Danh
nhân Việt NamỞ nhà
quê, các cánh đồng hoa dầu đang nở hoa dưới làn mưa xuân trải dài như
những tấm thảm vàng rực rỡ, óng ánh. Mọi người tất tả gieo, trồng. Tôi
cũng còn vài trăm củ khoai giống để trồng, nhưng vào một ngày mưa như hôm
nay, đất sét ướt bám dính cả kí lô chung quanh đôi giày, và trơn tuốt luốt
như các tuyến trượt tuyết...đã đến lúc tôi phải đi gặp gỡ ông Hoàng tử
Nguyễn Phúc Bảo Lộc: Ông Georges Vĩnh San.
Lịch sử
đối với tôi là trường học, sách vở, văn khố, phim, ảnh...cũ kỹ, xơ xác, xa
xôi, vàng úa bởi bụi thời gian. Khi ở trung học, như những bạn thiếu niên
đồng lứa, tôi học, các chương lịch sử cận đại thời nhà Nguyễn, mà không
hiểu phải học thuộc lòng những điều này để làm gì ? Những ngày tháng năm
sinh, những ngày tháng tử, những ngày lên ngôi... chẳng có quan hệ gì với
tôi cả.
Bốn mươi năm sau, tôi nhìn lại lịch sử nước tôi với con mắt khác. Vài
người chế diễu công việc khảo cứu lịch sử và những bài tôi viết, cho rằng
tôi trở thành "bảo hoàng". Không, lịch sử nhà Nguyễn là một phần của lịch
sử Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đã gánh chịu chung một số mệnh, nhưng bi
thảm hơn, vì hoàng tộc là hoàng tộc, họ còn có phương tiện, và dân...thì
là dân, nghèo khổ và dốt chữ . Thời đại quân chủ chấm dứt tại Việt Nam năm
1945, với sự cáo chung của Bảo Đại. Chúng ta đang sống trong tư tường cộng
hòa với các giá trị như Độc Lập, Tự Do, Bình Đẳng và Nhân Ái.
Ba vị
vua nhà Nguyễn bị áp giải đi đày bởi chính quyền thuộc địa Pháp dưới thời
đệ tam Cộng Hòa Pháp là vua Hàm Nghi tại Alger (Algérie), Thành Thái và
Duy Tân tại đảo La Réunion trong vùng biển Ấn Độ Dương.
Lúc đi
đày, Hàm Nghi mới có 18 tuổi, Thành Thái 37 tuổi (bị quản thúc đã 9 năm
rồi) và Duy Tân 16 tuổi. Các vua còn trẻ, nhưng có can đảm chống lại sự
thống trị của chính quyền thực dân thuộc địa.
Đó là
một giai đoạn lịch sử giao thời giữa hai luồng ảnh hưởng văn hóa đối
nghịch, đó là ảnh hưởng của Trung Hoa và ảnh hưởng của Pháp, mà các thế
lực ảnh hưởng của tầng lớp quan lại trong triều đình theo xu hướng Trung
Hoa còn rất mạnh mẽ. Tiếng Hán của Trung quốc vẫn còn là chữ viết chính
thức của nhà Nguyễn. Mãi cho đến năm 1920, các khóa thi cuối cùng là vào
năm 1919, vua Khải Định mới bãi bỏ các kỳ thi chữ Hán (thi Hương, thi Hội,
thi Đình), chính thức mở đường cho chữ
"Quốc Ngữ“ viết theo m
ẫu tự la
tinh, mà các giáo sĩ Bồ Đào Nha, rồi sau đó Alexandre de Rhodes, Pigneau
de Béhaine và những nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã chuyển âm và phát triển
từ đầu thế kỷ thứ mười bẩy.
Sự can
đảm của ba vua được dân chúng kính trọng và thương mến. Tiếc thay, cả ba
vua đều bị phản bội và công việc kháng chiến không kéo dài được là bao
lâu.
Ngày
nay, sự tưởng niệm ba vua không thể được coi là một công việc đánh lạc
hướng dư luận, vì chính cùng một chiều hướng với tinh thần của Duy Tân,
người ta biết phân biệt ai là bạn của dân tộc Việt Nam – và những người
khác (những người Pháp yêu chuộng tự do và những người thực dân theo
Pétain). Tướng Decoux là một trong những trường hợp lạ lùng đã từ chối
không theo lời kêu gọi của phong trào nước Pháp Tự Do (France Libre), mà
dọn đường cho quân Nhật vào Việt Nam, đem lại những hậu quả
tang thương mà mọi người đều biết.
Sự lùng
bắt Hàm Nghi và Duy Tân xảy ra một cách bi thảm vì hai vua trẻ này đã rời
khỏi cung điện và cấm thành để đi kháng chiến. Trong mục đích cứu vua Duy
Tân khỏi bị Pháp xử tử, quan đại thần Hồ Đắc Trung, theo lời yêu cầu của
những người phụ tá vua đã bị bắt giam vào ngục, giảm trách nhiệm của Duy
Tân và đổ hết tội lỗi lên đầu các người phụ tá. Vì thế, Trần Cao Vân, Thái
Phiên, Tôn Thất Đề và Nguyễn văn Siêu của phong trào Việt Nam Quang Phục
Hội bị xử tử chém đầu, Duy Tân bị truất ngôi và đi đày khỏi xứ.
