|
Ngô Quyền (897 - 944)
 |
Trận Bạch Ðằng
(nguồn:http://www.limsi.fr/Recherche/CIG/contes.htm) |
Ngô Quyền, người làng Đường Lâm
(nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Tây)
cùng quê với Phùng Hưng.
Ông sinh năm 897, con trai thứ sử Ngô Mân,
một hào trưởng địa phương.
Được truyền thống địa phương
hun đúc, được cha dạy bảo, từ
tấm bé Ngô Quyền đã tỏ ra có ý chí
lớn. Thân thể cường tráng, trí tuệ sáng
suốt, chăm rèn võ nghệ. Sử cũ miêu
tả ông "vẻ người khôi ngô, mắt sáng
như chớp, dáng đi như cọp, có chí dũng,
sức có thể nhấc vạc dơ cao".
Năm 920, Ngô Quyền đi theo Dương Đình
Nghệ, một tướng của họ Khúc
ở đất ái Châu (Thanh Hóa). Dương Đình
Nghệ là anh hùng dân tộc từng có công đánh
đuổi giặc Nam Hán, chiếm được
thành Đại La năm 931, thúc đẩy bước
tiến của cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc. Dương Đình Nghệ lên cầm
quyền, tự xưng Tiết độ sứ,
giao cho Ngô Quyền cai quản Châu ái. Yêu mến tài
năng và nhiệt huyết cứu đời, giúp
nước của Ngô Quyền, Dương Đình
Nghệ đã gả con gái cho ông.
Trong 7 năm (931-938), quản lĩnh đất ái Châu,
Ngô Quyền trổ tài lực, đem lại yên vui
cho dân trong hạt.
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị
Kiều Công Tiễn, một thuộc tướng và
là hào trưởng đất Phong Châu giết
hại để đoạt chức Tiết độ
sứ. Hành động phản trắc của
Kiều Công Tiễn đã gây nên một làn sóng
bất bình, căm giận sâu sắc trong mọi
tầng lớp nhân dân. Ngô Quyền trở thành
ngọn cờ qui tụ mọi lực lượng
yêu nước.
Sau một thời gian tập hợp lực lượng,
Ngô Quyền đem quân từ Châu ái ra bắc,
tiến công thành Đại La, diệt trừ
Kiều Công Tiễn.
Năm 938, trời đang tiết mưa dầm gió
bấc. Đoàn quân Ngô Quyền, người người
lớp lớp vượt đèo Ba Dội tiến
ra bắc. Quân xâm lược còn đang ngấp nghé
ngoài bờ cõi thì đầu tên phản bội
Kiều Công Tiễn đã bị bêu ở ngoài
cửa thành Đại La (Hà Nội). Mối
họa bên trong đã được trừ
khử. Kế sách trước trừ nội
phản sau diệt ngoại xâm đã được
thực hiện.
Ngô Quyền vào thành, hợp các tướng tá, bàn
rằng: "Hoằng Tháo là một đứa
trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân
lính mỏi mệt, lại nghe được tin Công
Tiễn đã bị giết chết, không có người
làm nội ứng, đã mất vía trước
rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch
với quân mỏi mệt, tất phá được!
"Song chúng có lợi ở thuyền, nếu ta không
phòng trước thì chuyện được thua cũng
chưa thể biết được!
"Nếu ta sai người đem cọc lớn
đóng ngầm ở cửa biển trước,
vạt nhọn đầu mà bịt sắt,
thuyền của chúng nhân khi nước triều lên,
tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta
sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì
hay hơn kế ấy cả. (*)
Chư tướng đều phục kế sách
ấy là tuyệt vời.
Phán đoán đúng con đường tiến quân
của địch: Ngô Quyền - người
được nhà sử học Lê Văn Hưu
ngợi ca là "mưu giỏi mà đánh cũng
giỏi" - đã chủ trương bố trí
một trận địa cọc ở cửa sông
Bạch Đằng, rồi nhân khi nước
triều lên, nhử thuyền địch tiến vào
bên trong hàng cọc và tập trung lực lượng
tiêu diệt địch bằng một trận
quyết chiến nhanh, gọn, triệt để.
