Những bài cùng tác giả
Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lý thái bình Vô vi cư điện các Xứ xứ tức đao binh
Thiền sư Pháp Thuận (915-990)
Ông cha từng
đấm nát tay trước cửa cuộc đời. Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa
[Chế Lan Viên] ….Một câu
hỏi lớn không lời đáp. Cho đến bây giờ mặt vẫn chau ”
[Huy Cận] .
Nhưng có đúng thế không nhỉ?
Vậy mà câu thơ ấy từng hấp dẫn những
tâm hồn đa cảm một thời. Đúng hơn, những tâm hồn bị khúc xạ bởi màn sương hư
ảo của những chấn động dữ dội một thời ấy khiến người ta rất thật trong
những ý nghĩ, những lời nói, những câu chữ không lấy gì làm thật. Trong sự
thăng hoa cảm xúc, người ta khẳng định không chút e dè, “Tổ quốc bao giờ
đẹp thế này chăng… Những ngày ta sống đây là những ngày đẹp nhất” [ Chế
Lan Viên]. Có lẽ khi nghĩ lại những điều mình viết, trong “Di cảo Thơ”, tác
giả của những câu thơ trên tự nhủ : “ Khi anh gần chạng vạng/ Thì có
người bình minh/ Đừng lấy hoàng hôn anh ngăn cản/ Ban mai của họ sinh thành”
. Có lẽ cần phải thấy thêm rằng, lấy “hoàng hôn” ngăn cản “ban mai” thì xem
ra nguy hiểm cũng chẳng kém việc nhằm tụng ca cái hôm nay mà phũ phàng với
cái đã qua, phũ phàng với lịch sử, chưa nói đúng về ông cha mình.
Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh
lùng, sắc sảo của Gustave le Bon trong “Tâm lý học đám đông” : “Chẳng
gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng
chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người”!+
Bởi vậy ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán
xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha. Ông
cha ta đâu có “bế tắc”, cái “câu hỏi lớn” mà nhà thơ cho là “không
lời đáp” là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta
đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử
không thể bác bỏ. Nếu không như vậy thì làm gì có “Nghìn năm Thăng Long”
để hôm nay chúng ta long trọng và tưng bừng kỷ niệm.
Mà quả thật, không nhiều những quốc
gia có được một thủ đô nghìn năm tuổi để tự hào trình diễn trước thế giới
như chúng ta đang chuẩn bị. Khi mà kim chiếc đồng hồ bên Hồ Gươm hồi hộp
từng giây, từng giây ngược về con số chờ đợi, thì cũng là lúc người ta hiểu
ra rằng, lịch sử là một thành phần mà nếu thiếu nó, thì không một ý thức dân
tôc nào có thể được khẳng định. Mà nếu không có điều ấy thì cũng không thể
có bất cứ sự phát triển nào có ý nghĩa cả. Càng không thể có sự hội nhập một
cách chủ động và biết chọn lựa để phát triển. Mà giả dụ nếu có, thì e chỉ có
thể là sự vong bản, tự đánh mất mình, khởi đầu bằng đánh mất văn hóa. Vì
thế, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, xét đến cùng, là để khẳng định bản lĩnh
văn hóa Việt Nam nhằm khơi dậy lòng tự hào dân tộc, lấy đó làm điểm tựa để
động viên lòng yêu nước, khí phách anh hùng “có cứng mới đứng đầu gió”,
gió Biển Đông đầy bất trắc dồn dập sóng cồn giữa biển cả thời gian đầy thách
thức.
Phải có bản lĩnh ấy để tồn tại và phát
triển trong cái thế kẹt địa-chính trị đầu cầu dẫn đến một vùng Đông Nam Á
giàu tiềm năng, vốn luôn là đối tượng của những tham vọng bành trướng khó bề
thay đổi. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long cũng là để gợi nhớ và tôn vinh một
bản lĩnh văn hóa, bản lĩnh của vị vua khai sáng vương triều Lý.
Sau chiến thắng của Ngô Quyền trên
sông Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán, chặn đứng mộng bành trướng, mở đầu
việc dựng xây nền móng cho một nhà nước tự chủ, thì quyết định dời đô về
Thăng Long của Lý Thái Tổ là sự khẳng định quyết tâm củng cố nền độc lập và
phát triển đất nước, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp trường
kỳ dựng nước, mở nước và giữ nước của ông cha ta. Trên ý nghĩa ấy, cần thấy
cho ra “Chiếu dời đô” thể hiện một tầm nhìn khởi đầu một sự nghiệp.
Cũng có thể nói, “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ là sản phẩm của
một bản lĩnh văn hóa. Không có bản lĩnh văn hóa ấy thì dễ gì hôm nay đất
nước có một thủ đô nghìn năm tuổi!