Các dấu
vết của các vua, sau thời Tự Đức, còn tìm thấy ở Pháp, ở Algérie và ở đảo
La Réunion. Những cuộc gặp gỡ các nhân vật, gọi là, có trong lịch sử, và
những công việc tham khảo tại chỗ đưa lịch sử nước tôi về gần hơn, sống
động hơn và hiện đại hơn.
Ông
Georges Vĩnh San và phu nhân, bà Monique, tiếp đón tôi niềm nở tại nhà
riêng. Vừa trông thấy ông bằng xương bằng thịt, tôi thấy ông thật có tướng
hoàng gia, có phẩm cách trang nghiêm nhưng khiêm tốn, nhất là hai tai to
như tai Phật, dấu hiệu của sự tốt bụng và rộng lượng. Giọng ông rất trầm,
đều đặn, và cách nói đơn giản, thành thật tăng thêm vẻ bình tĩnh, tự tin.

Georges
Vĩnh San là con trưởng của hoàng tử Vĩnh San và bà Fernande Antier, sinh
ngày 31 tháng một năm 1933 tại Saint Denis thuộc đảo La Réunion. Ông bà
Vĩnh San có bốn người con, ba gái một trai. Sau một thời gian sinh sống ở
đảo, ông bà trở về hưởng hưu tại Pháp.
Trước
khi tôi có dịp đặt câu hỏi về tên của ông, thì ông đã than thở về cái sự
rắc rối hành chánh này. Một sự luyến tiếc lớn, thổ lộ qua các câu...“ bà
biết không, tôi truyền lại cái tên này (Vĩnh San) cho các con tôi và cháu
tôi, nhưng năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa, sẽ không ai biết đấy vào
đâu...“

Hoàng tử Vĩnh San
Khi bị
giải đi đảo, vua Duy Tân trở lại thành hoàng tử Vĩnh San, bị chính quyền
thuộc địa ghi chép trong sổ sách hành chánh một cách đơn giản chỉ với tước
vị hoàng tử và tên gọi, hoàn toàn không cần biết đến tông tích của vua,
cũng không cần tìm hiểu danh tánh cho đúng.
Một
người bạn Pháp cũng than thở là các tên họ vua chúa Việt Nam sao rắc rối
quá và muốn tôi giải thích.
Georges
Vĩnh San đáng lẽ phải mang tên hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Ngọc Guy Georges.
Nguyễn
Phúc là họ của ông, xuất phát từ dòng nhà Nguyễn.
Bảo
Ngọc là tên gọi, Guy Georges là tên gọi theo tiếng Pháp.
Ai là
cha của Georges Vĩnh San ?
Kể từ
thời Minh Mạng, hoàng đế thứ hai, con của Gia Long, truyền lệnh đặt tên
con trai của vua theo thứ tự các chữ trong một bài thơ của ông, thì dân
chúng biết chữ theo dõi dễ dàng các đời vua kế nghiệp qua các tên họ .
Minh Mạng cũng đặt cho mỗi con của Gia Long một bài thơ, dùng theo cách
tương tự, coi như đặt ra các „phòng“ của dòng nhà Nguyễn.
Bài thơ
dùng cho dòng của Minh Mạng có tên
"Đế Hệ Thi“ gồm có bốn câu như sau:
Miên
Hồng Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương.
Thí dụ:
Tên gọi các hoàng tử gồm có hai chữ, chữ thứ nhất lấy theo thứ tự trong
bài thơ, xác định thế hệ của người đó.
Vua
Thành Thái tên là Nguyễn Phúc
Bửu Lộc
Vua Duy
Tân tên là Nguyễn Phúc
Vĩnh San
Ông Guy
Georges Vĩnh San tên là Nguyễn Phúc
Bảo Ngọc
Gia phả
họ Nguyễn bắt đầu từ thời Nguyễn Bặc năm 970. Nguyễn Bặc là Đinh Quốc Công
dưới triều nhà Đinh.
Đầu thế
kỷ thứ mười sáu, dưới thời nhà Lê Trang Tông, Nguyễn Kim xin vua Lê vào
nam để tránh sự ám hại của họ Trịnh (Hoành sơn nhất đái, vạn đại chung
thân, theo Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm). Như thế, kể từ năm 1533, Nguyễn
Kim khởi nghiệp dòng chúa Nguyễn. Trong vòng gần ba thế kỷ, các cuộc chiến
tranh liên miên giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn gieo
rắc nhiều khổ sở ai oán cho dân chúng, đồng thời làm suy yếu quyền lực của
triều đình nhà Lê.
