Trần Nhật Duật (1254 - 1330)
Danh tướng và vương tử tài hoa
Lịch sử Việt Nam đời Trần ghi đậm rõ nét của bao anh hùng tuấn
kiệt như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Trần
Khánh Dư, Trần Nhật Duật.. Mỗi người có những sắc thái riêng
biệt, tất cả tạo thành một dãy ngân hà soi sáng trong vòm trời
đât Nam. Riêng Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, không những là
một tướng tài chống Nguyên-Mông mà là một trong những nghệ sĩ
danh tiếng nhất đời Trần.
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là con thứ sáu của vua Trần Thái
Tông, tuy là vương tử nhưng đời sống rất xuề xòa, phóng khoáng,
dễ tiếp xúc và không câu nệ. Chúng ta biết ông nhiều trong lịch
sử kháng chiến chống nhà Nguyên-Mông Cổ xâm lăng lần thứ hai ở
trận Hàm Tử (cửa Hàm Tử, Khoái Châu, Hải Hưng). Ông chỉ huy trận
chiến thắng lừng lẫy này dọn đường cho trận chiến thắng Chương
Dương của các danh tướng Trần Quang Khải và Trần Quốc Toản. Thái
sư Trần Quang Khải đã đề bạt trong niềm vui sướng quê hương hết
bóng thù:
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ cửu giang san
(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước cũ nghìn thu)
Làm quan trải qua bốn đời vua làm đến chức Thái sư nhưng lúc nào
cũng có tinh thần phóng khoáng và độ lượng. Ông là một nhà nghệ
sĩ giỏi và rất say mê âm nhạc, đã sáng tác rất nhiều khúc nhạc,
lời ca, điệu múa. Ở dinh ông không ngày nào không mở cuộc chèo
hát hay bày trò chơi, thế mà không ai cho ông là say đắm niềm
vui mà quên công việc (1).
Giỏi âm nhạc, ông cũng có niềm say mê đặc biệt các ngôn ngữ nước
ngoài, rất thích chơi với người nước ngoài, tìm hiểu phong tục,
tập quán, văn hóa và triết lý của ho. Từ Thăng Long, ông thường
cưỡi voi đến chơi thôn Đa-da-li - một thôn gồm người Việt gốc tù
binh Chăm Chiêm Thành (Champa) , sau gọi trệch là thôn Bà Già,
có lẽ ở mạn Cổ Nhuế, Từ Liêm - có khi ba bốn ngày mới về. Văn
hóa Chăm nhất là về âm nhạc, triết lý không những lôi cuốn ông
mà có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội, văn hóa Việt Nam trong
các triều đại Lý, Trần. Các điệu nhạc cung đình, chèo và quan họ
trong dân gian đều có nguồn gốc ảnh hưởng từ văn hóa Chăm Chiêm
Thành (2) (3). Một số kiến trúc chùa đình thời Lý-Trần trong
giai đoạn này cũng có mang nét ảnh hưởng kiến trúc Chiêm Thành
như một số hình tượng chim thần Garuda (3). Triết và đạo lý giữa
hai dân tộc Việt Nam-Chiêm Thành cũng giao lưu và ảnh hưởng
nhau. Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông lúc về hưu cũng đã thân
hành không ngại đường xa qua Chiêm Thành bàn bạc, học hỏi và
sống chung như anh em với vua quan Chiêm Thành trong một thời
gian (2).
Nhà nghệ sĩ Trần Nhật Duật có tiếng là người học rộng, thiệp
liệp sử sách nhất kinh thành và rất ham thích đạo giáo, thường
khi mặc áo lông và đội mũ giống như đạo sĩ. Ông tìm hiểu triết
lý của nhiều dân tộc khác ngoài Chiêm Thành. Ông hay đến chơi
chùa Tương Phụ, nói chuyện với nhà sư người Tống, ngủ lại rồi
về.
Khách nước ngoài đến kinh sư, thường được ông mời đến chơi nhà,
nếu là người Tống, thì ngồi đối nhau, đàm luận suốt ngày. Sử gia
Nguyên triều (Mông Cổ) tưởng ông là người Chân Định (Hà Bắc,
Trung Quốc) chính cống. Nếu là người Chiêm hay người các dân tộc
khác, ông đều theo quốc tục của họ mà tiếp đãi vì ông đã hiểu và
tiếp thu văn hóa của ho.
Khi nhà Tống mất, năm 1274 Hồi Hột, đem 30 thuyền cùng binh
lính, vợ con đến Đại Việt xin thần phục. Tất cả đều được phép ở
kinh thành. Có người như Trần Trọng Vi được Thánh Tông trọng
đãi, quyết tâm “Lưu lạc thà làm ma nước Việt”, chết đi được vua
làm thơ điếu (4). Sau này trong quân của Trần Nhật Duật chống
Mông Cổ có đạo quân Tống với quân phục Nam Tống dưới trướng. Khi
quân Mông giáp trận với Trần Nhật Duật, các tướng sĩ Mông Cổ
ngạc nhiên và sợ hãi tưởng nhà Tống đã trở lại. Đây là một tác
động tâm lý đánh vào quân Nguyên Mông Cổ và quân cựu-Tống dưới
quyền Nguyên góp phần vào sự thua trận của quân Mông ở các trận
như Hàm Tử mà Trần Nhật Duật lãnh đạo.
