|
Lê Ðại Hành (941 - 1005)
Vào giờ dần, ngày rằm tháng Bảy, năm
Tân Sửu (941), cuối ngôi làng nhỏ thôn Trung
Lập, xã Xuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hóa, một
em bé nghèo "bố đỡ đó, mẹ xó chùa"
đã ra đời. Đó là Lê Hoàn.
Cha họ Lê, tên Mịch. Mẹ họ Đặng,
tên Sen. Vài năm sau khi sinh con, mẹ Lê Hoàn
mất. Rồi cha cũng mất nốt. Khi Lê Hoàn
mồ côi cả cha lẫn mẹ cũng là lúc Ngô
Vương (Ngô Quyền) mất (944). Nước
Việt phải trải qua một thời loạn
lạc, sử cũ gọi là "Loạn 12 sứ
quân" (944-968).
Đứa trẻ Lê Hoàn "trơ trọi một
mình, cực khổ muôn chiều" ấy
được một người cùng họ -
một vị quan nhỏ họ Lê nuôi. Chăm
học, chăm làm, chịu khó chịu khổ là nét
nổi bật suốt thời niên thiếu của
ông.
Trưởng thành, Lê Hoàn rời nhà cha nuôi, đi
theo Nam Việt Vương Đinh Liễn. Là
một người lính trí dũng khác thường,
Lê Hoàn được cha con Đinh Bộ Lĩnh
khen ngợi về những chiến công đánh
dẹp các sứ quân, giao cho trông coi 2.000 binh sĩ.
Đến năm 971, sau khi thống nhất non sông,
lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, Đinh Tiên Hoàng
phong cho ông chức vụ Thập đạo tướng
quân, Điện tiền đô chỉ huy sứ -
tức chức vụ tổng chỉ huy quân đội
cả nước Đại Cồ Việt,
trực tiếp chỉ huy đội quân cấm
vệ của triều đình Hoa Lư. Lúc này ông
tròn 30 tuổi.
Tháng 10-979, cha con Đinh Tiên Hoàng bị viên quan
hầu Đỗ Thích giết hại. Sau khi Đỗ
Thích bị giết, tôn Vệ vương Đinh Toàn
(mới 6 tuổi) lên ngôi vua. Lê Hoàn làm Nhiếp chính
trong một tình thế đầy khó khăn.
Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn
Bặc, Phạm Hạp nổi loạn nhưng
bị Lê Hoàn dẹp tan. Phò mã nhà Đinh là Ngô
Nhật Khánh bỏ trốn vào nam, rước vua Chămpa
cùng hơn nghìn chiến thuyền toan cướp
kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết. Trên
biên thùy phía bắc, lợi dụng triều đình
rối ren, Tống triều lộ ngay ý định
thôn tính nước Việt. Tháng 6-980, nhà Tống
họp quân bốn mặt, theo hai đường
thủy bộ tràn vào nước Việt.
Thái hậu Dương Vân Nga cùng văn võ bá quan
đã đồng lòng tôn Lê Hoàn làm vua, lấy
hiệu là Lê Đại Hành trước khi
xuất quân đánh giặc.
Tháng 7-980, vua Tống hạ chiếu phát quân sang xâm
lược Đại Cồ Việt. Lê Đại
Hành vừa triển khai binh sĩ sẵn sàng
chiến đấu, vừa cử sứ giả
đưa thư cầu hòa để tránh nạn
binh đao. Trước dã tâm và sức ép của
giặc, Lê Đại Hành hạ lệnh chiến
đấu, quyết bảo vệ đất nước.
Mùa xuân năm 981, ông đã mang chiến thắng
trở về. Cùng với quân dân cả nước,
ông đã tái tạo một Bạch Đằng, sáng
tạo một Chi Lăng lịch sử, thắng
lớn trên cả hai mặt trận thủy,
bộ, giết tướng đầu sỏ
Hầu Nhân Bảo, tiêu diệt quá nửa quân
Tống, bắt tù vô kể. Vua Tống phải
xuống chiếu lui quân.
Đại thắng mùa xuân 981 là đại
thắng đầu tiên của một dân tộc
phục hưng sau hơn nghìn năm Bắc
thuộc và mở đầu kỷ nguyên Đại
Việt tự chủ trước các triều đại
phong kiến phương Bắc.
Trong một phần tư thế kỷ đứng
đầu Nhà nước (980-1005), Lê Đại Hành
rất chăm lo xây dựng và bảo vệ đất
nước.
Về đối nội, thực hiện chống cát
cứ, địa phương chủ nghĩa, xây
dựng "cơ sở hạ tầng" của
nền kinh tế, chính trị thống nhất.
Về đối ngoại, theo đuổi đường
lối nhu thuận nhưng cương quyết
xứng đáng là vị vua mà nội trị,
ngoại giao đều xuất sắc.
Từ lúc trẻ cho đến khi qua đời (tháng
3 năm ất Tỵ - 1005), trong gần nửa
thế kỷ oanh liệt, người anh hùng Lê
Đại Hành đã hết lòng vì nước, vì
dân, trong mọi hoàn cảnh luôn kiên quyết cùng
toàn dân bảo vệ nền độc lập
của Tổ quốc và chăm lo sự nghiệp xây
dựng đất nước.
|