Sau khi diệt trừ xong bọn Kiều Công
Tiễn, Ngô Quyền và bộ chỉ huy kéo quân
về vùng ven biển Đông Bắc chuẩn
bị đón đánh quân Nam Hán. Thần tích và
truyền thuyết dân gian các làng thuộc xã Nam
Hải, Đằng Hải đều nói rõ từ
Bình Kiều. Hạ Đoạn tới Lương
Khê (thuộc An Hải, Hải Phòng) là khu vực
đóng quân của Ngô Quyền. Hơn 30 đền
miếu thờ Ngô Quyền và các tướng phá
giặc Nam Hán đã được phát hiện,
đều phân bố tập trung ở vùng hạ lưu
sông Bạch Đằng. Đồn trại của
Ngô Quyền đóng tại các thôn Lương Xâm
(An Hải, Hải Phòng), Gia Viên (nội thành
Hải Phòng) **
Trước mưu đồ xâm lược trở
lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn
cờ cứu nước của Ngô Quyền
trở thành ngọn cờ đoàn kết của
cả dân tộc. Đội quân Ngô Quyền,
từ một đội binh ái Châu đã nhanh chóng
trở thành một đội quân dân tộc.
Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38
chàng trai làng Gia Viễn (Hải Phòng) do Nguyễn
Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu,
đã tự vũ trang, xin theo Ngô Quyền phá
giặc. Trai tráng các làng Lâm Động (Thủy
Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động,
Hải Hưng), người mang vũ khí, kẻ
mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin
diệt giặc. Ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý
Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên),
ông tổ họ Phạm ở Đằng Giang (An
Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng
hái tham gia kháng chiến.
Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch
Đằng được Ngô Quyền chọn làm
chiến trường quyết chiến.
Bạch Đằng ngày ấy cũng như ngày sau
vẫn mang "tên nôm" giản dị: Sông
Rừng!
Sông Rừng thường có sóng bạc đầu,
vì vậy mới có thêm một "tên chữ"
Bạch Đằng giang.
Bộ sử Cương mục mô tả:
"Sông rộng hơn hai dặm, ở đó có núi
cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng
cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um
tùm che lấp bờ bến".
Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông
bắc và là đường giao thông quan trọng
từ Biển Đông vào nội địa
Việt Nam. Cửa biển Bạch Đằng to
rộng, rút nước từ vùng đồng
bằng Bắc Bộ đổ ra Vịnh Hạ
Long. Từ cửa biển ngược lên gần 20
km là đến cửa sông Chanh. Phía hữu
ngạn có dãy núi vôi Tràng Kênh với nhiều hang
động, sông lạch và thung lũng hiểm
trở.
Hạ lưu sông Bạch Đằng thấp, độ
dốc không cao nên chịu ảnh hưởng
của thủy triều khá mạnh. Lúc triều dâng,
nước trải đôi bờ đến vài cây
số. Lòng sông đã rộng, lại sâu, từ 8
m - 18 m. Triều lên xuống vào độ nước
cường, nước rút đến hơn 30 cm
trong một giờ, ào ào xuôi ra biển, mực nước
chênh lệch khi cao nhất và thấp nhất
khoảng 2,5 - 3,2 m.
Lịch sử thành tạo vùng Bạch Đằng
trên đây và một số tài liệu địa
lý học lịch sử cho phép khẳng định,
cửa sông Bạch Đằng thế kỷ 10 không
phải là cửa Nam Triệu với địa hình
như hiện nay.
Lúc bấy giờ cửa sông Nam Triệu là cửa
biển chung của sông Cấm (hay sông Nam Triệu)
và sông Bạch Đằng. Cửa biển Bạch
Đằng ngày xưa ở vào khoảng đó,
nằm sâu vào phía trong so với cửa Nam Triệu
hiện nay khoảng hơn chục cây số.
Giữa vùng thiên nhiên sông biển đó, trên cơ
sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc
lập của cả dân tộc, Ngô Quyền
khẩn trương giàn bày một thế trận
hết sức mưu trí, lợi hại để
chủ động phá giặc.
Ông huy động quân dân vào rừng đẵn
gỗ, vót nhọn, bịt sắt (hẳn số
thợ rèn được huy động đến
cũng khá đông) rồi cho đóng xuống lòng
sông thành hàng dài tạo thành một bãi cọc,
một bãi chướng ngại dày đặc
ở hai bên sông. Khi triều lên mênh mông, thì
cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống
thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua
lại. Bãi cọc tăng thêm phần hiểu
trở cho địa hình thiên nhiên.
