|
Trưng
Trắc và Trưng Nhị
 |
|
Lịch sử và
truyền thuyết kể rằng hai chị em
vốn dòng dõi họ HÙNG - Một trong dòng họ làm
Vua tổ của dân tộc Việt Nam nay thuộc MÊ
LINH tỉnh PHÚ THỌ. Mẹ Hai Bà Trưng, Bà MAN
THIỆN sớm góa bụa song đã nuôi dạy con
cái theo tinh thần thượng võ và yêu nước.
Chồng Trưng Trắc là THI SÁCH, con trai một
Lạc tướng huyện CHU DIỄN bị
giặc ngoại xâm giết hại. Trước
cảnh nước mất nhà tan TRƯNG TRẮC cùng
em TRƯNG NHỊ quyết tâm tiến hành khởi
nghĩa NỢ NƯỚC, THÙ NHÀ.
Tháng 3 năm 40, HAI BÀ TRƯNG lập đàn thờ
trên cửa sông HÁT truyền lệnh khởi nghĩa.
Nhân dân các quận CỬU CHÂN, NHẬT NAM, HỢP
PHỐ cùng nổi dậy hưởng ứng
cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Hai Bà
lập nên VƯƠNG TRIỀU mới, đóng
đô ở MÊ LINH. Xưng hiệu là TRƯNG VƯƠNG |
|
|
|
Hai năm sau, MÃ VIỆN, tướng nhà Hán, mang hai
vạn quân sang xâm lược nước ta. Do
lực lượng yếu, Hai Bà lui về CẨM
KHÊ và cầm cự với quân giặc hơn
một năm trời. Cuối cùng, bị thất
bại, Hai bà chạy về HÁT MÔN gieo mình
xuống sông HÁT GIANG tự vẫn (năm 43).
Hai Bà đã giành quyền tự chủ đất
nước mặc dù ngắn ngủi (từ năm
40 đến 43) song Hai Bà đã khắc ghi vào
lịch sử và tâm thức người dân
Việt Nam tấm gương ANH HÙNG VÀ TRUNG NGHĨA
làm vẻ vang cho nữ giới và dân tộc.
Qua hàng ngàn năm lịch sử dân tộc Việt
Nam, Hai Bà được mọi thời đại
đánh giá là tấm gương anh hùng liệt
nữ, niềm hãnh diện của phụ nữ và
đất nước. Ðến nay Hai Bà vẫn
được bao phong đời đời,
lửa hương không dứt tại các đền
thờ Hai Bà, tại các di tích khởi nghĩa và
liên quan đến cuộc đời Hai Bà như Hát
Môn, Hạ Lôi, Ðồng Nhân.
Suốt gần 2000 năm qua tấm gương
của Hai Bà được truyền tụng . Ngày
trước, trường TRƯNG VƯƠNG Sài Gòn,
mỗi năm đều tổ chức kỷ
niệm hai Bà. Bầu hai cô nữ sinh HOA KHÔI TRƯỜNG,
CỠI VOI đi khắp thành phố. Hai Bà đã
trở thành hình tượng lịch sử, văn
hóa sau khi chết.
Có truyền thuyết nói Hai Bà lên núi Thường
Sơn, hóa thân ở đó. Có bản nói sau khi
thất trận, để khỏi rơi vào tay
giặc Hai Bà nhảy xuống sông Hát tự
vẫn hoá thành 2 tảng đá trắng trôi về
bãi Ðồng Nhân (Nay là phường Ðồng Nhân,
Quận Hai Bà Trưng - Khu phố lớn mang tên Hai
Bà, Hà Nội) đêm đêm thường phát sáng
rực rỡ.
Vùng Hát Môn - nơi phát tích khởi nghĩa có
truyền thuyết cho rằng, khi Hai Bà rút quân
về cửa Hát, trước lúc gieo mình xuống
sông để giữ trọn khí tiết, mỗi Bà
ăn một quả muỗm và nhả hạt
mọc lên hai cây muỗm trước cửa đền
Hát Môn ngày nay. Dân quen gọi là cây muỗm Hai Bà.
Trong lịch sử, văn hóa dân tộc Việt
Nam, Hai Bà Trưng đã được truyền
thuyết dân gian tiếp nối qua nhiều đời
và là một chân lý chói ngời trong đời
sống tâm linh người Việt.
