũ, sách
cổ bị đưa bán làm giấy lộn
khắp đường phố Hà Nội.
1945: Bắt đầu nghiên cứu Kiều.
16/4/1946 đến 12/5/1946: Tham dự hội
nghị Đà Lạt.
19/12/1946: Pháp Việt chiến tranh. Bị kẹt
ở Hà Nội. Bị Pháp gạch tên trong sổ
giáo sư. Trở về với công việc nghiên
cứu.
1949: Xuất bản Lư Thường Kiệt
1951 sang Paris và ở luôn bên Pháp. Trong
thời kỳ 51-54 đă giúp Thư Viện
Quốc Gia Pháp và các thư viện Ḍng Tên ở
Ư và Ṭa Thánh Vatican làm thư mục về sách
Việt.
Trong suốt thời kỳ ở Pháp (từ khi
đi du học cho đến về sau), đă đi
đến các nghĩa trang, trong các làng ở Pháp,
t́m mộ bia của những người lính
thợ chết ở bên này, để báo tin cho gia
đ́nh họ biết.
Vẫn tiếp tục công việc nghiên
cứu, viết các bài gửi các báo Sử Địa
(Sài G̣n, 1966-1974), tập san Khoa Học Xă Hội
(Paris, 1976-1987). Đoàn Kết (Paris, 1976-1981). Diễn
Đàn (Paris 1991-1994). Công tŕnh đồ sộ
nhất là: Nghiên cứu Kiều (từ 50 năm
nay), chưa xuất bản.
1952: Xuất bản La Sơn Phu Tử.
1953: Xuất bản Chinh Phụ Ngâm Bị
Khảo.
1954 sang Hội Nghị Genève, theo lời mời
của các bạn Phan Anh, Vũ Văn Hiền,
Nguyễn Mạnh Hà, mong mỏi một giải pháp
ḥa b́nh: một chính phủ miền Nam có thể
cộng tác với chính phủ miền Bắc để
thực hiện việc thống nhất đất
nước.
Mất hồi 7giờ 45 ngày
10 tháng 3 năm 1996, tại bệnh viện Orsay,
ngoại ô Paris. Hỏa táng chiều ngày 14/3/1996
tại nghĩa trang L'Orme des Moineaux, Les Ulis, Pháp
Tác phẩm:
Danh từ Khoa Học
Lư Thường Kiệt
Một vài kư văng về Hội Nghị Đà Lạt
Thiên T́nh Sử Hồ Xuân Hương
Thi văn Việt Nam
La Sơn Phu Tử
Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo
Cùng nhiều công tŕnh nghiên cứu, biên tập và chú thích các tác phẩm văn cổ:
Nghiên cứu Kiều
Đại Nam Quốc sử Diễn Ca (Lê Ngô Cát)
Mai Đ́nh Mộng kư (Nguyễn Huy Tố)
Văn tế Thập loại Chúng sinh (Nguyễn Du)
|