Muốn cho “vận nước dài lâu, phong
tục giàu thịnh” nhằm “làm kế cho con cháu muôn vạn đời”, vì vậy “xem
khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn
phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” nên quyết dời đô về
đây. Ấy chính là “trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”!* Phải có một
bản lĩnh văn hóa đủ tầm mới chỉ ra được những điều ấy.
Đương nhiên, bản lĩnh ấy không ngẫu
nhiên mà có. Người mở đầu cho vương triều Lý là một người được hấp thu một
học vấn nghiêm chỉnh từ nhỏ. Thầy dạy của Lý Công Uẩn là thiền sư Vạn Hạnh,
một nhà sư uyên bác, một trí thức đứng hàng đầu trong những người có học vấn
đương thời. Hãy chỉ đọc một bài thơ của ông để cảm nhận điều đó, bài “Thị
đệ tử” :
Thân như điện ảnh hữu toàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm
vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô
[ Thân người như bóng
chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô
héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối
tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].
Theo tác giả của “Lịch sử Phật giáo
Việt Nam”, giáo sư Lê Mạnh Thát, “trước khi mất, Vạn Hạnh đã gọi đệ
tử mình ở chùa Lục Tổ đến và đọc cho họ nghe bài kệ trên, rồi dặn dò đệ tử
của mình : “Các con muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ, mà cũng không
dựa vào chỗ không trụ để trụ”. Bài thơ này là một trong những bài thơ nổi
tiếng nhất của văn học Việt Nam…nó đúc kết cả một triết lý hành động mà suốt
đời Vạn Hạnh đã theo đuổi”. Có thể vắn tắt gợi lên những phân tích của
tác giả “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” về bài thơ này như sau :
Câu đầu là một cái nhìn về chính bản
thân. Con người xuất hiện trên thế giới này đúng như một ánh chớp, chỉ lóe
lên rối tan biến vào đâu đó trong không gian mênh mông của vũ trụ. Con
người, như vậy, vừa có tính bi kịch, nhưng lại vừa có tính thần thánh cao
sang của nó. Câu hai là một cái nhìn tổng quát về thế giới con người đang
sống, một cái nhìn về quy luật phát triển của thế giới tự nhiên, mọi sự sống
đều kèm theo cái chết. Câu thứ ba và bốn là một cái nhìn về quy luật của
phát triển xã hội. Xã hội nào có thịnh rồi cũng có suy. Tổ chức cao nào cũng
có lên rồi cũng có xuống. Xã hội loài người chuyển dịch theo những quy luật
vận động của nó. Chính quy luật vận động đó đã tạo nên sự thịnh suy. Con
người Phật giáo biết nắm lấy quy luật vận động đó [nhậm vận] thì đứng trước
sự thịnh suy hoàn toàn có thể làm chủ được tình thế, chẳng có gì phải sợ
hãi. Mà có gì phải sợ hãi khi sự thịnh suy đó diễn ra cũng chóng vánh như
một hạt sương mai long lanh trên ngọn cỏ trong chốc lát biến mất dưới ánh
sáng của mặt trời !
Triết lý hành động của Vạn Hạnh yêu
cầu con người phải chủ động nắm lấy quy luật phát triển của sự vật và xã hội
để không có gì phải choáng váng khi một biến cố nào đó xảy ra, để tích cực
hành động, thúc đẩy lịch sử tiến lên. Cả cuộc đời trên 90 năm của Vạn Hạnh
đã thể hiện được trọn vẹn triết lý hành động này. Trong số những đệ tử đến
giã từ ông lần cuối và nhận bài kệ thị tịch đó, chắc hẳn không thiếu Lý Thái
Tổ. Dáng chừng bài kệ này muốn nhắn gửi trước tiên đến Lý Thái Tổ, vì sự
thịnh suy của triều đại còn chóng vánh hơn cả sự có không của thân
mạng con người, đây là một triết lý hành động tích cực xuất phát từ những
con người đã làm nên thời kỳ oanh liệt của lịch sử đất nước.*
Cần lưu ý, đây không chỉ là nhận định
của những người theo đuổi sự nghiệp Phật giáo, mà ngay những nhà Nho vốn
không mặn mà nếu chưa muốn nói đến kỳ thị, khi nhìn nhận về vai trò của nhà
Phật trong đời sống tinh thần của xã hội cũng có những đánh giá cao về thiền
sư Vạn Hạnh. Ngô Sĩ Liên là một ví dụ. Nhìn nhận về Lý Thái Tổ, ông cho rằng
: “Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về…Có mưu lược của bậc đế
vương”, tuy vậy, ông vẫn hạ một câu chê trách : “Duy chỉ có việc ham
thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém (!?)”. Ấy vậy mà, nói về thiền sư Vạn
Hạnh, Ngô Sĩ Liên vẫn phải viết : “Sư Vạn Hạnh mới trông thấy Lý Thái Tổ,
biết là người khác thường, … đoán biết thời thế thay đổi, như thế là có tri
thức vượt người thường*. Cũng như thế, bằng quan điểm của một nho gia,
Ngô Thì Sĩ không đồng tình với các nhà sư trong cách hành xử, nhưng vẫn phải
nhận định rằng “Vạn Hạnh có kiến thức vượt ra ngoài mọi vật, có thần toán
trước cả cơ trời, cũng là đại biểu của dòng thiền”.[Việt sử tiêu án.]**
Tất nhiên, những điều đã dẫn ra ở trên
không đến từ một khoảng trống lịch sử, mà là đã phát triển một cách logic từ
truyền thống văn hóa dân tộc. Thời đại của Vạn Hạnh là thời đại dân tộc đang
đấu tranh bền bỉ cho nền độc lập và thống nhất tổ quốc, để có thể xây dựng
và phát triển một đất nước thanh bình và một nền Phật giáo hưng thịnh. Vì
thế, không chỉ có một bài thơ của Vạn Hạnh. Ngược về trước, còn những bài
thơ gợi lên cảm thức hùng vĩ về đất nước, về con người mà bài thơ “Nguyên
Hỏa” của đại sư Khuông Việt, và trước đó là bài “Quốc Tộ” của
thiền sư Pháp Thuận là những ví dụ sống động về dòng thơ quan tâm đến vận
mạng của đất nước, đến cuộc sống của người dân được nhìn nhận như là “dòng
thơ chủ lưu của nền văn học Việt Nam”**.
