Những bài cùng tác giả
Tư tưởng Đại Hán*
Người láng giềng khổng lồ trong một buổi phô trương cơ bắp sau nhiều năm dài
đấu đá nội bộ, đã vác loa chỉ sang nhà người bên cạnh “nầy các người man di
mọi rợ, bộ các người không biết là đang ở trên lãnh thổ của ta ? “Ông” đã
cho sống nhờ mấy nghìn năm , thế mà bây giờ mở giọng nói mảnh đất trong “đô
hộ phủ” là của mình có khác gì bọn phản bội, vô ơn ? ”. Chẳng phải “An nam
đô hộ phủ” từ thời nhà Đường (thế kỷ thứ 7) mà người đứng đầu là Kinh lược
sứ của Trung Nguyên phái sang thống trị đó sao, nói gì đến mấy mươi đời
sau, mảnh đất An Nam nầy liên tục triều cống thiên triều cho đến tận Vua
quan nhà Nguyễn, hãy xem đấy Quang Trung dù chiến thắng 30 vạn quân Thanh
cũng phải sang bái tấu Hoàng đế Càn Long xin thần phục…thế mà mấy hòn đảo
lon con ngoài khơi...bọn mầy dám bảo là của nước tụi bây ? Nghe không lọt
tai…Bao nhiêu tài liệu, đồ cổ, thư tịch (1)…cứ thế mà lôi ra để “khua” với
thế giới rằng những gì trên biển Đông đều là của TQ từ hai nghìn năm trước
(sic) “không tranh cãi lôi thôi” vì hàng trăm tỷ thùng dầu mỏ, khí đốt thiên
nhiên đang chờ được móc lên bù lại phần thiếu hụt, ngày càng lệ thuộc vào tư
bản đế quốc sao chịu nổi, đang cào ruột gan Ông nóng ran. Thử hỏi nếu là của
bọn bây, thì “bọn bây” có khó chịu không ? “Của đau con xót” biết chưa
(2).

Abe Nakamaro(698—770)
Lối lập luận nầy rất hợp lòng những người TQ vốn mang trong mình chủ nghĩa
dân tộc Đại Hán, và cả chính quyền Đài Loan ở đảo xa . Họ không ngừng cổ
súy không những bằng lời nói, sức ép ngoại giao và còn lăm le sử dụng vũ lực
vì nhu cầu về cái gọi là “an ninh năng lượng” không còn dừng lại trên giấy
hay chỉ để dọa dẫm !(3) TQ còn lôi cả nhà thơ Abe Nakamaro, người Nhật
sang học , làm quan cho nhà Đường, gặp nạn lưu lạc sang đất An Nam, và làm
trấn thủ tại đây (4) để chứng minh rằng vùng đất nầy thuộc TQ từ lâu và lấy
đó biện hộ rằng những quần đảo trên biển “Nam Trung Hoa” (South China Sea)
đương nhiên là của người TQ ( há chẳng phải người Việt nam thường nói 1000
năm Bắc thuộc là gì)…Triển khai lối lập luận hồ đồ rằng nơi nào có người Hoa
như đoàn tàu của Thái giám Trịnh Hòa (1405-1433 tất cả 7 lần) ghé vào đâu
thì nơi đấy là lãnh thổ của TQ, biên giới của họ mở rộng tới đó theo sự phát
triển địa-chính trị của TQ (5) . Như vậy không những Việt nam mà vùng Đông
Nam Á lẫn Ấn độ dương, và cả vùng vịnh Ba tư…đều thuộc về họ, sá chi việc
Mạc Cửu ( 1655 - 1735) đến Hà Tiên, Phú Quốc… hàng trăm ngàn người Minh
tràn sang vì thất bại trong cuộc khởi nghĩa “phản Thanh phục Minh” và những
cuộc nổi dậy của “Thái bình Thiên Quốc”, lập nên những làng “Minh Hương”
khắp nơi, hình thành các khu phố Hoa kiều của người Quảng Đông, Triều Châu,
Phúc Kiến... ở Việt Nam (6) . 
Tam Bảo Thái giám Trịnh Hòa (1371–1433)
Hạm đội của
Trịnh Hòa
Chờ thời cơ để chiếm đóng quần đảo Trường Sa
Như vậy, theo họ tương lai nước Việt của con cháu chúng ta lại phải trở về
“mẫu quốc”, một “phủ huyện” của TQ là hệ luận tất yếu. Cứ xem tư liệu của
phía TQ đại lục sau nầy hay Đài Loan trước kia, họ vẫn thống nhất xem các
quần đảo ngoài khơi biển Nam Trung Hoa (mà ta gọi là biển Đông) là của họ,
sỡ dĩ hiện nay bị các nước khác, trong đó VN là chủ yếu, vì TQ bị các nước
tây phương cắt cứ suốt trăm năm trong thời kỳ cuối đời nhà Thanh, lợi dụng
để xâm chiếm trái phép (!)…vì vậy nay là lúc phải ra tay đòi lại là hành
động phải làm để bảo vệ chủ quyền và lợi ích của TQ. Con số 92% người được
thăm dò trên mạng “Hoàn Cầu” Thời báo (cơ quan trực thuộc Tân Hoa Xã của TQ)
tán thành biện pháp dùng vũ lực trong cuộc tranh chấp hiện nay cũng nằm
trong chiến dịch chuẩn bị “đòi lại” quần đảo nói trên (7).