Năm 1280, vua quan Triều thần được tin chúa đạo Đà Giang, miền
núi Tây Bắc, Trịnh Giác Mật tụ họp dân nổi lên chống lại triều đình. Lúc này nhà
Nguyên cũng đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt. Đất nước đang trong tình trạng
khẩn trương trước hiểm họa ngoại xâm lớn lao. Để tập trung tâm trí và sức lực
đối phó với quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm An phủ sứ Đà
Giang để giải quyết gấp rút sự cố nghiêm trọng này. Vị vương tử trẻ mới 27 tuổi
này, dưới cờ hiệu "Trấn thủ Đà Giang", làm lễ ra quân lên đường đi Tây Bắc. Ông
đã chinh phục tù trưởng Trịnh Giác Mật bằng phong tục "ăn bằng tay, uống bằng
mũi" và được các dân tộc miền núi yêu mến như sau:
Biết được quân triều đình đến, chúa Đà Giang là Trịnh Giác Mật
định ám hại nên sai người đưa thư dụ Trần Nhật Duật rằng: "Giác
Mật không dám trái lệnh triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa
đến gặp, Giác Mật xin ra hàng ngay". Muốn thu phục được Giác
Mật, Trần Nhật Duật mặc các tướng can ngăn, một mình một ngựa
đến gặp chúa Đà Giang, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp đi
hầu. Thản nhiên đi giữa rừng gươm giáo và đám lính dân tộc miền
núi sắc phục kỳ dị cố ý phô trương để uy hiếp, Trần Nhật Duật
nói với Giác Mật bằng chính ngôn ngữ và theo đúng phong tục rất
ngan ngạnh chí khí của dân tộc vùng Đà Giang:
“Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đây thì
nóng tai phải.”
Trịnh Giác Mật và các đầu mục đều kinh ngạc trước sự am hiểu
tiếng nói và tục lệ của Trần Nhật Duật. Khi mâm rượu, có bầu
rượu và dĩa thịt nai muối, được bưng lên, Trịnh Giác Mật đưa tay
mời có ý thách thức. Ông không chút ngần ngại cầm thịt ăn rồi
vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm gáo rượu bầu từ từ dốc vào mũi hết
sức thành thạo như người địa phương. Trịnh Giác Mật kinh ngạc
thốt lên: "Chiêu Văn Vương là anh em với ta".
Trần Nhật Duật đáp lại "chúng ta từ xưa nay vẫn là anh em". Trần
Nhật Duật sai tiểu đồng mở tráp lấy ra những chiếc vòng bạc trao
cho từng đầu mục Đà Giang. Những người cầm đầu đạo Đà Giang hoan
hỉ đón lấy tặng phẩm kết nghĩa theo đúng tục lệ của họ từ tay
Trần Nhật Duật mà họ vừa nhận làm anh em. Đà Giang đã được quy
thuận như thế: không đổ một giọt máu, không mất một mũi tên.
Trong chuyến đi trấn an Đà Giang này, Trần Nhật Duật cũng được
một người Mường tên là Ma Văn Khải tặng một quyển sách dật sử
viết bằng Man ngữ do tổ 5 đời là Ma Văn Cao soạn nói về cuộc đời
của người Thổ tên Hoàng Quỳnh dưới triều Lý Thần Tông. Trần Nhật
Duật sau này dịch từ Man ngữ ra chữ Hán với nhan đề “Lĩnh Nam
dật sử” năm 1297. Đây là một bộ sách viết theo lối tiểu thuyết
dài Trung hoa rất ly kỳ chia ra làm 28 hồi, giống như tiểu
thuyết kiếm hiệp hiện đại, rất có giá trị về phương diện dân
tộc, địa lý tư tưởng và văn hóa học (6). Trần Nhật Duật sau đó
đã cùng Trịnh Giác Mật và vợ con về kinh thành gặp vua (5).
Thời vua Trần Nhân Tông, sứ giả sứ Sách Ma Tích (?, có lẽ là Sri
Vijaya ở vùng đảo Sumatra) sang cống, không tìm được người phiên
dịch. Cả Thăng Long chỉ có một minh Trần Nhật Duật dịch được. Đó
là vì từ thời Thượng hoàng Trần Thái Tông, chàng vương tử Trần
Nhật Duật đã chịu khó giao du với họ và học được tiếng nước họ
rồi. Vua Nhân Tông thán phục, thường nói đùa: "Chiêu Văn vương
có lẽ không phải người Việt mà là hậu thân của giống Phiên,
Man".
