Gia Long (1762 - 1820)

|
Niên hiệu |
Gia Long
|
Năm sanh, năm mất |
1762-1820
|
Giai đoạn trị vì |
1802-1820
|
Miếu hiệu |
Thế Tổ Cao Hoàng Ðế
|
Tên Húy |
Nguyễn Phúc Ánh
|
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất
Dậu (1765), Chúa Vũ Nghuyễn Phúc Khoát mất.
Quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền
thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc
Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để
dễ bề khống chế. Từ đó Ðàng
Trong bắt đầu đi vào con đường
suy thoái, sưu cao thuế nặng, khắp nơi
đều vang lên tiếng than oán và cuối cùng
dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn
khởi nghĩa năm Quí Tỵ (1773). Lợi
dụng lúc Ðàng Trong có nội loạn, Chúa
Trịnh xua quân qua sông Linh Giang tấn công Phú Xuân
(Huế). Phú Xuân thất thủ, tôi chúa họ
Nguyễn phải chạy vào Gia Ðịnh, chấm
dứt sự nghiệp của Chúa Nguyễn ở
Ðàng Trong.
Trong số người chạy loạn có
Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi.
Nguyễn Ánh là con của hoàng tử Nguyễn Phúc
Côn và bà Nguyễn Thị Hoàng. Nguyễn Ánh (hay
Nguyễn Phúc Ánh) sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm
Ngọ (1762), thuở thiếu thời đã tỏ
ra là một con người có chí và thông minh vì
thế rất được Chúa yêu, tuy còn
nhỏ nhưng ông được Chúa phong cho
chức Chưởng sứ, ông đã tỏ ra là
một tướng cầm quân có tài.
Năm Tân Dậu (1777), Nguyễn Huệ đem quân
vào đánh chiếm Gia Ðịnh, Chúa tôi họ
Nguyễn phải bỏ thành kéo tàn quân chạy
về Ðịnh Tường, Cần Thơ. Quân Tây
Sơn truy lùng gắt gao, bắt được và
giết Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương,
Nguyễn Ánh bắt đầu một cuộc
sống long đong và vất vả.
Vài năm sau, Nguyễn Ánh lấy lại
được Sài Côn (Saigon) rồi tiến ra
lấy lại Bình Thuận. Năm Canh Tí (1780)
Nguyễn Ánh lên ngôi Vương ở Gia Ðịnh.
Năm Nhâm Dần (1782), thấy thế lực
Nguyễn Vương ngày càng mạnh, Nguyễn
Nhạc và Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh,
Saigon thất thủ, Nguyễn Vương lại bôn
tẩu về Hà Tiên rồi chạy ra đảo Phú
Quốc.
Nguyễn Vương vốn là con người có
chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong lòng
một mối thù phục quốc. Chính vì thế nên
khi biết được Giám mục Pháp Bá Ða
Lộc (Pigneau de Béhaine), người có uy tín và
thế lực tại Pháp thời bấy giờ
đang ở Ðàng Trong , Nguyễn Vương không
ngần ngại cho mời giám mục tới và
nhờ giám mục làm sứ giả trong việc
cầu viện Pháp. Nguyễn Vương đã
để cho con trưởng của mình là
Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo Giám
mục Bá Ða Lộc sang Pháp làm con tin.
Trong thơ cho Vua Pháp (Louis XVI), Nguyễn Vương
xin Pháp giúp 1.500 lính và tàu bè, súng ống, vật
dụng. Ðể đền bù, Pháp được
độc quyền buôn bán ở nước
Việt Nam, nhường cho nước Pháp đảo
Côn Lôn (Côn đảo), và cảng Hội An (có sách
nói là cảng Ðà Nẵng).
Giám mục Bá Ða Lộc ký được
hiệp ước Versailles với Pháp ngày
28-11-1787, vua Pháp giao trách nhiệm thi hành
hiệp ước cho một ông tướng
đống quân ở Ấn Ðộ nhưng ông
nầy không thích Giám mục Bá Ða Lộc nên
nói ra với vua Pháp và cũng vì nước
Pháp đang bị nội loạn nên rốt
cuộc vua Pháp không thi hành hiệp ước.