 “đụng độ” trên biển Đông
Thái độ kích động hằn học nầy không phải mới bắt đầu khi TQ triển khai chiến
dịch “tuần tra” nghề cá trên biển Đông từ ngày 15/6/2009 mà họ đã chuẩn bị
từ lâu, phản ánh qua cuộc tấn công đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 vào thời
điểm chế độ Việt nam Cộng Hòa ở miền nam bước vào thời kỳ sụp đổ sau “Việt
Nam hóa chiến tranh”, không còn sức chống đỡ trước sự tấn công của Quân đội
giải phóng ngay trên đất liền. Lực lượng hải quân TQ không ngừng củng cố và
xây dựng căn cứ quân sự ở Hoàng Sa đồng thời từng bước chiếm đoạt một số hòn
đảo san hô ở Trường Sa vào năm 1988. Kể từ đó, TQ đã đẩy mạnh hơn nữa việc
tăng cường lực lượng Hải quân(8) song song với phát triển kinh tế với tốc
độ cao. Một mặt giao kết ứng xử trên biển đông theo những nguyên tắc hòa
bình, tôn trọng lẫn nhau với các nước ASEAN vào năm 2002 nhằm ràng buộc,
ngăn ngừa sự phản công của các nước, mặt khác chờ thời cơ đề tái chiếm mà
hiện nay, ở thời điểm năm 2009, hàng loạt hoạt động khiêu khích đối với hải
quân Mỹ cũng như ra tuyên bố cứng rắn với các nước trong khu vực về “chủ
quyền lãnh hải” mà TQ đã vạch ra qua cái gọi là “lưỡi bò” phi lý
(9) ngày
càng lộ rõ ý đồ ấp ủ bấy lâu nay. Từ những công trình nghiên cứu sử học lẫn biện pháp tuyên truyền (trong
nước và quốc tế) với hàng trăm nhà nghiên cứu trong ngoài nước tích cực tham
gia chiến dịch huy động giới truyền thông, báo chí liên tục có bài, đưa tin
và hình ảnh về hoạt động tuần tra, bắt bớ của tàu thuyền của các lực lượng
quân sự lẫn núp bóng dân sự TQ , công khai xác định chủ quyền của TQ…cho
thấy ý đồ sâu xa và chính sách tạo tiền đề cho chiến dịch vào giờ “G” chiếm
đoạt Trường Sa đã được tích cực chuẩn bị rất chu đáo từ năm 1995 sau khi nhà
cầm quyền TQ công bố đường lãnh hải phi lý của họ trên biển Đông vào năm
1992. Hiện nay, quan hệ Đài- Trung đã được cải thiện rõ rệt từ khi Mã Anh
Cửu (Quốc Dân Đảng Đài Loan) lên nắm quyền ở Đài Loan sau khi đắc cử tổng
thống (ngày 20/5/2008) điều nầy cho thấy sự vướng bận vào việc giải phóng
Đài Loan thống nhất vào TQ đại lục không còn là trọng tâm trên bàn cờ chiến
lược quân sự và ngoại giao của TQ. Hơn thế nữa cán cân tương quan lực lượng
giữa Nhật bản-TQ-Mỹ ở khu vực TBD đã thay đổi khi chính quyền Mỹ bị sa lầy
nghiêm trọng ở hai chiến trường Iraq lẫn Afghanistan từ thời tổng thống G.W.
Bush. Một nước Nhật lệ thuộc năng lượng mà 80% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ các
nước ở Trung Cận Đông đi ngang tuyến đường vận tải qua eo biển Malacca trong
khi TQ chỉ khoảng 40-45% thì rõ ràng nước Nhật vô cùng âu lo khi TQ làm chủ
hoàn toàn trên biển Đông, vì vậy bên cạnh việc tăng cường khả năng quân sự
trên biển, Nhật Bản có chính sách củng cố kinh tế cho Việt nam-- mặc dù nền
kinh tế của Nhật Bản đang rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng-- qua động
thái tăng viện trợ ODA và thúc đẩy đầu tư mậu dịch hai chiều Nhật-Việt trong
vai trò đối tác chiến lược là điều không nằm ngoài dự kiến của nhiều người.
Nói cách khác, giúp Việt nam phát triển vững mạnh bên bờ biển Đông, không bị
TQ lấn át là biện pháp góp phần bảo đảm an ninh năng lượng mang tính chiến
lược một cách lâu dài vì Nhật bản cũng là bạn hàng nhập dầu thô và than đá
từ Việt nam, nguồn cung cấp vừa gần lại vừa ổn định. Mặt khác, cuộc tranh
cãi về chủ quyền hòn đảo Senkaku (Diaoyu theo tiếng Hoa) ở vùng biển phía
đông Trung Hoa tạo ra một sự căng thẳng mới giữa hai nước Nhật-Trung mặc dù
lãnh đạo hai bên đã nhiều lần gặp gỡ, nổ lực thương thảo về việc cùng khai
thác nguồn khí đốt phong phú tại đây. “Kinh tế là sức mạnh lớn nhất và cũng
là điểm yếu nhất của TQ, và do đó nó là trục giao điểm của chính sách và
chiến lược của TQ. Để giữ vững phát triển kinh tế, TQ phải lệ thuộc ngày
càng tăng nguồn năng lượng và nguyên liệu từ nước ngoài. SLOCs ( viết tắt
của “Sea Lines Of Commerce” hay “Sea Lines Of Communication” tuyến vận tải
thương mại trên biển quốc tế) (10) cực kỳ quan trọng vì hầu hết ngoại thương
của TQ là qua đường biển, và TQ chỉ có chút ít thành công trong việc mở mang
đáng tin cậy đường ống dẫn dầu và khí từ Nga hoặc Trung Á. Do lấy năng lượng
làm nền tảng cho nền kinh tế, chính sách kinh tế của TQ tùy thuộc vào sự
thành công của chính sách năng lượng”(11) càng thôi thúc TQ dành bá quyền
trên biển Đông. GS Urano Tatsuo, vào thời điểm 1997, đã đưa ra nhận định rằng lãnh đạo của
TQ với chính sách cải cách và mở cửa kinh tế, bắt đầu chiến lược “trong thời
kì kinh tế biển của thế kỉ 21” với phương châm ưu tiên bảo vệ quyền lợi
trên biển trong chính sách quốc phòng, trong đó đặt việc “thu hồi” quần đảo
Trường Sa ngang với tầm quan trọng bảo vệ chủ quyền của TQ giành lại lãnh
thổ Đài Loan. Các nhà lãnh đạo TQ cho rằng nếu chủ quyền trên biển Đông
không được xác lập trước năm 2010 thì có nguy cơ phải giao lại vấn đề nầy
cho LHQ giải quyết—điều mà TQ không hề mong muốn—vì vậy năm 1992, chính phủ
TQ đã vội vã chính thức tung ra “đường lưỡi bò’ để xác định lãnh hải của
mình. Chương trình cụ thể của TQ gồm ba bước : (1) chiến thuật ngoại giao hòa bình
(2) lấy lại Trường Sa bằng vũ lực
(3) gây sức ép bằng sức mạnh quân sự trong khi triển khai đàm phán(12). Như đề cập ở dưới, hiện nay vấn đề Đài Loan nay đã bước vào thời kỳ hợp tác
giữa hai bờ biển, TQ đã rảnh tay và hòa hoãn với lực lượng canh phòng của Mỹ
ở Thái Bình Dương, điều đó sẽ là điều kiện “vô cùng” thuận lợi để tiến hành
bước (2) dùng vũ lực để cướp đoạt Trường Sa là khả năng có thể xảy ra bất cứ
lúc nào, chắc chắn TQ sẽ nhắm vào một thời điểm mà nội bộ đảng Cộng Sản Việt
Nam xảy ra vấn đề xung đột, bị phân hóa mất đoàn kết nghiêm trọng vì tranh
giành quyền lực, ngôi thứ trong quá trình chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng hay
một “biến cố” chính trị.