Khi nói đến phụ nữ Việt Nam nêu gương
sáng và là niềm tự hào của đất nước,
người Việt Nam không quên nhắc đến
HAI BÀ TRƯNG.
Hai Bà Trưng là tên gọi tắt, suy tôn hai nữ
anh hùng đầu tiên của dân tộc Việt
Nam. Đó là hai chị em Trưng Trắc, Trưng
Nhị, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa
lớn vào loại sớm nhất trong lịch
sử dân tộc Việt Nam cũng như trong
lịch sử nhân loại, chống xâm lược,
nô dịch. Họ trở thành những nữ hoàng
đầu tiên, cai quản quốc gia, dân tộc,
sau khi đất nước được giải
phóng, hồi đầu thế kỷ thứ
nhất sau công nguyên.
Sử cũ đều chép Hai Bà là dòng dõi lạc
tướng (người đứng đầu
bộ lạc) Mê Linh (miền đất rộng,
giữa Ba Vì và Tam Đảo) thời Hùng Vương.
Truyền thuyết nói Hai Bà là con gái bà Man
Thiện, cũng là một phụ nữ đảm
lược, quê hương ở vùng Ba Vì. Ngọc
phả ở các làng Hạ Lôi và Hát Môn - những
nơi có đền thờ chính của Hai Bà -
đều chép Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh
vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất
(năm 14 sau công nguyên). Các sử cũ cũng chép
ràng Trưng Trắc có chồng là Thi Sách, dòng dõi
lạc tướng Chu Diên (miền đất
dọc sông Đáy). Đây là kết quả
của một cuộc "hôn nhân chính
trị", nhân đấy mà liên kết được
lực lượng của hai miền đất
quan trọng nhất của non sông thời bấy
giờ.
Lực lượng liên kết ấy là hạt nhân
của một cuộc khởi nghĩa đồng
loạt, rộng lớn, mãnh liệt, nổ ra vào mùa
xuân năm Canh Tý (năm 40 sau Công Nguyên) nhân
việc Thái thú (quan cai trị nhà Hán) ở Giao
Chỉ (miền đồng bằng Bắc Bộ) là
Tô Định giết hại Thi Sách. Nhưng nguyên
nhân cơ bản của cuộc khởi nghĩa là
vì tinh thần yêu nước, giải phóng và khôi
phục nền độc lập cho đất nước,
chống áp bức, thống trị và nô dịch,
đồng hóa của nhà Hán (Trung Quốc) Vào
một sáng mùa xuân năm 40, tại đất Mê
Linh, Hai Bà Trưng đã làm lễ tế cờ
khởi nghĩa. Trong tiếng trống đồng
trầm hùng, âm vang lời thề của Hai Bà trước
giờ xuất binh:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.
"Trưng Trắc là người can đảm, hùng
dũng" (lời thừa nhận của bộ chính
sử chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
vào loại cổ nhất của Trung Quốc) đã
cùng em gái đứng đầu cuộc khởi nghĩa
liên kết được sức mạnh toàn dân
(trong đó có đông đảo phụ nữ, như
các nữ tướng: Thánh Thiên, Lê Chân, Bát Nàn,
Thiều Hoa...) và toàn quốc (không chỉ gồm
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là miền đất
Việt Nam ngày nay, từ nam Trung Bộ trở ra, mà
cả đất Hợp Phố bây giờ là nam
Quảng Đông - Trung Quốc).
Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng
đã quét sạch giặc thù khỏi bờ cõi và
được tôn làm vua, đứng đầu
đất nước độc lập trong
thời gian ba năm.
Sau đó, nhà Hán sai lão danh tướng Phục Ba tướng
quân Mã Viện cầm đầu đại quân
sang tái xâm lược, Hai Bà Trưng đã dũng
cảm đương đầu cùng quân giặc,
tổ chức kháng chiến đánh những
trận lớn từ Tây Vu, Lãng Bạc đến
Cấm Khê và cuối cùng đã hy sinh anh dũng vào
mùa hè năm Quý Mão (năm 43 sau công nguyên), để
lại tấm gương oanh liệt nghìn thu.
Hiện nay ở nhiều địa phương
trong cả nước có đền thờ Hai Bà Trưng
và các tướng lĩnh của Hai Bà.
|