Trận địa cọc là một nét độc
đáo của trận Bạch Đằng phá quân
Nam hán và cũng là một sáng tạo rất
sớm trong nghệ thuật quân sự Việt Nam mà
người khởi xướng là Ngô Quyền. Nhưng
cho đến nay, vẫn chưa phát hiện
được thêm nhiều di tích của bãi
cọc này. ****
Trong khi chuẩn bị trận địa, Ngô
Quyền không những lợi dụng địa hình
thiên nhiên, mà còn biết lợi dụng cả
chế độ thủy triều. Đây cũng là
một trận đánh biết lợi dụng
thủy triều sớm nhất trong lịch sử
quân sự nước ta, mở đầu cho
truyền thống lợi dụng thủy triều
trong nhiều trận thủy chiến sau này.
Rất tiếc là cho đến nay, chưa xác định
được ngày tháng xảy ra trận Bạch
Đằng, nên chỉ có thể đưa ra
một số giả định nào đó, chưa
thể có những kết luận cụ thể
về điều này. *****
Quân thủy bộ, mai phục sẵn ở phía
trong bãi cọc, có lẽ trong khoảng hạ lưu
và trung lưu sông Bạch Đằng; trong các nhánh
sông và trên hai bờ sông.
Theo truyền thuyết và thần tích, Dương
Tam Kha chỉ huy đạo quân bên tả ngạn,
Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh
Thạc chỉ huy đạo quân bên hữu
ngạn, mai phục ở hai bên bờ sông để
cùng phối hợp với thủy binh đánh
tạt ngang vào đội hình quân địch và
sẵn sàng tiêu diệt số quân địch
trốn chạy lên bờ. Có thể suy đoán
rằng, ngược lên phía thượng lưu là
một đạo thủy quân mạnh phục
sẵn làm nhiệm vụ chẹn đầu,
chờ khi nước xuống sẽ xuôi dòng đánh
vỗ mặt đội binh thuyền của địch.
Cũng theo truyền thuyết, thần tích người
thanh niên Nguyễn Tất Tố, vốn giỏi bơi
lặn và quen thuộc sông nước, được
giao nhiệm vụ khiêu chiến, nhân lúc nước
triều lên, nhử địch vượt qua bãi
cọc vào cạm bẫy bên trong.
Trong thế trận của Ngô Quyền, rõ ràng
trận địa mai phục giữ vai trò
quyết định. Trận địa cọc
ở cửa sông là nhằm chặn đường
tháo chạy của tàn quân giặc. Sự phối
hợp giữa hai trận địa chứng
tỏ quyết tâm chiến lược của Ngô
Quyền là phen nàykhông phải chỉ đánh
bại quân giặc mà còn phải tiêu diệt toàn
bộ quân giặc, đập tan mộng tưởng
xâm lăng của triều đình Nam Hán.
Cuối năm 938, cuộc kháng chiến chống xâm
lược Nam Hán lần thứ hai của quân dân
Việt đã giành được thắng lợi
hết sức oanh liệt.
Cả một đoàn binh thuyền lớn của
giặc vừa vượt biển tiến vào
mạn sông Bạch Đằng đã được
nhử ào thế trận đã bày sẵn và
bị tiêu diệt gọn trong một thời gian
rất ngắn. Toàn bộ chiến thuyền
của giặc bị đánh đắm, hầu
hết quân giặc bị tiêu diệt. Chủ soái
của giặc là Lưu Hoằng Tháo cũng bị
giết tại trận.
Chiến thắng Bạch Đằng có những nét
rất độc đáo và giữ một vị trí
trọng đại trong lịch sử dân tộc.
Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra
nhanh, gọn, triệt để đến mức
độ vua Nam Hán đang đóng quân ở sát biên
giới mà không sao kịp tiếp ứng. Nghe tin quá
bất ngờ và kinh hoàng, chúa Nam Hán đành thương
khóc thu nhặt tàn quân quay về nước. Y bèn
hạ đổ tội cho Trước tác Tá Lang
hầu Dung "làm cho khí thế quân binh không
phấn chấn lên được". Lúc này Dung
đã chết, chúa Nam Hán tàn bạo sai quật
mả, phơi thây Dung để trả thù!
Sau chiến thắng chấm dứt hơn 1000 năm
Bắc thuộc Ngô Quyền bắt tay xây dựng
quốc gia. Ngô Quyền xưng vương, bãi
bỏ chức Tiết độ sứ, định
đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ông
đặt ra chức quan văn, võ, nghi lễ trong
triều. Nhưng đáng tiếc thời gian
tại ngôi của ông thật ngắn ngủi,
chỉ được 6 năm (939-944).
Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn, thọ
47 tuổi.
