|
Lê Lợi (1385 -1433) Vị anh hùng giải phóng dân
tộc
Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm ất Sửu)
tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện
Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời
đời làm quân trưởng một phương".
Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị
Ngọc Hương (anh lớn của ông tên
Học, anh thứ là Trư). Ông nối
nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn. Khi quân Minh
chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn
đánh đuổi xâm lăng. Quân nhà Minh nghe
tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu
khuất. Ông nói: "Làm trai nên giúp nạn
lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn
đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy
tớ người?". Năm Lê Lợi 21 tuổi
cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm
lược nước Việt. Cuộc kháng
chiến chống Minh của vương triều
Hồ thất bại, nước Đại
Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo
của giặc Minh. Trước cảnh đất
nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê
Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh
đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn
trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người
bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước
đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên
quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai
đã đi vào sử sách.
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ
hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt
từ bốn phương kéo về. Đất Lam
Sơn trở thành nơi tụ nghĩa. ở đó
có đủ các tầng lớp xã hội và thành
phần dân tộc khác nhau, với những đại
biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên
Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý,
Xa Khả Tham... Sau một thời gian chuẩn
bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi
xưng là Bình Định Vương, truyền
hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân
đứng lên đánh giặc cứu nước.
Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao
của cuộc khởi nghĩa ấy.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu
tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua
các giai đoạn phát triển và chiến lược,
chiến thuật của nó đã chứng minh Lê
Lợi là người có tầm vóc của một
thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ
thấy ở những lãnh tụ mở đường,
khai sáng. Nếu Ngô Quyền với chiến
thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã
chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước,
mở đầu thời kỳ độc lập
mới của dân tộc thì Lê Lợi với
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng,
kết thúc 20 năm thống trị của giặc
Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài
cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ
nguyên xây dựng mới. Không có Lê Lợi, không có
phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng Lê
Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo
lập ra tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn mà
ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược
kiệt xuất. Một nét đặc sắc,
mới mẻ trong đường lối chỉ
đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê
Lợi thực hiện là dựa vào nhân dân để
tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc.
Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ
chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc
khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất
nhân dân rộng rãi của nó, một đặc
điểm nổi bật không có ở các cuộc
khởi nghĩa khác chống Minh trước đó.
Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn
kết, tập hợp mọi lực lượng xã
hội trong một tổ chức chiến đấu,
rồi từ cuộc khởi nghĩa ở một
địa phương, lấy núi rừng làm căn
cứ địa, phát triển sâu rộng thành
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên
quy mô toàn quốc. Đây là một cống
hiến sáng tạo to lớn về đường
lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham
mưu của ông, để lại một kinh
nghiệm lịch sử quý giá.
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo
chiến lược về chính trị, quân sự,
vừa là vị tướng cầm quân mưu trí,
quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng
lối đánh "vây thành diệt viện"
theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm:
Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành kiên
cố hàng năm, hàng tháng không lấy được,
quân ta sức mỏi, khí nhụt, nếu viện
binh giặc lại đến thì ta đằng trước,
đằng sau đều bị giặc đánh,
đó là đường nguy. Chi bằng nuôi
sức khỏe, chứa khí hăng để đợi
quân cứu viện tới. Khi viện binh bị phá
thì thành tất phải hàng". Chiến thuật
"Vây thành diệt viện" của Lê Lợi
kết hợp với chủ trương "mưu
phạt nhị tâm công", uy hiếp, phân hóa, chiêu
dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên
một phương thức độc đáo trong
nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và
tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng, Xương
Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng
lợi của tư tưởng quân sự của
Lê Lợi - Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi hết
giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng
đế năm 1428, sáng lập ra vương
triều Lê. Lê Lợi làm vua được 5 năm
thì mất (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn,
miếu hiệu là Thái Tổ.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước
buổi đầu của vương triều Lê, Lê
Lợi đã có những cố gắng không
nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm
phục hồi, củng cố, phát triển đất
nước trên mọi mặt, như tổ
chức lại bộ máy chính quyền từ trung
ương xuống địa phương; ban hành
một số chính sách kèm theo những biện pháp
có hiệu quả để khôi phục sản
xuất nông nghiệp, ổn định đời
sống xã hội. Lê Lợi cũng chú ý tới
việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào
tạo nhân tài. Năm 1428, lên ngôi vua, năm sau (niên
hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã
cho mở khoa thi Minh Kinh. Năm 1431, thi khoa Hoành
từ. Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn
sách. Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi
đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã
mở một khoa thi đặc cách lấy đỗ
32 người, trong đó có Đào Công Soạn,
một nhà ngoại giao xuất sắc thời Lê
Lợi. Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn
nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu
sau khi đất nước được giải
phóng là việc tăng cường củng cố,
giữ vững nền độc lập, thống
nhất của Tổ quốc. Về phương
diện này, Lê Lợi đã làm được hai
việc có ý nghĩa lịch sử. Thứ
nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu
tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường
giữa triều Lê và triều Minh. Thứ hai, Lê
Lợi đã kiên quyết đập tan những âm
mưu và hành động bạo loạn muốn cát
cứ của một số ngụy quân trước,
điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường
Lễ, Lai Châu. Trong bài thơ làm khắc vào vách
đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà, thuộc
Lai Châu) năm 1431 khi đánh Đèo Cát Hãn, Lê
Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự
thống nhất giang sơn:
Đất hiểm trở từ nay không còn,
Núi sông đã vào chung một bản đồ.
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ miền Tây của nước
Việt ta.
Sau bài thơ trên, Lê Lợi còn viết bài thơ
thứ hai khắc vào vách núi Hào Tráng bên Chợ
Bờ, Hòa Bình.
Lê Lợi trong 5 năm làm vua, bên cạnh những công
lao to lớn, có phạm một số sai lầm mà
sử sách đương thời cũng thẳng
thắn phê phán. Đại Việt sử ký toàn thư
viết: "Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh
dẹp giặc Minh, 20 năm mà thiên hạ đại
định. Đến khi lên ngôi, định
luật lệ, chế lễ nhạc, mở khoa thi,
đặt cấm vệ, lập quan chức,
lập phủ huyện, thu góp sách vở, mở trường
học, có thể gọi là có mưu lớn, sáng
nghiệp. Song, đa nghi, hay giết, đó là
chỗ kém".
|