Chờ mãi không được, Giám mục Bá
Ða Lộc bỏ tiền riêng để mướn
một số lính đánh thuê rồi trở
về Việt Nam. Năm 1789 thì Hoàng tử
về đến Gia Ðịnh. |
Khi đưa con đi rồi Nguyễn Vương
cũng từ giã mẹ và vợ để sang Xiêm
La (Thái Lan) cầu cứu. Tới tháng 6 năm 1784
thì vua Xiêm cho tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương
đem 20 vạn quân và 300 chiếc thuyền sang giúp
Nguyễn Vương. Lúc đầu quân Xiêm đại
thắng chiếm nhiều tỉnh Kiên Giang, Trà Ôn,
Sa Ðéc. Sau đích thân Nguyễn Huệ đem đại
quân vào đánh, quân Xiêm thua bỏ chạy về nước,
Nguyễn Vương cũng chạy theo về Xiêm
La lánh nạn.
Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ
theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh tiến
chiếm Phú Xuân rồi rồi thừa thắng
tiến ra Thăng Long (Hà Nội) diệt họ
Trịnh. Việc Nguyễn Huệ ra Bắc làm cho
Nguyễn Nhạc (anh của Nguyễn Huệ) nghi
ngờ nên cũng vội vã đem quân ra Bắc,
hai anh em gặp nhau ở Thăng Long rồi cùng
về. Nguyễn Huệ được đóng quân
ở Phú Xuân và được phong là Bắc Bình
Vương. Từ đó anh em Tây Sơn đã có
mầm móng bất hoà, nhiều lần hai anh em
đã đem quân đánh nhau.
Vì ham tranh quyền nên anh em Tây Sơn đã không
ngó ngàng gì đến các xứ Ðàng Trong nhất là
từ Qui Nhơn (Bình Ðịnh) trở vào, lợi
dụng thời cơ đó, Nguyễn Vương
đã cùng với các bộ tướng củ, tháng
9 năm Ðinh Mùi (1787), trở về nước.
Nguyễn Vương đã được dân
miền Nam giúp đở rất nhiều, có
nhiều tướng giỏi đến phò như Võ
Tánh, nên chẳng mấy chốc lực lượng
Nguyễn Vương đã lớn mạnh. Ðông Ðịnh
Vương Nguyễn Lữ phải bỏ Gia Ðịnh
trở về Qui Nhơn. Nguyễn Vương
lấy toàn bộ xứ Gia Ðịnh đặt làm
bản doanh rồi bắt đầu tổ chức
việc cai trị. Năm Canh Tuất (1790) Nguyễn
Vương cho đắp lại thành Gia Ðịnh
theo kiểu bát quái có 8 cửa xây bằng đá
ong.
Thấy Nguyễn Vương lớn mạnh, tháng
3 năm Nhâm Dần (1782) vua Thái Ðức Nguyễn
Nhạc nhà Tây Sơn đem quân vào đánh nhưng
bị quân Nguyễn Vương đánh lui. Kể
từ đó về sau, quân Tây Sơn luôn thất
bại khi đem quân vào đánh.
Ở Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn
Huệ lại tiến quân ra Bắc diệt nhà Lê
rồi cho Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm
ở lại để cai trị Bắc Hà. Vua Lê
Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu
viện nhà Thanh. Nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem
20 vạn quân sang đánh. Ðược tin, Bắc Bình
Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Ðế
ở Phú Xuân lấy hiệu là Quang Trung thống lãnh
đại quân tiến ra Bắc đánh tan 20
vạn quân nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị phải
chạy thoát thân bỏ quên cả ấn tín.
Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung băng hà, con là
Quang Toảng lên ngôi mới 10 tuổi, vì thế Vương
nghiệp triều Tây Sơn nhanh chóng rơi vào suy
vong.
Ðược tin vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Vương
rất vui mừng, đẩy mạnh việc
chuẩn bị đánh Tây Sơn. Dưới trướng
Nguyễn Vương lúc bấy giờ có nhiều
quan chức người nước ngoài như Dayot
(Ông Trí), Philippe Vannier (Ông Chấn), Guilloux, Laurent
Barisy (Ông Mân), De Forçant (Ông Lăng), Jean Baptiste
Chaigneau, Olivier de Puymanel (Ông Tín), Theodore Lebuen.
