|
Lư Nam Đế (? - 548)
Lư Bí và nhà nước
Vạn Xuân
Lư Bí xuất thân từ một hào trưởng
địa phương. Theo sử cũ, quê ông
ở huyện Thái B́nh (có lẽ ở phía trên
thị xă Sơn Tây, trên hai bờ sông Hồng).
Một thời, ông có ra làm việc với chính
quyền đô hộ, nhận một chức quan
nhỏ: giám quận (kiểm soát quân sự) ở
Cửu Đức, Đức Châu (Đức
Thọ, Hà Tĩnh). Yêu nước, thương dân,
bất b́nh với bè lũ đô hộ, ông
sớm bỏ quan, về quê ở Thái B́nh. Vùng quê
ông có Tinh Thiều, giỏi văn chương,
lặn lội sang kinh đô nhà Lương (Nam Kinh)
xin bổ một chức quan (trước năm
521). Nam triều Trung Quốc cho đến thời Lương,
phân biệt tôn ti chặt chẽ giữa quư
tộc và b́nh dân. Lại bộ thượng thư
nhà Lương là Sái Tôn bảo họ Tinh là hàn môn,
không có tiên hiền, chỉ cho Thiều làm
Quảng Dương môn lang tức là chân canh
cổng thành phía tây kinh đô Kiến Khang. Tinh
Thiều lấy thế làm xấu hổ, không
nhận chức về quê, cùng Lư Bí mưu tính
việc khởi nghĩa, chiêu tập hiền tài.
Lư Bí, nhân ḷng oán hận của dân, đă liên
kết với hào kiệt các châu thuộc miền
đất Giao Châu nước ta (Việt Nam xưa),
đồng thời nổi dậy chống Lương.
Theo sử cũ Việt Nam, thủ lĩnh Chu Diên (vùng
Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là
Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, phục
tài đức Lư Bí đă đem quân theo trước
tiên, Phạm Tu cũng là một tướng tài
của Lư Bí từ buổi đầu khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh. Đứng
trước cuộc khởi nghĩa lớn, có
sự liên kết giữa các địa phương
Tiêu Tư thứ sử Giao Châu khiếp hăi, không dám
chống cự chạy trốn về Việt Châu
(bắc Hợp Phố) và Quảng Châu.
Nổi dậy từ tháng 1 năm 542, không quá 3 tháng
nghĩa quân đă chiếm được châu thành
Long Biên (Bắc Ninh).
Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu,
chính quyền nhà Lương lập tức có
phản ứng đối phó. Tháng 4 năm 542 vua Lương
sai thứ sử Việt Châu là Trần Hầu,
thứ sử La Châu là Nịnh Cư, thứ sử
An Châu là Lư Trí, thứ sử ái Châu là Nguyễn Hán,
từ 2 phía bắc nam Giao Châu cùng tiến đánh
nghĩa quân Lư Bí. Cuộc phản kích này của
giặc Lương đă hoàn toàn thất bại.
Nghĩa quân thắng lớn và nắm quyền làm
chủ đất nước. Từ đồng
bằng Bắc Bộ, Lư Bí đă kiểm soát
được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh)
ở phía nam và vùng bán đảo Hợp Phố
ở phía bắc.
Thua đau, vua Lương lại sai thứ sử
Cao Châu là Tôn Quưnh, thứ sử Tân Châu là Lư
Tử Hùng điều khiển binh mă đi đánh
Lư Bí vào mùa đông năm ấy. Bọn này dùng
dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa
xuân lam chướng, xin đợi mùa thu hẵng
khởi binh song vẫn bất đắc dĩ
phải động binh (tháng 1 năm 543).
Chủ động đánh giặc, nghĩa quân Lư
Bí tổ chức một trận tiêu diệt
lớn ngay trên miền cực bắc Châu Giao.
Cuộc chiến diễn ra ở Hợp Phố. Quân
giặc, 10 phần chết tới 7,8 phần,
bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng
sĩ ngăn cấm cũng không được.