Xin nói đôi điều về bài thơ “Nguyên
hỏa” [Gốc lửa] của Khuông Việt :
Mộc trung nguyên hữu hỏa
Nguyên hỏa phục hoàn sanh
Nhược vị mộc vô hỏa
Toàn toại hà do manh
[Trong cây vốn có lửa/ Sẵn lửa, lửa mới
sinh ra/ Nếu cây không có lửa/ khi cọ xát sao lại thành].
Đây cũng là một bài kệ thị tịch mà đại
sư đã trao lại cho học trò của mình trước khi mất. Hình ảnh ngọn lửa phải
chăng là ánh sáng giác ngộ? Không phải tìm một thế giới giác ngộ nào khác ở
ngoài cuộc đời mà ta đang sống. Mỗi người đều có thể đạt tới sự giác ngộ,
nhận ra được chân lý từ chính cuộc sống của mình. Như lửa vốn có ở trong
cây, vấn đề là làm sao cho cây bật lên ngọn lửa. Hình tượng này diễn đạt một
triết lý sống, một triết lý dẫn dắt hành động nhằm cứu dân giúp nước của
Phật giáo thời kỳ này. Để hiểu hơn điều này, xin dẫn ra mấy câu trong kinh
Lục độ tập của học giới Phật giáo Việt Nam thời kỳ ấy : “ Phù hữu
tất không, do nhược lưỡng mộc tương toán sinh hỏa, hỏa hoạn thiêu mộc, hỏa
mộc câu tận, nhị sự giai không” [Hễ có tất không, giống như hai miếng gỗ
cọ nhau mà sinh ra lửa, lửa trở lại đốt gỗ, lửa gỗ đều tiêu hết, hai việc
đều không] **
Trước “Nguyên hỏa” của Khuông
Việt [930-1011] , bài “Quốc Tộ” [Vận Nước] của thiền sư Pháp Thuận
[915-990], một kiệt tác ghi lại dấu ấn của một tầm vóc tư tưởng và triết lý
mà đến cả nghìn năm sau, đọc lại vẫn tươi nguyên tính hàm súc, giàu sức
thuyết phục :
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
[Vận nước đan xen với nhau như mây
quấn/ Đất trời Nam đang hưởng thái bình/ Nếu triều đình thấm nhuần lẽ vô vi/
Mọi nơi sẽ không còn chiến tranh]
Bời bời vận nước quấn mây
Trới Nam mở lượng đó đây thái
bình
Thiền tâm thấm tận triều đình
Thì nhân gian dứt đao binh đời
đời
Nguyễn Duy dịch thơ
Phải trở lại với bối cảnh ra đời của
bài thơ mới thấy hết được những ý tứ sâu sắc tiềm ẩn trong hình tượng, trong
câu chữ của bài thơ ra đời cách đây hơn 1000 năm.