Chuỗi Ngọc Xanh của TQ
Quan hệ chiến lược tam giác giữa các nước Nhật-Mỹ với TQ càng kích thích hải
quân của PLA tăng cường với ngân sách quân sự ngày càng gấp bội
(13) đe dọa
đến phòng tuyến an ninh năng lượng của Nhật Bản-- một siêu cường về kinh
tế-- mỗi khi TQ có hành động lấn tới trên biển Đông, mở ra một cuộc chạy đua
vũ trang giữa các nước trong khu vực. Điều nầy có thể giải thích tại sao
nhiều phát biểu, điều trần tại Quốc Hội Hoa kỳ trong tháng 7/2009 vừa qua đã
đặt ra liên tiếp (14) vấn đề hải quân Hoa kỳ buông lơi cho TQ thao túng, ảnh
hưởng đến quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật cũng như Mỹ-ASEAN mà chuyến đi Thái lan
để tham dự hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 42 tại Phuket (Thái Lan) của
bà Ngoại trưởng Hillary Clinton là một dấu hiệu tích cực nhằm “cân bằng” và
xoa dịu nổi lo sợ của các nước ASEAN trước sự uy hiếp của chiếc “lưỡi bò” từ
TQ. Trong khi đó, với sách lược “tằm ăn dâu” và cô lập đối thủ, chiến thuật
ngoại giao mềm mỏng TQ được triển khai tích cực, xé lẻ từng nước ASEAN để
thương lượng việc hợp tác đầu tư-thương mại, kí kết các thỏa thuận song
phương với “chiếc gậy và củ cà rốt” trên tay hòng tách rời việc các nước
ASEAN hợp đồng tác chiến chống TQ, mặt khác không ngừng gây sức ép lên Việt
nam với nhiều biện pháp thô bạo như giam giữ các tàu thuyền đánh cá trên
biển Đông, gia tăng việc can thiệp bằng các đoàn cao cấp của Đảng lẫn nhà
nước, lấy cớ sang “thăm hỏi” liên tục, đẩy mạnh việc xuất hàng hóa trên biên
giới, hạn chế nông sản phẩm của VN dùng để đối lưu vì vậy kim ngạch nhập
siêu với TQ ngày càng phình to, không kể hàng loạt dự án cơ sở hạ tầng,
đường sá, nhà máy…bạc tỷ đô la chính phủ Việt Nam ưu tiên dành cho các tập
đoàn doanh nghiệp nước bạn (15).
Tìm hiểu tình hình của TQ ở biển Đông còn là điều cấm kị ?
Trong khi đó, ở Việt Nam, những thông tin về TQ được xem là nhạy cảm, tránh
né đến mức tối đa, các cơ quan truyền thông đều phải tuân theo gậy chỉ huy
của ban Tuyên giáo, hạn chế thông tin “ngoài luồng”(lề trái)…theo một tư duy
hết sức mâu thuẫn. Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam thường nhắc đi
nhắc lại “TS-HS là của VN” mỗi khi có động thái phủ nhận từ phía TQ nhưng
thanh niên mặc áo thun ghi “HS-TS là của VN” thì lại không được, việc bày tỏ
thái độ bất bình của nhân dân trước hành động ngang ngược của TQ bị xem là
điều cấm kị, phá rối “trật tự trị an”(!) Những kiến thức về chủ quyền của
nước ta trên biển Đông hầu như không được phổ biến, hay rất hạn chế trên
lĩnh vực thông tin đại chúng là điều vô cùng khó hiểu. Người dân đói thông
tin, vì thế cũng không thể trách cứ họ, nhât là lớp người trẻ thờ ơ trước
tình hình sôi bỏng khi nhà cầm quyền ra sức hạn chế ngoài những gì ban
Tuyên giáo đưa ra mà thôi như bài viết về “Lưỡi Bò” trên báo Tuổi Trẻ và
Thanh Niên của nhà báo “ Quốc Pháp” (một bút danh lạ hoắc)(16)
gần đây. Nhìn
vào sự thật nầy, chúng ta có thể thấy cách ứng xử đối với nhân dân giữa
chính quyền TQ và VN hoàn toàn khác nhau, người dân VN hoàn toàn nằm trong
thế “ngóng chờ” chỉ đạo một cách bị động. Nhiều người đã đặt câu hỏi “liệu khi nước nhà nguy biến, Trường Sa bị TQ lấn
chiếm thì chính quyền sẽ phải đối phó ra sao, hay chỉ xuôi tay van lạy” khi
chính sách đối ngoại cũng như nội trị nằm trong quĩ đạo của TQ, đường lối
“độc lập tự chủ” bị méo mó dưới sức ép của TQ. Nhìn vào số bài báo đề cập
đến vấn đề chủ quyền HS-TS ở nước ta và của người Việt trên diễn đàn quốc tế
thật ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay, không nói tới bài báo nghiên cứu
có tính chất học thuật lại càng hiếm hoi.