Họ
Nguyễn Phúc xuất hiện lần thứ nhất với sự chào đời của một hoàng tử, con
của Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn thứ hai, ngày 16.08.1563. Một bà vương phi,
nằm mộng thấy thần cho chữ „Phúc“, đặt tên đứa trẻ mới sinh là Nguyễn Phúc
Nguyên (hoàng tử thứ sáu). Trở thành chúa Nguyễn thứ ba, Nguyễn Phúc
Nguyên truyền lệnh đặt Nguyễn Phúc làm họ cho tất cả các thế hệ sau mình,
để tránh nhầm lẫn với các dòng khác cũng mang họ Nguyễn.
Có hai
cách viết, ở miền Bắc viết
"Nguyễn Phúc“, ở Huế và trong Nam viết
"Nguyễn
Phước“, phần thì do ảnh hưởng của tiếng nói địa phương, phần thì theo tục
lệ tin dị đoan phải nói trại đi để tránh xui xẻo cho người mang tên.
Thêm
nữa, mỗi vua có cả thẩy năm tên. (Người ngoại quốc thường lẫn lộn và không
hiểu vì thế)
Một thí
dụ:
Tên
tục: Nguyễn Phúc Chiêu
Tên
hoàng tử: Nguyễn Phúc Bửu Lân
Tên
hiệu: Thành Thái (niên hiệu)
Tên
miếu: Hoài Trạch
Tên
vua: Công Hoàng Đế
Các nhà
sử học và dân chúng gọi các vua bằng niên hiệu.
Niên hiệu |
Tên tục |
Tên hoàng tử |
Thời gian trị vì |
Gia Long |
Nguyễn Phúc Noãn (Chũng) |
Nguyễn Phúc Ánh |
1802-1820 |
Minh Mạng |
Nguyễn Phúc Kiểu |
Nguyễn Phúc Đảm |
1820-1840 |
Thiệu Trị |
Nguyễn Phúc Tuyền |
Nguyễn Phúc Miên Tông |
1841-1847 |
Tự Đức |
Nguyễn Phúc Thì |
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm |
1847-1883 |
Dục Đức |
Nguyễn Phúc Ưng Ái |
Nguyễn Phúc Ưng Chân |
1883 |
Hiệp Hòa |
Nguyễn Phúc Thăng |
Nguyễn Phúc Hồng Dật |
1883 |
Kiến Phúc |
Nguyễn Phúc Hạo |
Nguyễn Phúc Ưng Đăng |
1883-1884 |
Hàm Nghi |
Nguyễn Phúc Minh |
Nguyễn Phúc Ưng Lịch |
1884-1885 |
Đồng Khánh |
Nguyễn Phúc Biện |
Nguyễn Phúc Ưng Kỷ |
1886-1888 |
Thành Thái |
Nguyễn Phúc Chiêu |
Nguyễn Phúc Bửu Lân |
1889-1907 |
Duy Tân |
Nguyễn Phúc Hoảng |
Nguyễn Phúc Vĩnh San |
1907-1916 |
Khải Định |
Nguyễn Phúc Tuấn |
Nguyễn Phúc Bửu Đảo |
1916-1925 |
Bảo Đại |
Nguyễn Phúc Thiển |
Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy |
1926-1945 |
Guy
Georges Vĩnh San thuộc vào đời thứ tám kể từ Gia Long, xuất thân từ giòng
hoàng tộc chính và là hậu duệ của ba vua Dục Đức – Thành Thái – Duy Tân.
Cha của ông là vua Duy Tân, ông nội là vua Thành Thái, ông cố nội là vua
Dục Đức.
Tất cả
vua nhà Nguyễn đều xuất thân từ dòng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Trong
suốt một thời gian 143 năm mười ba vua nhà Nguyễn đã vạch con đường định
mạng cho cả dân tộc Việt Nam.
Cần nói
đến ở đây một điểm nhỏ, thời đại các chúa Nguyễn kéo dài khoảng 250 năm
(1533-1777), cho đến khi Gia Long xưng Hoàng Đế năm 1802 thì các người kế
vị của Gia Long, không phải chỉ là
"vua“, mà là
"Hoàng Đế“. Như Nã Phá
Luân là Hoàng Đế, chứ không phải vua. Các chúa Nguyễn đã chiếm đất Chàm và
đất Chân Lạp (miền Nam Việt Nam, từ Bình Thuận xuống đến mũi Cà Mau) và
Gia Long đã thống nhất lãnh thổ Việt Nam (Đàng Trong luôn cả Đàng Ngoài),
lập thành một
"đế quốc“.
Trong
cách nói thông thường, thì người dân chỉ gọi đơn giản là
"vua“: vua Hàm
Nghi, vua Duy Tân...
Nhưng
sau khi Thiệu Trị qua đời, sự yếu đuối của Tự Đức (hoàng đế thứ tư của nhà
Nguyễn, 1847-1883) là một trong những nguyên nhân chính yếu đưa đến sự bảo
hộ hoàn toàn của thực dân Pháp (tôi đang viết một bài riêng về đề tài này)
và những biến động bi thảm trong triều đình nhà Nguyễn. Đáng tiếc thay,
tấm gương của Gia Long – một chiến sĩ bền bỉ nhất, thông minh nhất và mạnh
nhất lại không được các người kế vị noi theo.