Ngợi ca Ngô Quyền và chiến thắng Bạch
Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu
viết trong "Đại Việt sử ký toàn thư":
"Tiền Ngô Vương có thể lấy quân
mới họp của đất Việt ta mà phá
được trăm vạn quân của Lưu
Hoằng Tháo, mở nước xưng vương,
làm cho người phương Bắc không dám
lại sang nữa. Có thể nói là một cơn
giận mà yên được dân, mưu giỏi mà
đánh cũng giỏi vậy".
--------------------------------------------------------------------------------
* Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại
kỷ.q.5
** Tại Lương Xâm (thuộc xã Nam Hải,
huyện An Hải, Hải Phòng) còn di tích một thành
đất có hình giống như vành kiệu nên nhân
dân quen gọi là thành Vành Kiệu. Thành đắp
trên một gò đất cao, chu vi vào khoảng 1.700
m. Thành đã bị phá hủy nhiều đoạn,
phần còn lại dài khoảng 1.300 m, bề
rộng trung bình 1 m, có chỗ rộng 7 m, cao
khoảng 0,8 m, chỗ cao nhất 1,6 m. Giữa thành
có đền thờ Ngô Quyền nhân dân gọi là
Từ Cả. Thần tích câu đối, truyền
thuyết dân gian đều nói Ngô Quyền đắp
thành ở Lương Xâm và di tích còn lại là thành
Vành Kiệu. Năm 1981, Khoa Sử Đại
học tổng hợp Hà Nội phối hợp
với Sở Văn hóa - Thông tin Hải Phòng
cắt một đoạn thành để khảo sát.
Nhưng rất tiếc là chưa phát hiện
được những hiện vật đặc
trưng để xác định niên đại
của thành Vành Kiệu. Thần tích Ngô Quyền
ở Gia Viên (nội thành Hải Phòng) nói ông đã
cho lập đồn trại ở đây để
chống giặc Nam Hán.
**** Năm 1953 - 1954, nhân dân địa phương
phát hiện được những cọc gỗ
gần cửa sông Chanh, cách sông Bạch Đằng
hơn 400 m, thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng,
tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, Vụ Bảo
tồng Bảo tàng Bộ Văn hóa, Khoa Sử
Đại học Tổng hợp Hà Nội,
Viện Bảo tàng Lịch sử đã cùng Sở
Văn hóa Hải Phòng, và Ty Văn hóa Quảng Ninh
tiến hành khảo sát, khai quật và nghiên
cứu. Ngoài ra, còn phát hiện những cọc tương
tự ở cửa sông Kênh (đồng Vạn
Muối), cửa sông Nam giáp sông Bạch Đằng,
phía dưới sông Chanh...
Hai mẫu gỗ ở cửa sông Chanh được
xác định niên đại bằng phương
pháp các bon phóng xạ, cho kết quả 615+100 và
850+100 năm sau Công Nguyên. Nhưng theo ý kiến
của những người nghiên cứu thì
những bãi cọc này thuộc phạm vi trận
địa Bạch Đằng phá quân Nguyên năm
1288, chứ không phải bãi cọc của Ngô
Quyền diệt quân Nam Hán năm 938.
***** Nguyễn Ngọc Thụy, Thủy triều trong
chiến thắng Bạch Đằng năm 938,
đã dẫn. Về thời điểm xảy ra
trận Bạch Đằng, các bộ chính sử
chép không cụ thể và không thống nhất.
- Việt sử thông giám cương mục chép Ngô
Quyền diệt Kiều Công Tiễn và phá quân Nam
Hán vào "mùa thu, tháng chín" năm Mậu
Tuất, tính ra dương lịch là từ 27-9
đến 25-10-938.
- Đại Việt sử ký toàn thư lại chép
những sự kiện trên vào "mùa đông, tháng
Mười", tính ra dương lịch là
từ 26-10 đến 24-11-938.
- Việt sử lược chép vào "mùa đông,
tháng Chạp", tính ra dương lịch là
từ 25-12-938 đến 22-1-939.
Về mặt sử liệu học thì trong ba tài
liệu trên, Bộ Việt sử lược
được biên soạn sớm nhất (vào
đời Trần), gần với thời gian
xảy ra sự kiện hơn hai bộ sử đời
Lê và đời Nguyễn. Sự ghi chép của
Việt sử lược lại phù hợp với
nhiều thần tích Ngô Quyền và các tướng
tham gia trận Bạch Đằng, trong đó có
thần tích ở Hoàng Pha (Hoàng Động,
Thủy Nguyên, Hải Phòng) chép cụ thể
trận Bạch Đằng xảy ra vào ngày 7 tháng
Chạp năm Mậu Tuất, tức ngày 31-12-938...
|