Đó là bối cảnh mà “Việt Giám Thông
Khảo Tổng luận” chép : “Nước nhà nhiều nạn, xã tắc lâm nguy, lại thêm
giặc Chiêm quấy nhiễu phía nam, quân Tống xâm lăng phía bắc, quyền thần nắm
việc nước, người trong nước lìa lòng… họ Đinh dấy lên do ở Tiên Hoàng mà họ
Đinh mất đi cũng là do Tiên Hoàng, không phải mệnh trời không giúp, chính là
vì mưu của người không ra gì. Lê Đại Hành cầm quyền mười đạo, giữ
chức nhiếp chính, vua bé nước nguy, nhân thời chịu mệnh, giết vua Chiêm
Thành để rửa cái nhục sứ thần bị bắt, phá quân Triệu Tống làm nhụt cái mưu
tất thắng của chúng…Cày ruộng tịch điền ở Long Đội, mời người xử sĩ ở Tượng
Sơn, kén dùng hiền tài, dựng mở trường học, có mưu lược to lớn của bậc đế
vương”.*
Bài thơ nói trên chính là câu trả lời
của thiền sư Pháp Thuận đối với câu hỏi của nhà vua về vận nước trong bối
cảnh thù trong giặc ngoài. Câu hỏi thể hiện một trực cảm của nhà chính trị
đứng trước những thử thách khắc nghiệt của một vương triều mới dấy nghiệp,
và câu trả lời cũng là một trực cảm chính trị sâu sắc trên nền tảng một
triết lý nhân bản thâm hậu.
Trọng lực của ý tưởng cũng như sự đúc
kết toàn bộ triết lý của tác giả bài thơ dồn vào khái niệm “vô vi”.
Vận nước có dài lâu được hay không tùy thuộc vào nhận thức và ứng xử của
người gánh vác trọng trách với sơn hà xã tắc, đất trời Nam đang hưởng
thái bình liệu có duy trì được tiếp hay không, là do ở chỗ “Vô vi cư
điện các. Xứ xứ tức đao binh” [nếu triều đình thấm nhuần lẽ vô vi [thì]
mọi nơi sẽ không còn chiến tranh”.
Chiến tranh ở đây là những cuộc tranh
bá đồ vương, nồi da xáo thịt của anh em dòng họ và của các phe nhóm muốn
tranh giành ngôi vua, kiếm chác quyền lực mà hệ lụy là loạn lạc, là máu
xương đổ lên đầu trăm họ. Loạn 12 sứ quân làm sụp đổ vương triều Ngô, rồi
loạn Đỗ Thích giết vua để rồi bị giết và tiếp theo là các tướng cũ của Đinh
Tiên Hoàng định mưu phạt Lê Hoàn [Lê Đại Hành] để rồi bị giết, kết thúc
vương triều Đinh. Và đồng thời, đáng ngại hơn nữa, là âm mưu xâm lược từ
phương Bắc khi mà nhà Tống chấm dứt thời kỳ “ngũ đại thập quốc” và đang bành
trướng về phía nam. Tháng tư năm 981 đội quân xâm lược do Hầu Nhân Bảo chỉ
huy chia quân làm hai ngả, hòng nuốt chửng quốc gia nhỏ bé không chịu thần
phục cứ như cái xương mắc trong họng khiến không nuốt được những miếng mồi
ngon phương Nam! Bị đánh tan tác trên cửa sông Bạch Đằng, Hầu Nhân Bảo phải
đền mạng. Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các con tranh chấp ngôi vua, đem quân
đánh lẫn nhau, kết thúc nhà Tiền Lê.
Có hiểu bối cảnh đó mới hiểu được ý
tưởng của thiền sư Pháp Thuận muốn tác động đến suy nghĩ của người đứng đầu
trăm họ. Liệu có phải hai chữ “vô vi” trong bài thơ của ông có gốc
gác từ kinh “Lục độ tập” của nhà Phật “Cẩn thận không kiêu ngạo,
là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm bụi bậm của sáu tình, không
để các ái nhỏ như tóc tơ che giấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt, đó
là vô vi”? ** Xin đọc thêm hai bài thơ sau:
Thiền sư Chân Không [1046-1100] trong
bài “Cảm Hoài” [Tỏ nỗi lòng] thì lại nói đến khái niệm “vô vi”
dưới một chiều cạnh khác :
Diệu
bản hư vô nhật nhật khoa
Hòa phong xuy khởi biến sa bà
Nhân nhân tận thức vô vi lạc
Nhược đắc vô vi thủy thị gia.
[cái bản tính vi diệu trống không
ngày ngày có mặt/Gây nên cơn gió hòa ở khắp thế gian/Người người ai cũng
biết cái hạnh phúc của vô vi/Phải thể hiện được cái vô vi đó trong cuộc sống
mới gọi là nhà]
Thiền sư Từ Đạo Hạnh [?-1117] trong
bài “Hữu Không” [Có và không] lại cho rằng :
Tác hữu
trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu, không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không
[ Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng
không
Kìa xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có, có không là
gì ]
Tục truyền theo Huyền
Quang Tam Tổ
Rõ ràng là “vô vi cư điện các”
hàm nghĩa một phẩm chất được hình thành và nuôi dưỡng từ một tư tưởng triết
học Phật rất sâu sắc.