Một
điều dễ hiểu là các vua, chúa đều cần người nối nghiệp nam phái và họ có
tất cả mọi quyền lực. Họ có rất nhiều vợ, rất nhiều con. Có thể tôi còn
nhầm lẫn trong các con số, nhưng thí dụ như Gia Long có 31 người con (13
trai, 18 gái), Minh Mạng có 142 người con (78 trai và 64 gái), Thiệu Trị
có 64 người con (29 trai và 35 gái). Sự lựa chọn người lên ngôi nối nghiệp
thường bị ảnh hưởng bởi áp lực cũng như các ý đồ thâm hiểm của các bà vợ
vua cũng như các quan đại thần. Vợ vua, có tước vị hay không có tước vị,
thường là con gái các quan đại thần. Một cô thôn nữ vừa đẹp vừa thông
minh, gặp gỡ một vị vua vừa mạnh mẽ vừa can đảm chỉ là một câu chuyện lãng
mạn, khác thường.
Tự Đức,
người có danh tiếng là độc ác và nóng nảy, không có con nối dõi, nhận ba
người cháu làm con nuôi: Dục Đức, Chánh Mông và Dưỡng Thiện.
Dục
Đức, ông cố nội của Georges Vĩnh San, là cháu nội của Thiệu Trị, con của
Hồng Y, một người con của Thiệu Trị và anh em của Tự Đức.
Lấy lý
do là Dưỡng Thiện, người con yêu quí còn nhỏ tuổi, Tự Đức chỉ định Dục Đức
nối ngôi, nhưng đồng thời trách Dục Đức là người „thiếu đạo đức“, và đặt
ba quan đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết
làm phụ chánh cho vua.
Di
chiếu của Tự Đức đồng nghĩa với bản án tử hình cho đứa con nuôi lớn nhất
của ông. Ba ngày sau khi Tự Đức qua đời năm 1883, hai quan đại thần Nguyễn
văn Tường và Tôn Thất Thuyết, thực chất nắm tất cả quyền bính trong tay,
đổi di chúc, phế bỏ Dục Đức, thay vào đó lập Nguyễn Phúc Hồng Dật, một
người em, của Tự Đức, hàng chú của Dục Đức lên ngôi. Hồng Dật trở thành
hoàng đế thứ sáu, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa.
Dục
Đức, hoàng đế thứ năm, bị giam trong học đường, rồi bị bỏ đói trong ngục
cho đến chết. Dân gọi ông là "Vua ba ngày“.
Trong
cùng năm đó, dưới quyền lực của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, triều
đình nhà Nguyễn ký hòa ước Quý Mùi ngày 23.07.1883 bởi Harmand, De
Champeaux, Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp.
Vua
Hiệp Hòa có ý muốn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và loại trừ hai quan đại
thần lộng quyền. Nhưng, Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã ra tay
trước. Với sự đồng ý của bà Hoàng mẹ, bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, vua Hiệp
Hòa bị bỏ thuốc độc chết, Tường và Thuyết đưa Dưỡng Thiện lên ngôi. Quan
phụ chánh thứ ba, Trần Tiễn Thành, vì không đồng ý với Tường và Thuyết
cũng bị giết chết.
Dưỡng
Thiện, tên là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con nuôi thứ ba của Tự Đức, lên ngôi
hoàng đế với niên hiệu là Kiến Phúc, nhưng thật sự hoàn toàn không có
quyền lực. Sau sáu tháng trị vì, đến lượt Kiến Phúc cũng bị loại trừ bằng
thuốc độc, chỉ thọ được có 16 tuổi.
Ba vị
vua bất hạnh, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc để lại trong lịch sử một giai
đoạn mà dân chúng gọi là „chín tháng ba vua“.
Hai
quan đại thần Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết chọn một hoàng tử nhỏ
tuổi lên kế vị, hầu dễ chi phối: Ưng Lịch, 12 tuổi.
Quan
toàn quyền Rheinart không đồng ý với sự lựa chọn này, đòi triều đình Huế
phải xin phép chính thức. Thống tướng Millot gởi đại tá Guerrier đem 600
quân lính và một đội pháo binh nặng vào Huế để hăm dọa triều đình. Cuối
cùng triều đình nhà Nguyễn phải trình một văn bản xin phép viết bằng tiếng
Hán và chấp nhận, lần đầu tiên trong lịch sử, là Guerrier
và Rheinart đi vào cửa chính của cung
điện, trước nay chỉ dành riêng cho hoàng đế, để tham dự lễ đăng quang của
Ưng Lịch, lấy niên hiệu là Hàm Nghi.
Đây là
một hành động sỉ nhục nặng nề mà triều đình nhà Nguyễn buộc lòng phải gánh
chịu.
