|
Trần Thủ Ðộ (1194 - 1264)
Trần Thủ Độ là nhân vật trụ
cột của triều Trần. Ông là công thần
sáng lập triều Trần và là người
thực tế nắm quyền lãnh đạo đất
nước những năm đầu triều
Trần, khoảng gần 40 năm (1226-1264). Sử
chép: "Thái Tôn lấy được thiên hạ
đều là mưu sức của Thủ Độ
cả, cho nên nhà nước phải nhờ
cậy, quyền hơn cả vua". (*)
Trần Thủ Độ cũng là nhân vật
bị các sử thần thời phong kiến chê trách
nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần
Thủ Độ hiện ra như một quyền
thần vô học, có tài mà không có đức, có
công với nhà Trần, lại có tội với nhà
Lý. Nhưng khi chép về việc "Trần
Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý"
trong Đại Việt sử ký toàn thư; Ngô Sĩ
Liên cũng chú trong ngoặc đơn là
"việc này chưa chắc đã có
thực".
Nhân dân lại đánh giá ông với cách nhìn khác
quan điểm Nho giáo. Trong đền thờ ông trên
đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có hai câu đối
treo ở trước bàn thờ như sau:
Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách
tải.
Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên
đệ nhất lưu.
(Công đức của ông để mãi đến
ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm
đời nhà Trần.
Sau nghìn đời, công luận đã định,
ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới
trời Nam). (**)
Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần
(1194) ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên,
lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng
Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên ông vốn nối
đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông
Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước
Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng
(thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang
ở vùng Bát Xá - Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông)
cạnh dòng sông Luộc. Đến đời thân
phụ của Trần Thủ Độ và nguyên
tổ Trần Lý của nhà Trần thì họ
Trần trở nên giàu có, người ở quanh vùng
quy phụ, "...nhân có nhiều người cũng
nổi lên làm giặc". Nhất là từ khi
Trần Lý có người con gái là Trần Thị
Dung lấy Hoàng Thái tử Sảm (sau là vua Lý
Huệ Tông) thì thanh thế càng lớn. Trần
Thủ Độ cùng với những người
con ưu tú khác của họ Trần sớm tham gia
lập các đội hương binh đi đánh
dẹp các thế lực cát cứ khác, lúc đầu
nhằm khôi phục cơ nghiệp cho nhà Lý. Năm
1224, ông được nhà Lý phong làm Điện
tiền chỉ huy sứ, quản lý các đạo
quân bảo vệ kinh thành. "Thủ Độ
tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn
người, làm quan triều Lý được
mọi người suy tôn".
Ông mất tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 71
tuổi. Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn
tiểu lục: "Trần Thủ Độ sau khi
chết, chôn ở địa phận xã Phù
Ngự, huỵện Ngự Thiên, nơi để
mả có hồ đá, dơi đá, chim đá và bình
phong bằng đá, chỗ đất ấy
rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm.
Về tư điền, trước vẫn
liệt vào hạng thượng đẳng, các
quan phủ, huyện, huấn, giáo đến kính
tế".
Trần Thủ Độ là người có bản
lĩnh và cá tính khác thường. Ông xử lý
việc gì cũng thẳng thắn, thường
quyết đoán theo ý chí của mình, ít chịu
để cho tình cảm sai khiến. Cuộc đời
và sự nghiệp của Trần Thủ Độ
gắn liền với nghiệp đế của
họ Trần. Nhưng hiệu quả lịch
sử những việc ông làm đã đưa nước
nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và
khởi dựng nên thời đại Đông A
rực rỡ những chiến công oanh liệt
chống ngoại xâm và những thành tựu xây
dựng đất nước.
Cuối triều Lý, chính quyền trung ương
bất lực trước cuộc suy thoái về
kinh tế và hỗn loạn về chính trị. Thiên
tai, mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp. Các
thế lực cát cứ nổi lên khắp nơi
đánh giết lẫn nhau, cướp bóc bừa bãi.
Ngoài biên thùy, Chiêm Thành và Chân Lạp thường
xuyên quấy phá. Đế quốc Mông Cổ cũng
đã tung vó ngựa sang phía Đông đánh Kim,
diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, chuẩn
bị xâm lược Tống và các nước phía
Nam.
Trong lúc ấy, vua Lý Cao Tông vẫn mải mê rong chơi,
say đắm thanh sắc, thích xây dựng cung điện,
đền miếu, không thiết gì đến chính
sự. Vua Lý Huệ Tông thì nhu nhược,
bệnh hoạn, năm Giáp Thân (1224) truyền ngôi
cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 6 tuổi rồi
đi tu ở chùa Chân giáo.
Trần Thủ Độ đạo diễn
cuộc chính biến tháng Chạp năm ất
Dậu (tức tháng 1-1226), xếp đặt
việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là
Trần Cảnh với lời lẽ trong chiếu
nhường ngôi rằng: "...Trẫm là nữ
chúa, tài đức đều thiếu, không có người
giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như
ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng
nề".
Làm cuộc đảo chính thay đổi triều
đại mà không xảy ra đổ máu và đảo
lộn lớn trong nước, Trần Thủ Độ
tỏ ra là một nhà chính trị sáng suốt, khôn
khéo.