Chúng ta có Viện nghiên cứu TQ được xây dựng hơn 15 năm trước, Trung tâm
Nghiên cứu TQ thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã gần 6 năm nay, Ban Biên Giới
của chính phủ được thành lập từ lâu…thế nhưng khó tìm thấy được một vài tư
liệu đầy đủ khả dĩ có thể trình bày cho cộng đồng quốc tế trừ luận văn tốt
nghiệp TS sử học của Nguyễn Nhã (hiện đang được một tổ chức dân sự kêu gọi
chuyển ngữ sang tiếng Anh để phổ biến) hay tập tư liệu do ông Lưu Văn Lợi
biên soạn năm 1995(17) ! Có thể “có” nhiều nhưng vì là “bí mật quốc gia” nên
không công bố chăng ? Những nguồn tư liệu nước ngoài về vấn đề tranh chấp
chủ quyền biển đảo, luận bàn chiến lược quân sự, an ninh năng lượng… trên
biển đông của TQ, Hoa Kỳ, Nhật bản rất phong phú nhưng mấy ai tiếp cận được,
kể cả các nhà nghiên cứu sử học hiện đại ở đại học, viện nghiên cứu trong
nước. Ngay như tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu về chủ quyền hai quần đảo HS-TS
của GS Monique Chemillier – Gendreau (Pháp) (do Nhà xuất bản Chính Trị Quốc
Gia Hà Nội ấn hành 1998 gần đây đã được tổ chức dân sự tình nguyện huy động
đánh máy lại để phổ biến !)(18) với những nhận định khách quan rất có lợi
cho Việt nam và mang tính thuyết phục cao nhưng tiếc thay mấy ai được biết .
Rằng : ”Trong lịch sử TQ mấy ai được biết không có một căn cứ nào chứng minh một
chính phủ của nước nầy cho đến giữa thế kỉ 20 đã từng tiến hành hành động vũ
lực đối với quần đảo TS, những mảnh dất nằm rải rác trên 160,000 km2 trên bề
mặt đại dương. Nhưng điều đó có hề gì ! TQ đã viện dẫn những quyền lịch sử
nhằm chuẩn bị cơ sở cho việc tiến hành kiểm soát tại chỗ…các đảo đó đã từng
nằm trong khu vực kiểm soát trên biển của các hoàng đế An Nam trước khi thực
dân đến…Vào thời điểm 1988 TQ đã bắt đầu thực hiện phần thứ hai kế hoạch của
họ ( sau khi đã chiếm đóng Hoàng Sa vào năm 1974--HLT chú), phần khó nhất,
là kiểm soát toàn bộ vùng biển nằm ở sườn phía Nam của mình”
(19)
Điều đó cho thấy chính quyền Việt nam chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan
trọng của việc nghiên cứu, tổng kết và theo dõi những động thái tranh chấp ở
một vùng biển vô cùng quan trọng về chiến lược kinh tế và an ninh khu vực mà
bờ biển nước ta kéo dài thềm lục địa trên hơn 3600 km bờ biển. Thiết nghĩ đã
đến lúc Nhà nước nên cấp bách huy động mọi lực lượng nghiên cứu khoa học về
các khía cạnh liên quan đến vấn đề biển đảo (20) , không ngừng nâng cao khả
năng công bố thành quả ra nước ngoài, ưu tiên trong chính sách đối ngoại
lẫn an ninh quốc phòng, tạo ra một không khí trao đổi học thuật về vấn đề
biển đông sâu rộng không những trong giới nghiên cứu mà còn trong nhân dân,
không xem đây là điều cấm kỵ, cho phép mọi người được trình bày suy nghĩ và
mối quan tâm của mình trước những vấn đề hệ trọng của đất nước mà không bị
nghi ngờ hay “trừng phạt” vô lý. Tất nhiên, những động thái “kích động”,
“bài Hoa” hay lợi dụng để xuyên tạc các chính sách của nhà nước (nếu có) có
thể xuất hiện nhưng chúng ta có thể tin tưởng với sự phản biện của những
người có quan điểm đứng đắn, bảo vệ quyền lợi của đất nước sẽ là nền tảng để
xây dựng sự đồng thuận vững chắc, không cần đến những biện pháp chế tài bạo
lực hay đàn áp tai tiếng. Cần nhấn mạnh rằng, trong tình hình hiện nay, việc nghiên cứu tổng hợp các
xu thế và động thái chính trị, ngoại giao và quân sự của các nước siêu
cường và trong khu vực trên biển Đông là vô cùng cần thiết và bức bách, cần
được ưu tiên hơn cả việc chứng minh “HS-TS là của VN” về mặt cứ liệu lịch sử
một cách kinh điển, ngõ hầu tìm ra chiến thuật và chiến lược đối phó kịp
thời trước mắt cũng như lâu dài. Trung tá Christopher J.Pehrson, chuyên gia
nghiên cứu không quân tại Lầu Năm Góc (Hoa Kỳ) cảnh báo “Mối quan tâm và ảnh
hưởng ngày càng tăng của TQ từ vùng biển Nam Trung Hoa qua Ấn Độ dương và
tiến vào vịnh Ả Rập được mô tả như là một "Chuỗi Ngọc", tiếp cận tiềm năng
đó sẽ mang đến cho Mỹ sự khiêu khích mang tính khu vực rất phức tạp”, rằng
Mỹ “phải cấu trúc lại lực lượng sau khi chiến tranh lạnh kết thúc để đối phó
với sự trối dậy của TQ”, hi vọng “ với nghệ thuật lãnh đạo táo bạo và sự
khôn ngoan biết nhìn xa trông rộng, Mỹ và TQ có thể gặt hái những phần
thưởng của sự hợp tác chiến lược và ngăn ngừa được tai họa một cuộc đối đầu
thù địch”(21). Quốc Hội Việt
Nam cần phải lên tiếng
Việc Quốc hội nước VN nên tạo cơ hội lên tiếng chính thức một lần nữa về chủ
trương và phương châm của nước Việt nam trong vấn đề chủ quyền và cách ứng
xử trong hòa bình, hợp lý và hợp pháp như đã từng tuyên khi phê chuẩn Công
ước LHQ về Luật biển năm 1982 trước đây , như sau:
“Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền
lãnh thổ cũng như các hoạt động khác liên quan đến Biển Đông thông qua
thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn
nhau, tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật biển năm
1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán
để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ
nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng
vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực”(22) Bản tuyên bố nầy được nhắc lại không hề thừa, không những tại các buổi gặp
gỡ trên diễn dàn quốc tế mà còn cần được phổ biến rộng rãi để cộng đồng quốc
tế hiểu được lập trường trước sau như một với thái độ rõ ràng trước những
khiêu khích của TQ, đồng thời là cơ sở để tạo sự đồng thuận trong nhân dân.