Mới đây thôi, trong cái ồn ào, bụi bậm
của dòng đời thời hiện đại ào ạt tuôn chảy, trong tập thơ đượm màu sắc triết
lý “Cỏ dọc đường trần” của Việt Phương, nhà thơ và là nhà nghiên cứu,
có hai câu gợi nhiều suy tưởng từ bài thơ có nhan đề là “Nghĩa” dường
như muốn diễn đạt sự cảm nhận của mình về tinh thần cơ bản của triết học ấy
:
“ Không có
gì tạo thành tất cả
Tất cả đầy những không có gì ”***
Liệu
có thể nhận thức rằng “tất cả là không có gì, và không có gì là tất cả”
chính là sự thâu tóm một cách đơn giản nhất triết học Phật? Có lẽ phải trên
tinh thần đó mới có thể hiểu rõ khái niệm “vô vi” trong bài thơ “Vận
nước” của Pháp Thuận.
Để có thể “vô vi cư điện các”
[triều đình thấm nhuần lẽ vô vi] thì tất nhiên người đứng đầu trăm họ
phải là người có trí và có đức. Có được điều đó mới chấm dứt được nạn
binh đao khiến muôn dân chịu cảnh lầm than, đem xương máu lót đường cho
những mưu ma chước quỷ trong những cuộc tranh bá đồ vương nhằm giành giật
cái ghế quyền lực.
Oái oăm thay, những con người với
những phẩm chất như vậy thường chỉ xuất hiện trong thời kỳ mở đầu cho một
triều đại! Rồi triều đại do họ lập nên thịnh suy, dài ngắn ra sao gắn liền
với việc những phẩm chất đẹp đẽ như vừa nói của người nắm quyền được gìn
giữ, kết thừa và phát huy đến đâu, hay lụn bại dần dần rồi dẫn đến chỗ băng
hoại.
Người lập nên triều đại Tiền Lê, người
anh hùng dân tộc đánh tan quân xâm lược nhà Tống làm rạng rỡ non sông, nhưng
rồi khi nằm xuống thì các con trai ông đã giết nhau để tranh ngôi. Lê Long
Đỉnh, người tranh được chiếc ngai vàng sau khi giết hết anh em mình, đã
không ngồi được trên ngai, mà phải “ngọa triều” để điều hành việc
nước! Và thế tất là phải hèn mạt cúi đầu trước nhà Tống để duy trì cho được
tư thế “ngọa triều” đó, để rồi chóng vánh chấm dứt triều đại do cha mình lập
nên! Và đây là chuyện diễn ra không chỉ một lần trong lịch sử.
Sự suy thoái về phẩm chất, về đạo lý
của người cầm quyền gắn liền với sự rối ren của thời cuộc, sự ly tán của
lòng dân, vận nước gặp buổi khó khăn dẫn tới sự sụp đổ của một triều đại là
điều thường thấy, và dường như đã thành quy luật “đẩy thuyền là dân mà
lật đổ thuyền cũng là dân”.
Chỉ một lời bình được chép trong Đại
Việt Sử ký Toàn thư về “Ngọa triều Hoàng đế” đủ diễn tả được quy luật ấy : “Vua
làm việc càn rỡ, giết vua cướp ngôi, thích dâm đãng tàn bạo, muốn không mất
nước sao được?”! Cũng chẳng cần đến loại “ngọa triều” như Lê Long Đỉnh
mới làm sụp đổ chóng vánh một triều đại! Lịch sử đầy rẫy những thảm họa từ
bọn vô tài bất tướng, vì những lý do khác nhau mà ngoi lên nắm được quyền
hành, đẩy trăm họ đến chỗ lầm than, sơn hà nghiêng ngả, đấy là thời vận nước
suy. Điều này chẳng lấy gì khó hiểu.
Những người lập nên một triều đại mới
thường thường là phải trải qua thời “nằm gai nếm mật” nên hiểu được
nguyên lý “đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” nói trên, do
vậy mà biết lo tìm cách “an dân”, “khoan thư sức dân”, thu
phục nhân tâm, trọng dụng hiền tài. Nhưng rồi những hậu duệ của họ, nếu
không được giáo dục và rèn luyện, thì theo quy luật khắc nghiệt của quyền
lực bị tha hóa, sẽ chóng vánh bộc lộ những bệnh hoạn của kẻ ăn trên ngồi
trốc nhờ những ngẫu nhiên của lịch sử mà leo được lên, không có “đức”,
cũng chẳng có “trí”, thế tất nhanh chóng bị lịch sử phế bỏ! Đó là
chuyện xảy ra như cơm bữa, xưa nay đều như vậy!
Xem ra, sự diễn đạt hết sức cô đọng
quan điểm triết lý “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo
đầu phô” trong lời thị tịch của Vạn Hạnh không chỉ biểu lộ một bản lĩnh,
một nhân cách mà còn là sự đúc kết một quy luật.