Những quan chức nầy là những cố
vấn kỹ thuật cho Nguyễn Vương trong
lãnh vực quân sự, vũ khí, đấp thành,
v.v...
Cuộc chiến kéo dài đến năm Tân
Dậu (1801) Nguyễn Vương chiếm lại
được Phú Xuân, và ngày mồng 2 tháng 5 năm
Nhăm Tuất (1802) Nguyễn Vương lên ngôi
lấy niên hiệu là Gia Long. Lên ngôi xong vua Gia Long
đưa quân tiến ra đất Bắc, quân Tây
Sơn tan rã lần hồi. Ðến tháng 6 cùng năm
thì vua Gia Long đã thống nhất được
sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài
gần 300 năm.
Ngài ra lệnh quật mả vua Nguyễn Nhạc
và vua Nguyễn Huệ lên, đem vứt thây đi
còn đầu thì đem bỏ giam trong ngục
tối (có sách viết là đốt thây thành tro
rồi đổ xuống sông, còn sọ thì làm gáo
đựng nước tiểu).
Vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin đổi
quốc hiệu là Nam-Việt, nhưng vì đất
Nam-Việt đã có bên Tàu đời nhà Triệu
ngày trước nên Thanh triều mới đổi
chữ Việt lên trên, gọi là Việt-Nam để
cho khỏi lầm với tên củ.
Ở trong cung, nhà vua không đặt ngôi Hoàng
hậu, chỉ có ngôi Hoàng phi và các cung tần. Sau
khi vua mất, thì con lên ngôi, mới tôn mẹ lên làm
Hoàng Thái Hậu.
Bỏ chức Tể tướng, lập ra 6
bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan
Thượng Thư:
-Bộ Lại : coi việc khảo xét công
trạng, thảo những tờ chiếu sắc,
v.v...
-Bộ Hộ : coi việc đinh điền
thuế má, tiền bạc, v.v...
-Bộ Lễ : coi việc tế tự, tôn phong,
cách thức học hành thi cử, v.v...
-Bộ Binh : coi việc binh lính, v.v...
-Bộ Hình : coi việc pháp luật, v.v...
-Bộ Công : coi việc làm cung điện, dinh
thự, v.v...
Ngài lập Văn Miếu ở các trấn
thờ đức Khổng Tử. Mở trường
lớn ở Kinh đô để dạy con các quan
và các sĩ-tử (sau nầy vua Minh Mạng đổi
tên là Quốc Tử Giám). Mở khoa thi Hương
để kén lấy những người có
học ra làm quan...
Vua Gia Long không theo đạo Thiên Chúa dù Ngài
rất biết ơn Giám mục Bá Ða Lộc và có
nhiều thiện cảm với các giáo sĩ, nhưng
Hoàng tử Cảnh đã theo đạo khi ở
chung với Giám mục Bá Ða Lộc. Một lá thư
của Cha Lelabousse viết vào tháng 6-1792 cho biết
: "Trong buổi lễ được tổ
chức vào khoãng cuối tháng 7-1789, Hoàng tử
Cảnh nhất định không đến lạy
trước bàn thờ tổ tiên đã làm cho
Nguyễn Vương đau khổ tủi nhục và
tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ
niệm, nói rằng ông là một người cha
bất hạnh".
Nhưng vua vẫn một lòng kính trọng Giám
mục, trong một lá thư của Giám mục
viết cho Hội truyền giáo hải ngoại năm
1795, Giám mục kể rằng trong năm đó có
mười chín ông quan trong triều đình
viết sớ đưa lên cho Nguyễn Ánh xin Ngài
thận trọng đừng để Giám mục
lo việc giáo huấn Hoàng tử Cảnh.
Nguyễn Vương nổi trận lôi đình,
vứt sớ xuống đất và kể những
công trạng của Giám mục đối với
gia đình và sự nghiệp của Vương.
Nguyễn Ánh hăm dọa là sẽ phạt
thẳng tay những người có ý nghĩ
xấu nầy. Xong Vương vào hậu cung kể
lại cho vợ nghe và hai người quyết
định là giấu chuyện nầy không cho Giám
mục biết.
Ngày 19 tháng 12 năm Canh Thìn (3-2-1820) vua Gia Long băng
hà thọ 58 tuổi (theo Trần Trọng Kim thì Ngài
mất năm 1819).
|