Trong
khi đó, quan khâm sai Harmand và các tướng lãnh của quân đội Pháp Bouet,
Bichot, Courbet, Millot, Brière de l'Isle, De Négrier, Coronnat, Duchesne
tiếp tục tấn công miền Bắc (Tonkin). Các tỉnh Ninh Bình, Sơn Tây, Bắc
Ninh, Yên Thế (xem bài về Đề Thám, viết năm 2007), Thái Nguyên, Hưng Hóa,
Tuyên Quang lần lượt rơi vào tay chiếm đóng của Pháp.
Đồng
thời nước Pháp dùng thế lực ngoại giao để cô lập Việt Nam. Qua sự trung
gian của Détring, một người Đức tại Trung Hoa, Pháp thành công trong việc
thuyết phục Trung quốc cắt đứt tất cả mọi giúp đỡ quân sự cho Việt Nam.
Hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung quốc được ký ngày 18.04.1884 bởi
trung tá Fournier và Lý Hồng Chương (Trung quốc). Cũng qua hiệp ước này
Trung quốc chập nhận sự bảo hộ của Pháp
tại Việt Nam (Tonkin và Annam).
Bị cô
lập và dưới sức ép của chính quyền thực dân, triều đình nhà Nguyễn ký hòa
ước gọi là hòa ước Patenôtre, ngày 06.06.1884, bởi Patenôtre, Nguyễn Văn
Tường, Phạm Thuận Duật và Tôn Thất Phan. Chính hòa ước này đã cho Pháp
quyền thiết lập một chính quyền bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Kể từ
đây nước Việt Nam bị chia làm ba Kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ, cai trị
bởi ba đơn vị hành chánh khác nhau, sự di chuyển và chuyên chở trong ba kỳ
bị kiểm soát chặt chẽ, dân chúng muốn đi lại phải xin giấy thông hành.
Để xóa
tan một cách tượng trưng thời đại nhà Nguyễn và mối quan hệ lâu đời giữa
Việt Nam và Trung quốc, Patenôtre và
Courbet, tức tối vì không đem được bảo vật này về Pháp làm bảo vật chiến
thắng, đòi hỏi triều đình nhà Nguyễn phá hủy chiếc ấn „Việt Nam Quốc Vương
Chi Ấn“ của Trung quốc trao cho Gia Long năm 1804, khi Trung quốc công
nhận Gia Long là hoàng đế của một nước Việt Nam thống nhất suốt từ Bắc chí
Nam. Hai quan đại thần Tường và Thuyết ra lịnh nấu ch
ảy
chiếc ấn to mỗi bề khoảng 10 đến 12 phân, bằng bạc ròng bọc vàng nặng 5 kí
lô 900 trước sự hiện diện của Patenôtre và
Courbet vào ngày 30 tháng tám năm 1884.
Thêm
một lần nữa, một hành động nhục mạ nặng nề gây ra bởi Patenôtre
và Courbet mà người dân Việt không
quên được.
Thời
gian trôi qua, các trận đánh tiếp diễn.
Sau khi
bắt được Hàm Nghi vào tháng chín năm 1888, nhờ sự chỉ điểm của hai tên
phản bội, Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc, tướng de Courcy dụ hàng
được quan đại thần Nguyễn văn Tường. Hàm Nghi bị đưa đi đày ở Alger vào
cuối năm 1888, nhưng nhà vua trở thành biểu tượng của phong trào „Cần
Vương“ trong lịch sử. Nguyễn văn Tường và gia đình bị đem đi đày ở đảo
Tahiti. Ông chết dọc đường áp tải, xác bị vất xuống biển. Tôn Thất Thuyết
chạy sang Tàu, rồi chết già ở đấy. (Xem bài
Thonac và một bí ẩn của vua
Hàm Nghi – viết năm 2007). Hàm Nghi qua đời năm 1943 thọ 73 tuổi tại El
Biar, .
Đến
lượt hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ được Pháp đưa lên ngôi lấy niên hiệu là
Đồng Khánh. Nhưng vua Đồng Khánh, vì thái độ hợp tác với Pháp, bị dân
chúng khinh bỉ. Đồng Khánh cũng chỉ ở ngôi được có ba năm, qua đời ngày 28
tháng một năm 1889 vì điên loạn, được
25 tuổi. Sau này, hai hoàng đế Khải Định và Bảo Đại, hậu duệ của Đồng
Khánh, cũng hợp tác với chính quyền bảo hộ Pháp.
Sau đó,
quan toàn quyền Rheinard chỉ định người kế vị là hoàng tử Bửu Lân, 10
tuổi, con của Dục Đức, đang còn ở trong ngục chung với mẹ, và cho hai quan
đại thần Nguyễn trọng Hợp và Trương quang Đản làm phụ chánh.
Nguyễn
Phúc Bửu Lân trở thành hoàng đế thứ mười ngày 02.02.1889, lấy niên hiệu là
Thành Thái. Nhà vua là ông nội của Georges Vĩnh San.
Tám năm
sau, 1907, thấy thái độ chống đối của Thành Thái, chính quyền thực dân hạ
bệ Thành Thái và quản thúc nhà vua ở Vũng Tàu.