Thiết nghĩ hành động tích cực mà Việt Nam có thể làm là nhận lãnh vai trò
điều phối trong khu vực về vấn đề tranh chấp giữa các nước trên biển Đông,
kêu gọi tổ chức một hội nghị quốc tế gồm các nước APEC(Châu á-TBD) và ASEAN
để thương thảo chung quanh việc tranh chấp nầy là một trong những biện pháp
cô lập khuynh hướng dùng vũ lực để giải quyết cũng như tạo sự đồng thuận
trong việc giữ nguyên trạng và ổn định trên biển Đông, đảm bảo chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ của các nước trong khu vực đồng thời ngăn chận xung đột vì
quyền lợi ích kỷ, mưu toan độc chiếm quyền làm bá chủ trong khu vực, đảm bảo
việc đi lại bình thường của thương thuyền trên tuyến vận tải thuộc hải phận
quốc tế. Cách đây hơn 10 năm, GS Monique Chemillier-Gendreau đã phân tích:
“Việt Nam có thế sẵn sàng đưa vấn đề ra trước cơ quan tài phán thích hợp
nhất để giải quyết tranh chấp nầy giữa các quốc gia, cụ thể là là Tòa án
pháp lý quốc tế. Trước đây Pháp đã hai lần, 1937 và 1947, đề nghị TQ đưa ra
tòa án quốc tế hay trọng tài nhưng nhà cầm quyền TQ đã làm ngơ trước các đề
nghị đó”(23) Dẫu biết rằng TQ rất khó chịu không muốn vấn đề chủ quyền lãnh hải đưa ra
bàn thảo đa phương vì bản thân đòi hỏi của TQ mâu thuẫn và vô lý ngay trong
lập luận của họ(24) , trước sau họ chỉ muốn ‘song phương” với lí do đã nêu ở
phần trên nhưng chủ trương “đa phương hóa” vấn đề thương thảo về một giải
pháp cho biển Đông là một nhu cầu và là biện pháp hữu hiệu nhất mà ta có thể
vận dụng cho dù phía TQ có thái độ “thoái thác”.
 Hội nghị quốc tế San Francisco
1951 Tại phiên họp của Hội Nghị San Francisco ngày 7/9/1951 Thủ
tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tuyên bố
”Chúng tôi phải tranh thủ mọi cơ hội để
chặn đứng những mầm xung đột, xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các
quần-đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã luôn luôn từ xưa thuộc lãnh-thổ Việt-Nam”
và điều nầy đã được ghi vào văn kiện của hội nghị với đa số phiếu tán thành
và đã có 46 phiếu chống 3 phiếu thuận, bác bỏ đề nghị của Ngoại Trưởng Liên
Sô Andrei Gromyko đệ trình tu chính án để yêu cầu Hội Nghị trao trả Đài
Loan, Bành Hồ, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) cho TQ ! Sau đó TQ
ra công bố phủ nhận kết quả nầy với lý do đại diện chính phủ TQ đã không
được mời tham gia Hội nghị (25). Văn kiện của Hội nghị San Francisco cho
thấy đa số nước thành viên tham gia đã đứng về quan điểm của Quốc gia
VN(thuộc Pháp), phát biểu của ông Trần Văn Hữu không phải là vô ích, xác nhận trước
cộng đồng quốc tế chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng
Sa-Trường , phần nào làm rõ sự hiếu chiến, thái độ bất chấp của nhà cầm
quyền TQ qua những phát biểu của Chu Ân Lai sau nầy(26).
Xu thế quốc tế hóa việc thương thảo giải quyết vấn đề trên biển Đông là tất
yếu để ngăn ngừa xung đột bằng vũ lực
Việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấp trên biển đông đã được Phó Thủ tướng
thường trực kiêm bộ trưởng quốc phòng Singapore Teo Chee Hean hôm 04/08/2009
phát biểu “những căng thẳng gần đây trên biển Đông đã cho thấy rằng, các
quốc gia trong khu vực cần phải ngồi vào bàn đàm phán và giải quyết những
vấn đề tranh chấp theo luật biển của quốc tế”(27) . Loay hoay tìm kiếm một
giải pháp song phương là cách giải quyết tạm thời chỉ đem lại lợi ích đơn
phương cho TQ, điều mà chính các nước trong khu vực rất cảnh giác và có thể
tạo ra sự đố kỵ của những nước trong cùng tổ chức ASEAN. Chắc chắn đây không
phải là một sự lựa chọn thông minh của một nước vốn nhỏ bé và yếu thế gấp
trăm lần so với người láng giềng vĩ đại. Hành động phối hợp giữa đại diện
Chính phủ hai nước VN và Malaysia trình bày Báo cáo chung VN - Malaysia về
ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý ở khu vực phía nam biển Đông tại
phiên họp toàn thể lần thứ 24 của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên
Hiệp Quốc trong hai ngày 27 - 28.8.2009 ở New York (Mỹ) vừa qua là một minh
chứng cho thấy không chỉ chúng ta mà các nước láng giềng quanh biển đông có
chung một nguyện vọng (28)

Chiếc tàu ngầm đầu tiên của Malaysia lớp Scorpene mua của Pháp chuẩn bị hành
trình về nước Nguyên Đại sứ Võ Anh Tuấn, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị
Luật biển Liên hiệp quốc lần thứ III cho biết ” với Malaysia, đã thành lập
cơ chế khai thác chung vùng thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước (1992). Với
Thái Lan, Việt Nam đã ký Hiệp định phân ranh giới trên biển giữa hai nước
trong Vịnh Thái Lan (1997). Với TQ, ta đã ký Hiệp định phân định lãnh hải,
vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ
(2000). Với Indonesia, đã ký Hiệp định phân định anh giới thềm lục địa giữa
hai nước (2003)…” (xem chú thích 22).
Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhắc lại
“đầu năm 2009 Việt Nam và Malaysia đã ký bản ghi nhớ xây dựng báo cáo chung
về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý. Cả hai nước hy vọng sẽ giải
quyết những vụ vi phạm về đánh bắt cá thi thoảng xảy ra giữa ngư dân hai
nước trên tinh thần hữu nghị và hợp tác.Ngoài ra vùng khai thác chung giữa
Thái Lan và Malaysia rộng 7.250 km2 có 800 km2 liên quan đến Việt Nam. Ba
nước đã thỏa thuận sẽ cùng nhau giải quyết khu vực này trên tinh thần hữu
nghị và hiểu biết lẫn nhau”(29) cho thấy xu thế đối thoại giữa các nước
trong khu vực về các vấn đề trên biển Đông đang được cụ thể hóa để giải
quyết bằng giải pháp“cùng thắng”(win-win solution) trong khi TQ luôn tìm
cách tránh né việc thương thảo đa phương như đã đề cập ở trên. Nhưng thử đặt
vấn đề rằng sáng kiến mở ra một hội nghị quốc tế không hạn chế những nước
tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, mà với thành phần tham dự đông đủ của cả
khu vực Châu Á-TBD(gồm các nước trong APEC) tạo điều kiện cho TQ dễ dàng
tham gia và tranh luận cùng tiến tới một thỏa thuận khung (hay chí ít là xác
nhận sự đồng thuận đã có từ năm 2002 về Qui tắc ứng xử trên biển Đông) lâu
dài và công bằng phải chăng là một đề xuất mà chúng ta có thể trình bày
trước cộng đồng quốc tế. Thời gian để hành động không còn nhiều nếu như
những phân tích ở trên của GS Urano Tatsuo dự kiến là chính xác, nhiều khả
năng báo hiệu TQ đang dần chuyển sang kế hoạch lấn chiếm bằng vũ lực để “thu
hồi” toàn bộ quần đảo Trường Sa, giai đoạn 2 trong chiến lược làm chủ biển
Đông của lãnh đạo TQ đã vạch ra từ năm 1995. Với tâm thế bảo vệ hòa bình, an ninh cho khu vực cũng như cho bản thân mình,
vì quan hệ láng giềng tốt đẹp với các nước chung quanh vùng biển Đông, trong
đó TQ là đối tác quan trọng hàng đầu, chúng ta có quyền tin tưởng rằng Việt
Nam, một dân tộc hiếu hòa, thân thiện với mọi người, có thể đóng vai trò
quan trọng với tư cách thành viên của Hội Đồng Bảo An LHQ, góp phần tích cực
xây dựng biển Đông thành một biển “Thái Bình” của cộng đồng quốc tế, như
cái tên vốn có của nó. Việc cảnh giác “ngay cả khi giới lãnh đạo TQ thành
tâm trong các ý đồ hòa bình hiện nay, chúng ta cũng không thể nào tiên đoán
được chính quyền TQ sẽ theo đuổi các quyền lợi của mình như thế nào trong
nhiều thập kỷ tới, hoặc họ sẽ hành động ra sao trong một môi trường quốc tế
đã thay đổi”(30). như Christopher J.Pehrson viết trong bản báo cáo của mình
cho thấy những âm mưu “bành trướng” của TQ là mối đe dọa lớn, trong đó trọng
tâm chiến lược không còn quanh quẩn chung quanh đảo Đài Loan mà đang vươn
xa theo sự trỗi dậy về kinh tế và quân sự của TQ trong những thập kỷ tới mà
Việt Nam là một bàn đạp lý tưởng ?! Thiết nghĩ phương châm “16 chữ vàng” và tinh thần “4 tốt” trong quan hệ
Việt-Trung mà lãnh đạo hai nước nhấn mạnh chỉ có ý nghĩa thiết thực nếu đây
là cơ sở vững chắc để xây dựng lòng tin lẫn nhau, làm phát triển, ổn định
và phồn vinh cho dân tộc Việt Nam cũng như người bạn láng giềng TQ khi nền
độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ kể cả biển đảo của nhân dân Việt Nam
được tôn trọng, vì lợi ích của hai dân tộc Việt-Trung, góp phần củng cố hòa
bình lâu dài cho khu vực và thế giới.
Hồng Lê Thọ 9/2009
(*)Tư tưởng Đại Hán hình thành từ Triều đại đầu tiên là nhà Thương, định cư
dọc theo lưu vực sông Hoàng Hà, vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12
TCN. Nhà Thương bị nhà Chu chiếm (thế kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt
nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền cai quản các lãnh thổ nhỏ hơn cho các
lãnh chúa… vào thời Xuân Thu, nhiều quốc gia độc lập đã trỗi dậy và liên
tiếp giao chiến, và chỉ coi nước Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa.
Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng
đế vào năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia TQ thống nhất về thể chế chính
trị, chữ viết và có một ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch sử TQ(
http://vietphattour.com/vi/node/220) và Lữ Phương trong”Ba bài viết về Việt
Nam “đổi
mới” (http://www.viet-studies.info/kinhte/LuPhuong_ChuNghiaDanTocVietNam.htm)

Đường màu đỏ: chủ quyền lãnh hải theo chủ trương của TQ
trên Thái Bình Dương ==============================
Chú thích:
(1)Phạm Hoàng Quân”Chủ quyền cương giới biển và Hoàng Sa – Trường Sa”
http://www.biendao.org/news.php?do=detail&id=6
(2)xem Dương Tác Châu “紛争南沙諸島”(Tranh chấp ở quần đảo Trường Sa) NXB
Shinhyoron(Tokyo) 1994 (3) Hồng Lê Thọ”Rừng vàng biển bạc…Nanh vuốt của những đoàn “tàu” lạ
…tháng 8/2009
http://vietsciences.free.fr/vietnam/bienkhao-binhluan/rungvangbienbac.htm
(4)Con thuyền của Fujiwara no Kiyokawa và Abe no Nakamaro gặp bão trôi dạt
xuống vùng đất lạ phương Nam. Sách Tục Nhật Bản kỷ (chính sử của Nhật Bản
hoàn thành vào năm 797) viết: “… Lúc trở về gặp gió ngược trôi dạt đến tận
Hoan châu, phía nam của nhà Đường”. Nước ta lúc bấy giờ đang bị TQ đô hộ với tên gọi An Nam. Châu Hoan đối với
Nhật Bản rất xa lạ, rất khó xác định, nhưng đối với người Việt thì Châu Hoan
cùng với Diễn, Ái là khá quen thuộc. Châu Hoan tức là vùng Hà Tĩnh, Việt Nam
hiện nay. Tiếc là khi thuyền của Fujiwara và Abe dạt đến vùng châu Hoan (năm 754), thì
chắc là do bị hiểu lầm, nên đã có cuộc một chạm trán khá gay go giữa người
trên tàu với dân địa phương. Cuối cùng thì một số người trên tàu bị bắt. Sau
khi hiểu ra, số này được giúp đỡ đưa về TQ. Fujiwara no Kiyokawa và Abe no
Nakamaro nằm trong số đó. Abe trở lại Trường An, được vị vua mới là Đường
Túc Tông tiếp tục cho làm quan với chức Tả tán kỵ thường thị - một chức quan
có nhiệm vụ giúp việc bên cạnh nhà vua : cố vấn, can gián, tấu trình và ứng
đối… Ông cũng được phong mấy chức quan có liên quan đến An Nam như: Trấn Nam
(An Nam) đô hộ, rồi An Nam tiết độ sứ. Về việc này giới sử học Nhật Bản vẫn
còn chưa thống nhất: một bên thì cho Abe làm quan ở An Nam thật (quan điểm
này trước 1945 bị nhóm có tư tương cục hữu lợi dụng , cho Abe là người Nhật
đã từng cai trị An Nam từ trướcthế kỷ 10), nhưng một bên khác, đưa ra nhiều
lập luận có tính thuyết phục hơn, cho rằng: những chức quan liên hệ đến An
Nam phong cho Abe chỉ có tính chất danh dự, còn Abe vẫn làm việc ở Kinh đô.
Vậy là cho đến cuối đời, hơn 15 năm sau khi lưu lạc ở An Nam trở về, tác giả
bài tanka về “vầng trăng núi Mikasa” không quay về cố hương Nhật Bản nữa.
Abe no Nakamaro mất vào năm 770 (Đại Lịch thứ năm đời Đường Đức Tông) tại
Trường An, thọ 73 tuổi. Sau khi mất ông được truy tặng chức Lộ Châu đại đô
đốc(5). Còn vị “Thi Tiên” bạn ông - Lí Bạch, đã mất trước Abe 8 năm- năm
762. http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?p=79404
và http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,32383
(5) Ông Kawamura Sumihiko, nguyên Phó Đề Đốc Hải quân Nhật bản phân tích “từ
khi có chính sách mở cửa TQ từ một vị trí nước lớn dựa trên đất liền đã trở
thành một nước ngoại thương hùng mạnh dựa cải cách vào hàng hải từ đó tăng
cường việc phòng thủ quyền lợi kinh tế các tỉnh duyên hải, chiếm đoạt tài
nguyên ở đại dương và liên tục mở rộng tầm kiểm soát vùng biển và vùng trời
bằng sức mạnh hải và không quân. Lý luận nền tảng cho hành động nầy là khái
niệm về một “đường biên giới chiến lược mới” cho rằng đường biên giới quốc
gia của họ sẽ phải thay đổi ngang tầm với sức mạnh của TQ và môi trường(tình
hình chính trị) bất chấp luật lệ quốc tế”chính vì vậy mà TQ muốn đẩy nhanh
tiến độ đàm phán và thương lượng về đường biên giới dài 1400 km trên đất
liền (đã kết thúc năm 2008) và đường biên giới trên vịnh Bắc Bộ với Việt Nam
? 中国の海洋戦略―川村研究所代表/元海将補・ 川村純彦氏に聞く (Phỏng vấn Viện trưởng viện nghiên cứu
Kawamura Sumihiko—Nguyên Phó Đô Đốc Hải quân NB-- về chiến lược biển của TQ)
http://www.asahi-net.or.jp/~VB7Y-TD/k6/160826.htm
(6)”Người Hoa Tại Việt Nam Qua Các Thời Đại”
vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=print&sid=6485
“Làng Minh Hương”của Huỳnh Ngọc Trảng
http://www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view&id=1171&Itemid=118
(7)Hoàn cầu Thời Báo
http://mil.news.sina.com.cn/2009-07-04/1007557641.html
(8)”Tham vọng hàng hải của TQ” Olivier Zajec Meta (Le Monde Diplomatique)
http://hoangsa.org/forum/archive/index.php/t-7073.html
(9) Tuổi Trẻ ngày 3/9/2009
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=334923&ChannelID=3
(10)xem thêm “Sea Lane Security and U.S. Maritime Trade: Chokepoints as
Scarce Resources” Donna J. Nincic
http://www.ndu.edu/inss/books/Books_2002/Globalization_and_Maritime_Power_Dec_02/09_ch08.htm
“in modern terms SLOCs might properly be conceived as sea lines
of commerce. Although the traditional and military term remains sea lines of
communication (SLOCs), the civilian maritime community frequently refers to
such zones of transit as sea lanes of communication. To combine the
commercial perspective with the imperative to defend maritime commerce using
military forces, the author deliberately chooses sea lanes of communication