Nối liền bài thơ này với hai bài thơ
thị tịch trước đó của đại sư Khuông Việt và thiền sư Pháp Thuận dẫn ra ở
trên, và sau đó như những bài thơ của thiền sư Viên Chiếu [999-1090], thiền
sư Mãn Giác [1052-1096] và nhiều bài thơ Thiền khác nữa mà ở đây không thể
kể ra hết được, sẽ thấy rõ một dòng mạch tư tưởng trong nền văn học ghi đậm
ảnh hưởng triết học Phật có ý nghĩa lớn thế nào đến vương triều Lý với Lý
Thái Tổ. Xin dẫn thêm lời danh nho Ngô Thì Sĩ, cũng trong “Việt sử tiêu
án” đã chép ở trên, để hiểu hơn vai trò của văn hóa Phật giáo với những
đóng góp lớn lao của họ vào đời sống tinh thần của xã hội ta thông qua các
vị danh sư của thế kỷ thứ X và XI : “Văn nhân cũng không thể làm hơn
được, không biết học hành dồi mài từ đâu. Anh hùng cái thế ra đời, luôn
không thiếu người…”. Chính họ đã giúp sinh thành nên một Lý Thái Tổ với
“Chiếu dời đô”.
Cần lưu ý rằng, trong bối cảnh của xã
hội ta thời kỳ này thì nhà chùa không chỉ là trường học mà còn là những
trung tâm văn hóa. Hầu hết các lễ hội dân gian hiện đang tồn tại thì xem
ra ít nhiều đều gắn bó với nhà chùa, nếu không muốn nói rằng phần lớn xuất
phát từ đó. Ba lễ hội lớn như hội Khám, hội Dâu và hội Gióng đều xoay quanh
ngày Phật đản, tức là ngày mồng tám tháng tư. Đừng quên là đền Gióng nằm sát
cạnh chùa Kiến Sơ và lễ hội thường diễn ra tại chùa.
Mồng bảy hội Khám
Mồng tám hội Dâu
Mồng chín đâu đâu
Kéo về hội Gióng
Trong những lời hát tại lễ hội này, có
cả lời hát vào chùa xin lễ :
Vào chùa thắp một nén nhang
Khói lên
nghi ngút bốn phương nhà chùa …**
Có thấy ra điều đó mới hiểu được ý
nghĩa sâu xa việc Lý Công Uẩn, như “Khâm định Việt sử Thông giám Cương
mục” ghi : “Khi lên ba tuổi, sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn nuôi làm
con, nhân đấy lấy theo họ Lý”. Sách “Đại Nam nhất thống chí” cũng
chép rằng : “Chùa Cổ Pháp ở xã Đình Bảng, huyện đông Ngạn, là nơi trụ
trì của Lý Khánh văn. Sử chép Lý Thái Tổ sinh được ba năm thì mẹ ẵm đến đây,
được Khánh Văn nhận nuôi. Nay trong chùa có tượng mẹ Lý Thái Tổ”. Sách
“Đại Việt Sử Ký Toàn thư” lại chép : “Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến
nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Bé đã thông minh, vẻ
người tuấn tú khác thường. Lúc nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh
thấy, khen rằng : “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có
thể giải nguy, gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”.
Bằng những phân tích dựa trên các dữ
liệu sưu tập được, tác giả của “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” đưa ra
nhận định : “nếu chùa Lục Tổ là chùa Cổ Pháp đổi tên thì rõ ràng Lý Khánh
Văn chính là thiền sư Vạn Hạnh. Người đã nhận cậu bé Lý Công Uẩn làm con
nuôi và người thầy dạy dỗ cậu là một…”**
Không đi sâu vào dữ liệu còn tranh
cãi, điều cần khẳng định là : tài đức của Lý Thái Tổ, người khai sáng thế kỷ
XI, mở ra một trang mới trong lịch sử nước nhà với thủ đô Thăng Long trường
tồn cả nghìn năm, trải nghiệm bao thăng trầm biến động không phải ngẫu nhiên
mà có. Tài đức ấy, bản lĩnh ấy là do được dạy dỗ, rèn đúc từ ấu thơ bởi
những bậc danh sư như thiền sư Vạn Hạnh, một đỉnh cao của tri thức đương
thời như đã phân tích ở trên. Mà tầm cao tri thức ấy là do thu góp cả một
đời người từng sống qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê để góp phần dựng
nên vương triều Lý. Phải chăng vì thế mà gây dựng được nền móng cho một
vương triều kéo dài 216 năm, có thể nói là dài hơn bất cứ triều đại nào sau
đó.
Chẳng phải bây giờ, mà trước đây, Lý
Nhân Tông sống vào nửa thế kỷ sau Van Hạnh, vẫn hết lời ghi nhận công đức
của vị thiền sư có công lớn dựng nên cơ nghiệp nhà Lý : “Vạn Hạnh dựng ba
cõi/ Thật hợp sấm lời xưa/ Quê hương tên Cổ Pháp/ Chống gậy giữ kinh vua”.