Bọn Tôn Quưnh, Lư Tử Hùng phải dẫn tàn
binh quay về Quảng Châu. Tiêu Tư dâng tờ
khải về triều, vu cho Tôn Quưnh, Tử Hùng
"giao thông với giặc, dùng dằng không
tiến quân". Thấy quân lính bị thiệt
hại quá nặng, Lương Vũ Đế
xuống chiếu bắt cả 2 tên tướng
cầm đầu bị tội chết ở
Quảng Châu.
Sau những thắng lợi cả hai chiến trường
biên giới Bắc, Nam. Mùa Xuân, tháng Giêng theo
lịch Trăng (2-544), Lư Bí dựng lên một nước
mới, với quốc hiệu Vạn Xuân, đóng
đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà
Nội). Sử cũ (Đại Việt sử kư)
đă b́nh luận rằng, với quốc hiệu
mới, người đứng đầu nhà nước
Vạn Xuân có "ư mong xă tắc được
bền vững muôn đời"
Lư Bí là người Việt Nam đầu tiên
tự xưng hoàng đế, Việt đế theo
sử Bắc (Tự trị thông giám) hay Nam đế
theo sử Nam. Và băi bỏ chính sóc (lịch)
của Trung Quốc, ông cũng đặt cho
Vạn Xuân và triều đại mới một niên
hiệu riêng, Đại Đức theo sử
Bắc hay Thiên Đức theo sử Nam (Thiên Đức
phải hơn, v́ khảo cổ học đă t́m
thấy những đồng tiền Thiên Đức
đúc thời Lư Nam Đế).
Xưng đế, định niên hiệu riêng,
đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi
với Bắc, lấy Việt đối sánh
với Hoa, những điều đó nói lên sự
trưởng thành của ư thức dân tộc, ḷng
tự tin vững chắc ở khả năng
tự ḿnh vươn lên, phát triển một cách
độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ
định quyền làm "bá chủ toàn thiên
hạ" của hoàng đế phương
bắc, vạch rơ sơn hà, cương vực, và
là sự khẳng định dứt khoát rằng ṇi
giống Việt phương Nam là một thực
thể độc lập, là chủ nhân của
đất nước và nhất quyết giành
quyền làm chủ vận mệnh của ḿnh.
Lư Nam Đế cũng là người đầu tiên
nhận ra vị trí địa lư trung tâm đất
nước của miền sông nước Tô
Lịch. Hà Nội cổ, từ giữa thế
kỷ 6, bước lên hàng đầu của
lịch sử đất nước.
Cơ cấu triều đ́nh mới, hẳn c̣n sơ
sài, nhưng ngoài hoàng đế đứng đầu,
bên dưới đă có hai ban văn vơ. Tinh
Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng
vơ, Triệu Túc làm thái phó, Lư Phục Man được
cử làm tướng quân coi giữ một
miền biên cảnh, từ Đỗ Động
(Thanh Oai, Hà Sơn B́nh) đến Đường Lâm
(Ba V́) "để pḥng ngừa Di Lăo"
Triều đ́nh Vạn Xuân là mô h́nh, lần đầu
tiên, được Việt Nam thâu hóa và áp
dụng của một cơ cấu nhà nước
mới, theo chế độ tập quyền trung
ương. Lư Nam Đế cho xây một đài
Vạn Xuân để làm nơi văn vơ bá quan
triều hội.
Nhà nước Vạn Xuân, dù mới dựng, cũng
bỏ tiền xây một ngôi chùa lớn, sau
trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật
học lớn của Việt Nam. Đó là chùa Khai
Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc
ở Hà Nội ngày nay. Ngay cái tên, "chùa Mở
Nước" cũng đă hàm chứa nhiều
ư nghĩa!
Đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu
tổ chức cuộc xâm lược Vạn Xuân
nhằm chinh phục lại châu Giao, "thuộc
quốc" cũ. Dương Phiêu được
cử làm thứ sử châu Giao. Trần Bá Tiên, viên
tướng vũ dũng xuất thân "hàn môn"
nhưng có công đánh dẹp châu Quảng,
được cử làm tư mă Giao Châu, lĩnh
thái thú Vũ B́nh, cùng Dương Phiêu tổ
chức cuộc chinh phục Vạn Xuân.
Quân Vạn Xuân có khoảng vài vạn người
giữ thành ở cửa sông Tô Lịch, chiến
đấu chống giặc.
Thành đất, lũy tre gỗ, không mấy kiên
cố, bị Trần Bá Tiên thúc giục quân vũ
dũng công thành ráo riết. Lư Nam Đế
buộc phải lui binh ngược sông Hồng,
về giữ thành Gia Ninh trên miền đồi núi
trung du vùng ngă ba sông Trung Hà - Việt Tŕ.
Cục diện cố thủ của Lư Nam Đế
ở thành Gia Ninh kéo dài suốt mùa khô năm 545.
Sang tháng 2 năm 546, quân vũ dũng của Bá Tiên,
có hậu quân Dương Phiêu tới phối
hợp, bao vây và công phá, cuối cùng đă hạ
được thành Gia Ninh vào ngày 25. Nhưng Lư Nam
Đế cùng một số binh tướng đă
thoát chạy được vào miền động
Lăo ở Tân Xương (miền đồi núi Vĩnh
Phú trên lưu vực sông Lô). Chiến tranh giữ
nước chuyển sang một h́nh thái khác. Lư Nam
Đế vào vùng núi rừng Việt Bắc, ngoài
số binh tướng c̣n lại sau trận
thất thủ Gia Ninh, đă mộ thêm được
nhiều nghĩa quân. Nghĩa quân dựng lán
trại trong rừng, hạ nhiều cây rừng,
xẻ ván đóng thuyền bè.
Sau một thời gian chỉnh đốn lại
lực lượng, tháng 10 năm 546, Lư Nam Đế
lại kéo quân từ trong núi rừng "Di Lăo"
ra hạ thủy trại ở vùng hồ Điển
Triệt (tên nôm là Đầm Miêng) thuộc xă
Tứ Yên huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh
Phú, nằm bên bờ sông Lô, cách Bạch Hạc
khoảng 15 km về phía bắc. Tuy nhiên, những
trận mưa lũ cuối mùa đă khiến cho nước
sông Lô đột nhiên lên to, tràn vào vùng chằm
ao và ruộng trũng, nước ngập tràn,
chảy như rót vào hồ, thuyền lớn có
thể đi lại tha hồ mà khu căn cứ nghĩa
quân trở thành một vùng cô đảo giữa
biển nước mênh mông... Lợi dụng nước
lớn, Trần Bá Tiên xua chiến thuyền xông
trận, đánh trống reo ḥ mà tiến vào Điển
Triệt. Lư Nam Đế và nghĩa quân bị
địch tập kết bất ngờ, không
kịp pḥng bị, không sao chống đỡ
nổi.
Đây là trận đánh lớn cuối cùng
của Lư Nam Đế. Sau lần thất bại
lớn thứ ba này, ông phải vào nương náu
trong động Khuất Lăo (Tam Nông, Vĩnh Phú).
Tương truyền, về cuối đời, Lư
Nam Đế bị mù. Thần thành hoàng Danh
Hựu vẫn được các làng chung quan
gọi là "Vua mù" và khi tế lễ,
phải xướng tên các vật phẩm để
thần biết.
Theo sử cũ của Việt Nam, từ sau khi rút
về động Khuất Lăo, Lư Nam Đế
bị đau yếu luôn. Hai năm sau ông mất
(548).
Cuộc kháng chiến chống ách Bắc thuộc
của người Việt sau đó được
tiếp tục dưới sự lănh đạo
của Triệu Quang Phục, một tướng cũ
của Lư Bí với căn cứ khởi nghĩa
tại đầm Dạ Trạch.
|