Ngay sau khi lên làm vua, Trần Thái Tông phong Trần
Thủ Độ làm Quốc thượng phụ
nắm giữ mọi việc cai trị thiên
hạ. Năm sau lại phong Trần Thủ Độ
làm thái sư giữ tất cả việc hành quân,
đánh dẹp trong nước. Ông là một nhà lãnh
đạo tài giỏi và tận tụy chăm lo
việc nước. Phàm công việc gì làm cho đế
nghiệp Đông A vững mạnh, ông đều cương
quyết làm bằng được. Năm 70
tuổi, trước lúc chết 5 tháng, sử còn
chép việc ông đi tuần ở vùng biên
giới Lạng Sơn. "Thủ Độ tuy làm
tể tướng mà phàm công việc, không
việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên
vương nghiệp, giữ được
tiếng tốt cho đến lúc mất".
Ngay từ những năm đầu triều
Trần, ông đã đánh dẹp được các
thế lực cát cứ ở các địa phương
và tổ chức lại bộ máy hành chính từ
trung ương đến cấp xã. Ông đặt
ra sổ trướng tịch ghi chép danh sách dân
gian trong xã, thôn, từ quan văn, quan võ, binh lính,
hoàng nam, trung lão, tàn tật, người ngụ cư...
để nắm chắc hộ khẩu trong nước.
Có lần duyệt định hộ khẩu, bà
Linh Từ quốc mẫu muốn xin riêng cho một
người làm câu đương (một chức
dịch trong xã). Ông gật đầu, rồi ghi tên
họ, tên quê quán. Khi xét đến xã ấy,
hỏi tên ấy đâu, người ấy
mừng rỡ chạy đến. Trần Thủ
Độ nói: "Ngươi vì có công chúa xin cho
được làm câu đương, không thể
ví như những câu đương khác được,
phải chặt một ngón chân để phân
biệt". Người ấy kêu van xin thôi,
hồi lâu mới tha cho. Từ đấy không ai dám
đến thăm vì việc riêng nữa.
Ông đề cao tư tưởng pháp trị,
định ra luật lệ, quy chế hành chính và
gương mẫu thực hiện. Sử còn chép
chuyện Linh Từ quốc mẫu có lần
ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm
bị người quân hiệu ngăn lại.
Về nhà bà khóc bảo với Trần Thủ
Độ rằng: "Mụ này làm vợ ông mà
bọn quân hiệu ấy khinh nhờn như
thế". Thủ Độ giận sai đi
bắt. Người quân hiệu ấy chắc là
phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ
vặn hỏi trước mặt, người quân
hiệu đem sự thực trả lời. Thủ
Độ nói: "Ngươi ở chức
thấp mà biết giữ phép nước như
thế, ta còn trách gì nữa". Rồi lấy vàng
lụa thưởng cho người ấy.
Là người có công dựng nước, có tài
trị nước, vua cũng ít khi dám trái ý.
Bấy giờ có người đàn hặc ông, vào
gặp Thái Tông, khóc mà nói rằng: "Bệ
hạ trẻ thơ mà Thủ Độ quyền hơn
cả vua, đối với xã tắc sẽ ra
sao?". Vua lập tức cùng người ấy
đến nhà Trần Thủ Độ và nói
lại chuyện đó. Trần Thủ Độ
trả lời: "Đúng như lời người
ấy đã nói", rồi lấy tiền lụa
thưởng cho người ấy.
Trần Thái Tông vì quý trọng Thủ Độ nên
muốn dùng anh ruột ông là An Quốc làm tể tướng.
Ông thẳng thắn nói với vua: "An Quốc là
anh thần, nếu là người hiền thì
thần nên nghỉ việc, nếu cho thần là
hiền hơn An Quốc thì không nên cử An
Quốc. Nếu anh em cùng là tể tướng thì
việc trong triều đình sẽ ra sao". Vua bèn
thôi.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất
chống quân xâm lược Mông Cổ, Trần
Thủ Độ có vai trò hết sức quan
trọng. Tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng
1-1258), quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước
Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu
vực sông Hồng. Thế giặc rất mạnh.
Quân Đại Việt bị đánh lui, vua Thái Tông
phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam. Vua
ngự thuyền nhỏ đến thuyền em
ruột là Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi
kế. Nhật Hạo lấy ngón tay chấm nước
viết hai chữ "Nhập Tống" ở
mạn thuyền, ý khuyên vua nên chạy sang nhờ
vả nước Tống. Vua bèn rời thuyền
đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ,
Trần Thủ Độ trả lời:
- Đầu tôi chưa rơi xuống đất,
xin bệ hạ đừng lo!
Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến, câu
trả lời đanh thép ấy của ông đã
giữ vững được tinh thần dám đánh
và quyết thắng của quân dân Đại
Việt trong cuộc phản công quyết liệt
đánh vào Đông Bộ Đầu ngày 29-1-1258,
buộc địch phải rút chạy về nước.
Trần Thủ Độ xứng đáng được
xếp vào hàng những nhân vật kiệt
xuất, đi đầu trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước trong
lịch sử dân tộc.
Hà Ân - Trần Quốc Vượng
(*) Các đoạn trích dẫn không ghi dấu đều
lấy ở sách Đại Việt sử ký toàn
thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
1967, Tập I-II.
(**) Theo tài liệu của cụ Hoa Bằng lưu
tại Viện sử học
|