Tưởng cũng nên nói thêm đôi điều về Lý
Nhân Tông người đã tôn vinh công đức vị danh sư, người thầy của vị vua sáng
lập vương triều Lý. Đến Nhân tông, triều Lý đã được 4 đời trải qua 127 năm,
Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông đều là những minh quân. Sử chép khi sắp mất,
Nhân Tông gọi thái úy Lưu Khánh Đàm nhận di chiếu : “…Chôn cất hậu làm
mất cơ nghiệp, để tang lâu làm tổn tính mệnh, trẫm không cho là phải. Ta đã
ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi lại khiến cho
thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho
lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào! …chớ làm sai mệnh,
trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận. Việc tang thì chỉ 3 ngày bỏ áo trở, nên
thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán văn Đế, cốt phải kiệm ước,
không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế…”.* Thì
ra kiệm ước vì thương dân, tránh chuyện phô trương hình thức trong tang lễ,
xây lăng mộ tốn kém đã là vấn đề được đặt ra cả nghìn năm trước khi mà thể
chế quốc gia đã đi vào khuôn phép!
“Tiên đế” nói đây là Thánh Tông. Đại
Việt sử ký Toàn thư chép : “Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng
việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đắt khoa bác sĩ,
hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh,
đáng gọi là bậc vua tốt”* Kế thừa là kế thừa công đức của vua cha Thái
Tông, vị vua được Ngô Sĩ Liên bình như sau : “Cùng lòng cùng đức, tất sự
nghiệp có thể thành. Có vua có tôi, gian hiểm nào cũng vượt được. Thái Tông
đương lúc đau xót, biến loạn sinh ngay kẻ nách mà vua tôi xử trí gãy gọn
phải lẽ, vượt được hiểm nạn làm nên sự nghiệp, tông miếu nhờ đó được vững
yên. Không phải là vua tôi gặp gỡ cùng đức cùng lòng mà được như thế ư?”.
Đây là nói về chuyện vua nghĩ tình cốt nhục mà tha cho tội mưu phản không
thành của hai người em. Phải chăng ẩn chìm trong vấn đề “nghĩ tình cốt nhục”
mà tha không giết lại cho phục chức như cũ chính là thực hành triết lý “vô
vi cư điện các” mà thiền sư Pháp Thuận đã khuyến cáo?
Chừng nào người đứng đầu trăm họ còn
theo đuổi được một triết lý nhân bản, còn nắm được quy luật “nhậm vận
thịnh suy, thịnh suy như lộ thảo đầu phô” thì vận nước còn có cơ hưng
thịnh. Một khi mà những kẻ cầm quyền suy đốn, nhân tâm lý tán, họa ngoại
bang rình rập thì vận nước suy vong. Tuy nhiên, “quốc tộ như đằng lạc”
[vận nước đan xen với nhau như mây quấn], sự suy vong của một triều đại chỉ
có thể là một sự chuẩn bị cho việc ra đời của một triều đại mới đáp ứng được
khát vọng của nhân dân. Mà sức dân thì như nước có thể đẩy thuyền, cũng dư
sức lật thuyền! Vả chăng, “thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như khoảng thời
gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ ”. Cái mới đã ươm mầm từ trong cái
cũ, và sự ra đời của cái mới là không gì có thể cưỡng lại được!
Thì đấy,“Mạc vị xuân tàn hoa lạc
tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” [ Đừng bảo xuân tàn hoa cũng rụng
hết. Đêm hôm qua, trước sân (rộ) một cành mai]. Đây là lời nhắn gửi của
thiền sư Mãn Giác, người sống cùng thời với Lý Thánh Tông, trong bài “Cáo
tật thị chúng” [Có bệnh báo mọi người]. Ở đây là một cách
diễn đạt khác về điều mà thiền sư Vạn Hạnh khuyến cáo vừa dẫn ở trên: “Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô” [Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa
thu khô héo].
Sự sống thật sự vô cùng vô tận và bất
diệt. Đó là vận động bất tận. Mà vận động luôn luôn là tự thân vận động,
những cú hích ở bên ngoài chỉ có tác động nhằm thúc đẩy nhanh những “hợp
trội” khiến nảy sinh những đột biến, thúc đẩy sự phát triển. Sự tự thân vận
động ấy là không sao cưỡng lại được. Thì chẳng thế sao : “Mộc trung
nguyên hữu hỏa. Nguyên hỏa phục hoàn sanh” [trong cây vốn có lửa, sẵn
lửa, lửa mới sinh ra]. Bởi lẽ “Nhược vị mộc vô hỏa. Toàn toại hà do manh”
[nếu cây không có lửa. khi cọ xát sao lại thành?]