Thành
Thái có tất cả là 45 người con (19 hoàng tử và 26 công chúa). Lúc điểm
danh các hoàng tử kế vị thì khâm sai Lévecque thấy thiếu mất một mệ. Cậu
hoàng tử nhỏ, Nguyễn Phúc Hoảng, 7 tuổi, bị cận vệ đi lục và đem đến, nhem
nhuốc, mồ hôi nhễ nhại, trình Lévecque. Cậu hoàng tử đang mải chơi bắt dế. Thấy vẻ xơ xác, sợ hãi của
đứa trẻ, người Pháp nghĩ rằng, cậu ta sẽ trở thành một ông vua "dễ dạy“.
Cậu bé
Nguyễn Phúc Hoảng lấy tên hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San, và trở thành
hoàng đế Duy Tân, cha của Georges Vĩnh San.

Georges
Vĩnh San:
"
Cha tôi sinh năm 1898.
Ngài được 9 tuổi lúc đăng quang năm 1907. Nhưng trong ý nghĩ khởi đầu một
thời đại mới, năm sinh của Ngài được sửa lại cho trùng hợp với năm bắt đầu
của thế kỷ hai mươi, 1900, bởi vậy tuổi của Ngài được tuyên bố chính thức
là bẩy tuổi."
...
"
Cũng như các anh chị em tôi, tôi mang họ
mẹ, bà ANTIER, cho đến sau khi cha tôi qua đời ngày 16 tháng 12 năm 1945.
Một quyết định của tòa án vào ngày 22 tháng 7 năm 1946 công nhận chúng tôi
là con chính thức của hoàng tử Vĩnh San, nhưng đồng thời họ cũng làm ngơ
trước truyền thống đặt tên của triều đình An Nam. Cần nhấn mạnh ở đây, là
trong suốt khi sinh thời và cho đến khi qua đời, cha tôi xem như kết hôn
chính thức với cô Mai thị Vàng, người được phong đệ nhất vương phi, con
của quan Mai Khắc Đôn, một trong những phụ đạo của cha tôi. Hội đồng hoàng
tộc ở Huế luôn luôn từ chối lời yêu cầu xin công bố văn bản ly dị của cha
tôi. „
Khi cả
hai vua Thành Thái và Duy Tân, cha và con, bị áp giải đi đày trên đảo la
Réunion năm 1916, có ba bà trong hoàng tộc đi theo vua Duy Tân: bà Nguyễn
thị Định, mẹ vua, bà Mai thị Vàng, vợ vua và bà Lưỡng Nam, công chúa em
vua. Nhưng ít lâu sau, trong năm 1917, cả ba bà đều trở về Huế, bỏ lại Duy
Tân một mình.
....
„
Năm 1916 cha tôi là một người trẻ mới 18
tuổi (tuổi thật) và Mai thị Vàng 17 tuổi (bà sinh năm 1899) ! Thời gian
hai người chung sống với nhau rất ngắn. Nhưng Mai thị Vàng không thể có
con. Thêm vào đó, cuộc sống trên đảo la Réunion rất cực khổ vào thời ấy.
Cha tôi không được đón tiếp đàng hoàng và chỗ ở rất thiếu thốn. Chỗ ở của
ông không có lấy một vòi nước tắm. Bây giờ, căn nhà được sửa chữa nhiều
lần, làm đẹp, hiện đại hóa. Nhưng cha tôi không sống trong một khung cảnh
tiện nghi như thế.
Hơn nữa, cha tôi không hợp tính với cha của
Ngài (Thành Thái) và muốn sống tự lập, Ngài tách ra khỏi gia đình, thuê
một cái nhà khác. Lúc cha tôi quen biết với mẹ tôi, thì mẹ tôi còn rất
trẻ, mới có 14 tuổi, thời ấy. Cha tôi không có tuổi thơ, cũng không có
thời niên thiếu. Ngài không thể ra ngoài chơi bi, chơi trong các rãnh
nước, gặp bạn bè tán ngẫu... như mọi thanh thiếu niên khác. Trên đảo,
trong tình trạng lưu đày, thiếu thốn nhiều phương tiện, nhưng Ngài không
còn mang cái gánh nặng hoàng tộc và tìm được tự do...dù bị kiểm soát.
Nhiều lần, cha tôi bị cảnh cáo bởi viên toàn quyền, không nên ở ngoài quá
khuya, vì vấn đề an ninh cho Ngài.
Trong
cách kể của Georges Vĩnh San, tôi nhận thấy một sự thông cảm sâu xa của
một người con đối với cha của mình. Qua tuổi tác, kinh nghiệm và khoảng
cách với thời sự nóng bỏng, người ta thường có những cái nhìn khác về quá
khứ.
"Cha tôi chơi vĩ cầm, nhưng cái đam mê của
Ngài là truyền tin. Ngài thiết lập các thiết bị truyền tin nơi một chỗ
khác, ngoài căn nhà ở của gia đình, và Ngài thường ngồi say mê trước cái
máy truyền tin thâu đêm về sáng. Thường thường Ngài về nhà khoảng một, hai
giờ sáng và nhờ mẹ tôi đi mua một tô mì tàu. Người tàu bán mì suốt ngày
đêm, không ngơi nghỉ. Là một chuyên viên vô tuyến điện, Ngài sửa chữa tất
cả các loại máy phát thanh, và đôi khi luôn cả máy chiếu phim.