and the acronym SLOC for use throughoutthispaper”
(11)String of Pearls: Meeting the challenge of china’s rising Power across the asian
littoral, 7/2006 Christopher J. Pehrson
www.strategicstudiesinstitute.army.mil/pdffiles/PUB721.pdf
(12)”南海諸島国際紛争史” 浦野起央著 NXB Tósui, Tokyo 1997—International Conflict Over The
South China Sea, by Dr.Urano Tatsuo(Nihon University) p.1055
(13) “China’s Power and Will:The PRC’s Military Strength and Grand
Strategy” by June Teufel Dreyer
www.fpri.org/orbis/5104/dreyer.chinaspowerwill.pdf
“Chính phủ TQ đã biện hộ cho việc gia tăng chi phí quốc phòng lấy cớ rằng đó
chỉ bù lại nạn lạm phát gia tăng trong nước. Tuy nhiên, mức tăng quốc phòng
này vẫn diễn tiến ngay cả khi nền kinh tế giảm phát, và thường vượt chỉ số
lạm phát. Trong thập kỷ trước 2006, chi tiêu quốc phòng hàng năm tăng gấp
hai con số -bình quân là 13,7%- sau khi trừ đi phần lạm phát. Hậu quả tích
lũy của thập niên này là gần như gấp 4 lần chi phí quốc phòng đòi hỏi thực
sự “. Ngày 4/3/2009 theo BBC,TQ cho biết ngân sách quốc phòng của họ sẽ tăng một
cách ‘khiêm tốn' trong năm nay, thêm 14.9%, lên 480.6 tỷ nhân dân tệ, tương
đương 70.2 tỷ USD trong năm 2009.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/03/090304_chinesemilitarybudget_tc2.shtml
(14)”Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher”
Vụ an ninh Á châu và Thái Bình Dương
Văn phòng bộ trưởng Quốc phòng và “Điều trần của Phó phụ tá Bộ trưởng Quốc
phòng Robert Scher ”Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ
trên Bauvinal.info.free.fr
(15) như (2) (16)Trước yêu sách 80% diện tích biển Đông của TQ : Không chấp nhận đường
"lưỡi bò”
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=332309&ChannelID=3
(17)”CUỘC TRANH CHẤP VIỆT – TRUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA”
của ông Lưu Văn Lợi do nhà xuất bản Công An Nhân Dân Hà Nội ấn hành năm 1995
hiện có bản đánh máy lại trên Bauvinal.info,free.fr
(18)”CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA “của GS Monique
Chemillier – Gendreau do Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Hà Nội ấn hành 1998
hiện có bản đánh máy lại trên Bauvinal.info.free.fr
(19)Trích từ Tài liệu đã dẫn ở (18), trang 8 & 9
(20) Đoan Trang “Vấn đề Trường Sa - Hoàng Sa: cần một nỗ lực tổng hợp”
http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5518/index.aspx
(21)như chú thích (12) (22) Võ Anh Tuấn, Nguyên Đại Sứ, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội
nghị Luật biển Liên hiệp quốc lần thứ III
http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Luat-phap-QT-va-chu-quyen-cua-VN-doi-vo-TS-HS.aspx
(23) như (18) trang 15
(24)”TQ đã tự nhận những yêu sách của mình ở biển Đông là vi phạm luật
quốc tế?” - 31/08/09 “Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao TQ Tần Cương lại cho rằng, Nhật
Bản dùng bãi đá này làm cơ sở để chủ trương quản lý diện tích rộng lớn
của vùng biển này, đồng thời hy vọng thông qua cách làm nhân tạo để hỗ trợ
và thúc đẩy chủ trương của mình. Điều này không phù hợp với luật quốc tế đã
công nhận, cũng đã ảnh hưởng tới lợi ích cộng đồng quốc tế. Theo ông Tần
Cương, bãi đá ngầm Okinotori không phải là một hòn đảo mà một tảng đá. Theo
“Công ước Luật biển LHQ” bản thân nó không có khu kinh tế độc quyền và thềm
lục địa 200 hải lý”. Trên thực tế TQ đã xây các bờ kè nhân tạo trên các hòn đá san hô ở Trường
Sa, từ đó vẽ ra thềm lục dịa 200 hải lý chung quanh để xác định chủ quyền
lãnh hải ở biển Đông thì sao ? Không vi phạm với Luật quốc tế chăng.
 Hòn đá
Okinotori
http://bauvinal.info.free.fr
(25)Tại Hội-nghị San Francisco, ngày 7-9-1951, Thủ-Tướng Chính-Phủ Trần
Văn Hữu (thuộc chính quyền Bảo Đại 1950-1952), Trưởng Phái- đoàn Việt-Nam,
đã long trọng tuyên bố trước 51 phái-đoàn ngoại-bang như sau : “Et comme
il faut franchement profiter de toutes les occasions
pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles
Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet-Nam”.
Lời tuyên bố đó đã được Hội-nghị San Francisco long trọng ghi vào biên bản
và trong tất cả 51 phái-đoàn phó hội, không có một phái-đoàn nào
phản đối gì cả. Trước đó, ngày 5-9-1951, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko
đã đệ trình tu chính án để yêu cầu Hội Nghị trao trả Đài Loan, Bành Hồ, Tây
Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) cho TQ. Tuy nhiên tu chính án này đã bị
Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận.
 Ông bà đại sứ Võ Văn Sung (Pháp) tiếp cụ Trần Văn Hữu - cựu thủ tướng thời
Bảo Đại, tại Đại sứ quán VN Dân chủ cộng hòa
(Trích: Sử Địa 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Sài Gòn,1975)
(26)PHỦ NHẬN HOÀN TOÀN QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC.... Đinh Kim Phúc 5/2009
http://www.baokhanhhoa.com.vn/Khanhhoa350nam/2004/01/2491/
(27)http://www.straitstimes.com/ Breaking2BNews/Singapore/Story/STIStory_412380.html
(28)http://www.biendao.org/news.php?do=detail&id=737 bản tin của Việt
nam Thông tấn xã (29) Đinh Kim Phúc”Chủ quyền quốc gia Việt Nam trênVùng Biển Đông và hai
quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa” 02/08/2009
http://forums.thuyngaonline.com/tm.aspx?m=860033
(30) như chú thích (9) |