Suy ngẫm về ngày kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long đang đến gần, gợi nhớ hình ảnh vị vua khai sáng Nhà Lý cách đây
mười thể kỷ, đọc lại “Chiếu dời đô” càng thấm thía đến lẽ thịnh suy
và vai trò của văn hóa trong sự định hình một triều đại vốn giữ một vị thế
hết sức độc đáo trong lịch sử dân tộc. Ở đây là văn hóa thấm nhuần triết lý
Phật. Vào thời đó, Phật giáo được xác định như một con đường “mà ngoài xã
hội có thể cứu dân giúp nước, còn ở nhà thì có thể phụng thờ cha mẹ và lúc ở
một mình có thể dùng để hoàn thiện bản thân” như Mâu Tử đã viết trong
Lý Họăc Luận!****
Với tính cách là một lực lượng văn hóa
dân tộc, Phật giáo không thể tách rời sự nghiệp đấu tranh thường trực để
dựng nước và giữ nước của dân tộc. Có thể hiểu vì sao những bài thơ Thiền
thấm đãm triết lý Phật dẫn ra ở trên đều hàm chứa mối quan tâm đến vận nước
. Chính ở đây, khi nói về về mối tương quan giữa thiên nhiên, đất nước và
con người đã thể hiện sâu sắc quan điểm “duyên sanh” cơ bản của triết
lý Phật giáo.
Đưa ra những cảm nhận trên đây cốt chỉ
để trình bày một nhận thức : được đào luyện từ tấm bé, với một bản lĩnh văn
hóa được dày công hun đúc, Lý Công Uẩn đã trở thành Lý Thái Tổ, mở đầu cho
một triều đại dài nhất trong lịch sử dân tộc. Xét đến cùng , đó là bài học
về văn hóa, mà ở thời đoạn lịch sử thế kỷ XI-XII là sự kết tinh của triết lý
Phật, điểm tựa cơ bản nhất của triều đại nhà Lý !
Để kết thúc bài viết, xin chép lại bài
thơ “Tức cảnh”, tương truyền là của Lý Công Uẩn lúc còn trẻ. Nhân
tình cảnh bị thầy phạt phải trói nằm dưới đất, không ngủ được, đã làm bài
thơ tự vịnh :
Thiên vi
khâm chẩm địa vi chiên
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên
[Trời làm chăn gối, đất làm nệm/ Trời
trăng cùng đối diện giấc ngủ của ta/ Đêm tối quá không dám duỗi dài chân/
Chỉ sợ đất nước rối loạn]
Nếu đích thực đây là bài thơ của chàng
trai trẻ rồi sẽ sáng lập nên vương triều Lý thì, thơ tức là người, một khí
phách, một bản lĩnh. Tưởng cũng chẳng nên bình luận gì thêm. Không có một
bản lĩnh văn hóa, không có một điểm tựa đúng đắn và vững vàng về triết lý
dẫn dắt cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước, khó để lập nên một triều đại
hưng thịnh và dài lâu. Lý Công Uẩn với “Chiếu đời đô” là một minh chứng sống
động về điều lớn lao ấy.
Tượng Lý Thái Tổ trầm mặc bên Hồ Gươm đang
nhắc nhở con cháu hôm nay nghĩ về cách ông cha mình đã trả lời “những câu
hỏi lớn” của lịch sử như thế nào, và dựa vào đâu để có bản lĩnh trả lời
câu hỏi cho vận nước. Dựa vào ông cha, và dựa vào chính mình, dựa vào thế hệ
trẻ.
Vì, “Xe vẫn chạy nghìn đời…Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du từng đi chuyến trước, Những chuyến xe không có khứ hồi” [Chế
Lan Viên. “Di cảo thơ” ]. Sự nghiệp của ông cha để lại, vận mệnh của dân tộc
“sẽ được quyết định khi một thế hệ mới sẽ
lớn lên...Khi những con người như thế xuất hiện, họ sẽ vứt bỏ tất
cả những điều mà theo quan niệm hiện nay họ phải làm : họ sẽ tự
biết cần phải làm như thế nào”. 4
Chú thích :
+ Gustave le Bon “Tâm lý
học đám đông”NXB Tri thu7c12008, tr.213
* Đại Việt Sử ký Toàn thư. Tập
1. NXBKHXH Hà Nội 1998, tr.241, tr.122, tr.247, tr.233, tr.250, tr.240,
tr.271
** Lê Mạnh Thát. “Lịch sử Phật
giáo Việt Nam”.Tập II. NXBTổng Hợp TPHCM. 2006, tr. 363, tr.442, tr.
450, tr.365, tr.395
*** Việt Phương “Cỏ dọc đường
trân”. NXB Hội Nhà văn.2010, tr.46
**** Thơ Thiền Lý Trần. “Lời nói đầu”
. NXB Văn hóa Sài Gòn. 2005, tr.7.
***** C.Mác & Ph.Angghen Toàn Tập ,
Tập XXI. NXBCTQG . Hà Nội, 1995 tr..128
|