Năm 1940 cha tôi bắt được hiệu triệu kháng
chiến của de Gaulle. Ngài bèn gọi tất cả các bạn hữu và nói rằng: „ Tôi
không quen biết de Gaulle, nhưng nên theo ông, vì ông đi đúng hướng.“ Cha
tôi rất thân thiết với nước Pháp, nhưng không phải một nước Pháp của
Pétain.“
Hoàng
tử Vĩnh San bị nhốt trong một trạm y tế, nơi mà người ta nhốt người điên,
trong vòng 40 ngày bởi những nhân vật chính quyền theo chính phủ Vichy
trên đảo.
Nhiều
nhà sử học đã viết về sự tham dự của hoàng tử Vĩnh San trong phong trào
kháng chiến Pháp France Libre. Hoàng tử Vĩnh San được cấp huân chương
kháng chiến Pháp.
Cuộc
gặp gỡ lịch sử của hoàng tử Vĩnh San với tướng de Gaulle diễn ra vào ngày
14 tháng 12 năm 1945 trong vòng khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng nội dung
của cuộc gặp gỡ này không hề được thông báo. Tướng de Gaulle cũng không hề
có chỉ thị về cuộc gặp gỡ này cho bộ phận sĩ quan tùy tùng.
Rất vui
mừng về sự trở về Việt Nam, cùng với tướng de Gaulle, dự kiến vào tháng ba
năm 1946, hoàng tử Vĩnh San đã thông báo tin này cho người thân cận. Cựu
hoàng Duy Tân, với những ý tưởng mới, xứng với tên hiệu của ông, Duy Tân
có nghĩa là „bước vào thời đại mới“, hy vọng rằng, con đường kế thừa nhà
Nguyễn sẽ được tiếp nối với những cải tổ hiện đại.
Tai nạn
máy bay trên đường trở về đảo la Réunion, tìm thấy trên ngọn đồi La Lobaye
cách M'Baiki 35 cây số ngày 25 tháng 12 năm 1945 (Giáng sinh), đã chôn vùi
với hoàng tử Vĩnh San mọi ước mơ và hy vọng của triều đại nhà Nguyễn. Duy
Tân, người thông thạo hai thứ tiếng, Hán và Pháp, hấp thụ hai nền văn hóa
khác biệt, đã để lại bản di chúc chính trị, xuất bản năm 1947.
Sau khi
tai nạn xảy ra, thân xác của Duy Tân được chôn cất ngày 26.12.2945 bởi
Hiệp hội công giáo tại M'Baiki, nước Cộng Hòa Trung Phi (Phi Châu).
Georges
Vĩnh San:
"Năm
1993 tại
San José ở Californie trong buổi ra mắt
cuốn sách của ông Hoàng Trọng Thược“ với tựa đề „Hồ sơ vua Duy Tân“ và lễ
tưởng niệm sau đó, khi tôi nhìn thấy nước mắt rưng rưng của những người
tham dự buổi lễ, nỗi xúc cảm của tôi cũng dâng lên như họ, mà tôi cũng
không che dấu được.“
De
Gaulle rời chính quyền vào ngày 20 tháng một năm 1946, chưa đầy một tháng
sau cái chết của vua Duy Tân. Về phía Pháp, hồ sơ Duy Tân được đóng lại.
Bốn
mươi hai năm sau, hài cốt của Duy Tân được bốc từ nghĩa địa ở M'Baiki và
chuyển về Huế. Lễ quốc táng long trọng được cử hành ngày 06 tháng tư năm
1987 tại Huế. Georges Vĩnh San và các em tham dự buổi lễ trọng thể này tại
cung điện hoàng gia tại Huế. Duy Tân an nghỉ vĩnh viễn tại An Lăng, nơi có
mộ phần của cha là Thành Thái và ông nội là Dục Đức.
Duy
Tân, bị truất phế bởi Pháp, nhưng không bao giờ cáo vị, vẫn còn là hoàng
đế, điều mà chính Duy Tân đã nêu lên.
Bác sĩ
Didier FAGNEN viết dưới tựa đề "Hoàng đế Duy Tân. Một niềm hy vọng lớn của
Indochine – Général de Gaulle " trên trang trên mạng của Hội các Bác sĩ
của Việt Nam ngày 10.10.2006 như sau:
Đại tướng de Gaulle có nhiều cảm tình trân
trọng đối với Ông, và quyết định sau khi đại chiến kết thúc, năm 1945, sẽ
đem Hoàng tử về Pháp, hiện còn đang ở trên đảo La Réunion.
„Nếu hoàn cảnh trở nên thuận tiện tôi ôm ấp
một hoài bão bí mật. Đó là dự tính đem lại cho cựu hoàng Duy Tân những khả
năng tái xuất hiện nếu người kế vị và cùng hoàng tộc với Ông là Bảo Đại,
không thể theo kịp sự việc tiến triển. Đây là một nhân vật mạnh. Ba chục
năm lưu đày không xóa mờ kỷ niệm của dân tộc Việt Nam đối với vị vương
quyền này“, de Gaulle viết như thế.