Khi đã làm tể tướng, ông vẫn thường đến chơi nhà người Hoa kiều
là Trần Đạo Chiêu, nói chuyện phiếm với nhau hàng giờ. Theo lệ
cũ, sứ giả nước ngoài đến Thăng Long, tể tướng tiếp sứ không
được cùng ngồi nói chuyện, phải thông qua một người phiên dịch,
sợ hoặc có sự gi lầm lỗi thì đỗ cho người phiên dịch. Trần Nhật
Duật thì không thế, mỗi khi tiếp sứ Nguyên đều nói chuyện trực
tiếp, không muốn người phiên dịch. Đến khi sứ về nơi nghỉ thì
dắt tay nhau cùng vào, ngồi uống rượu vui vẻ như bạn bè. Điều
này chứng tỏ đặc tính con người nghệ sĩ của ông khi chúng ta
biết rằng cách đó không lâu ông đã cầm quân chống Nguyên Mông Cổ
xâm lăng. Trong số những người Tống đến ở Đại Việt có người
phường hát tên Lý Nguyên Cát mang đến đất Việt lối “tuồng
truyện”. Lý Nguyên Cát thường đến dinh của Trần Nhật Duật chơi,
nơi mà “không ngày nào không mở cuộc hát xướng, làm trò”. Lối
hát này sau được truyền vào cung vua và con của người đào hát
tên Dương Nhật Lễ (con nuôi của thái tử đời vua Trần Minh Tông)
được lên làm vua trong thời gian ngắn (4). Dương Ngọc Lễ suýt
lật đổ triều Trần sớm hơn 30 năm, nếu không nhờ Trần Nghệ Tông
rút về trấn Đà Giang nơi Trần Nhật Duật đã thu phục trước đây,
để từ đó khôi phục lại ngôi vua cho nhà Trần.
Trần Nhật Duật là người nhã nhặn độ lượng, mừng giận không lộ ra
sắc mặt. Trong nhà không hề chứa roi vọt để đánh đầy tớ. Cũng có
khi ông đánh, thì trước hết kể tội lỗi rồi sau mới đánh. Mặc dầu
tài hoa phóng khoáng nhưng trong việc nước ông rất trung thực và
thẳng thắng. Việc nước và việc cá nhân là hai việc riêng biệt
không thể để lẫn lộn. Vợ ông là Trịnh Túc phu nhân từng có việc
nhờ cậy nói riêng với ông ở nhà. Ông giả tảng gật đầu. Đến khi
ra phủ, người thư ký đem việc ấy trình với ông, ông không cho.
Để kết thúc về con người của ông, có một câu chuyện như sau. Có
một lần có người kiện kẻ gia tỳ (người đầy tớ gái) của ông với
Quốc Phụ (có lẽ là Huệ Vũ Đại Vương Trần Quốc Chân). Quốc phụ
sai gia đồng đến bắt người đầy tớ. Cô đầy tớ gái chạy vào trong
phủ tể tướng, người đi bắt đuổi đến nhà giữa, bắt trói, ầm ỉ. Vợ
ông khóc nói: " Ông là tể tướng mà bình thường cũng là tể tướng,
chỉ vì ông nhân nhu quá cho nên người ta mới khinh thường đến
thế thôi". Trần Nhật Duật vẫn tự nhiên chẳng nói lại câu gì, chỉ
khẽ sai người bảo người đầy tớ gái rằng:
" Mày cứ ra, đâu đâu cũng đều có phép nước."
Trần Nhật Duật xứng đáng là danh nhân Việt Nam, văn võ toàn tài,
có thể được xem là ông tổ của ngành ngoại giao Việt Nam. Tuy làm
đến chức tể tướng và thái sư nhưng không bao giờ tham lam quyền
lực bởi vì sống trong lòng ông là một tinh thần nghệ sĩ độ lượng
trong nét khảng khái và nhân hòa.
Tham khảo
(1) Trần Quốc Vương - Vũ Tuấn San, Hà Nội nghìn xưa, Sở Văn hóa
thông tin Hà Nội – 1975
(2) G. Coedes, The indianized states of South-East Asia,
East-West Center, Honolulu, 1968
(3) Cao Xuân Phổ, Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, (Bài trong
Hội nghị Sử học Đông Nam Á, Kualua Lumpur 1982).
(4) Tạ Chí Đại Trường, Ả Trần, Mai Kiện, Hồi Hột – Phía khuất
của Sử-được-kí, Talawas,
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8768&rb=0302
(5) Lê Mạnh Thát, Vua Trần Nhân Tông Cuộc đời, tác phẩm và sự
nghiệp, http://www.thuvienhoasen.org/u-nhantong-02.html
(6) Trần Nhật Duật – Lĩnh Nam dật sử, Nguyễn Tạo dịch từ Hán
văn, tái bản, Nxb Trăm Việt, Oregon, USA.