Đại tướngde Gaulle giải thích cho đại tướng
de Boissieu rằng hoàng tử Vĩnh San chiếm một vị trí quan trọng vì ông muốn
cân bằng thế lực của triều đình Lào và Cam Bốt khi tái lập lại ngôi vua ở
Huế, một điều danh chính ngôn thuận, và ông cho rằng Bảo Đại quá mềm yếu
và không được lòng dân.
Ngày 25 tháng chín năm 1945, hoàng tử được
thăng chức trưởng đơn vị. Cùng lúc hoàng tử có những suy nghĩ về tương lai
của Việt Nam và đưa ra ba ý kiến chính yếu:
-
Thống nhất ba Kỳ (Tonkin- Annam-
Cochinchine)
-
Độc lập tối cùng, sau một thời gian chuẩn
bị, giao thời
-
Liên hợp chặt chẽ với nước Pháp trong khuôn
khổ một Liên Hiệp Đông Dương (cùng với Lào và Cam Bốt), mà nước Pháp lãnh
trọng trách bảo vệ quân sự và ngoại giao.
Đại tướng de Gaulle đồng ý với chữ "tối
cùng“ nhưng muốn thảo luận thêm về giai đoạn chuẩn bị giao thời. Ông tiếp
hoàng tử Vĩnh San vào ngày 14.12.1945 và cả hai có vẻ cùng đồng ý về những
điểm chính.
Hoảng tử viết sau buổi gặp gỡ này: „Xong
rồi, mọi việc đã được quyết định, chính quyền Pháp đưa tôi trở về ngai
vàng Annam. De Gaulle sẽ đi cùng với tôi khi tôi trở lại nơi ấy, có thể là
trong những ngày đầu của tháng ba 1946. Từ giờ đến đó, sẽ tổ chức thông
báo dư luận của Pháp và Đông Dương; ngày mai đây, tại Huế, Hà Nội, Saigon,
hai lá cờ sẽ phất phới bên nhau: lá cờ ba màu của Pháp và lá cờ của Việt
Nam với ba sọc ngang tượng trưng cho ba miền“.
Hoàng từ hãnh diện "sẽ trở về quê nhà của
mình như khi de Gaulle trở về Bayeux“.
Nước
Pháp suy yếu và trở thành vô tổ chức sau thời gian bị Đức Quốc Xã chiếm
đóng trong đại chiến thứ hai 1939-1945. Trong khi de Gaulle, Sainteny và
Leclerc tìm kiếm và tìm thấy một giải pháp hòa bình về chủ đề một Việt Nam
độc lập, tự do trong Liên Hiệp Pháp, thì lời tuyên bố thừa thãi và vụng về
của đô đốc Thierry d'Argenlieu thành lập chính phủ Cộng Hòa Cochinchine
(la république de Cochinchine) vào ngày 01.06.1946, gần sáu tháng sau khi
de Gaulle từ chức, đã làm bùng cháy ngọn lửa chiến tranh, chỉ được dập tắt
tám năm sau.
Một
cuộc tranh cãi về lịch sử bắt đầu từ đó và cũng chứa chấm dứt, trên câu
hỏi là có phải đô đốc d'Argenlieu chỉ tuân theo mệnh lệnh của de Gaulle,
hay d'Argenlieu tự ý quyết định, lãnh tránh nhiệm lịch sử, sau khi de
Gaulle không còn quyền lực, năm 1946. Những người trung thành với trường
phái chính ttị của de Gaulle đưa ra lập luận, de Gaulle, một khi đã rời
khỏi chính quyền, đã không còn quyết định về nhưng vấn đề chính trị đang
diễn ra hay sắp diễn ra, như ông đã có cùng một thái độ năm 1969.
Hai chi
tiết lịch sử khác làm tăng thêm một sự nuối tiếc cho một giải pháp hòa
bình, đã không thực hiện được trong giai đoạn ấy: Sainteny là người có
nhiều tình cảm thân hữu với chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng Leclerc, một
thiên tài quân sự, vậy mà lại chủ trương ưu tiên cho một giải pháp ngoại
giao và chính trị !
Trận
chiến Điện Biên Phủ bắt đầu ngày 13 tháng ba năm 1954 và chiến thắng mang
tên đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngày 15 tháng năm 1955 thì toán lính Pháp
cuối cùng rời khỏi mảnh đất Việt Nam vĩnh viễn. Kể từ khi Rigault de
Genouilly tấn công vào cảng Đà Nẵng năm 1847 thì công cuộc xâm lăng bảo hộ
của chính quyền thực dân Pháp tại Việt Nam đã kéo dài 108 năm.
Vinh
San, một cái tên lịch sử đè nặng lên các hậu duệ của nhà vua, nhưng không
thể bị quên lãng !
©MathildeTuyetTran, France 01.05.2008