Từ khi
Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, đất nước ta bước
vào thời loạn, xen giữa
nhà Ngô và
nhà Đinh, kéo dài hơn 20 năm (944-968), tồi tệ nhất
là giai đoạn (966-968) với thập nhị sứ quân và kết thúc
khi
Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân, thống nhất đất
nước, lập ra nhà nước
Đại Cồ Việt. Chính sử ghi chép quá ít về thân sử của
các vị sứ quân. Còn thân sử vị sứ quân Lý Khuê, hùng
trưởng của vùng Siêu Loại (Thuận Thành) Bắc Ninh, lại
càng không rõ ràng. Năm 2010, chúng tôi mạnh dạn hình
thành một giả thuyết táo bạo; rằng sứ quân Lý Khuê là
ông nội của Lý Công Uẩn
trong tình hình tư liệu lịch sử về Lý Khuê quá hiếm. Tất
nhiên, tính đến nay giả thuyết vẫn còn giả thuyết, suốt
năm 2010 chúng tôi chưa tiếp cận một tư liệu lịch sử
nào giúp cho giả thuyết tăng sức thuyết phục. Tuy
nhiên, gần đây qua một số tư liệu mới, được các nhà
nghiên cứu phát hiện và công bố, chúng tôi xử lý những
thông tin rút được từ những tư liệu ấy thì thấy giả
thuyết của chúng tôi có khả năng kiểm chứng được. Với
chiều suy nghĩ ấy, chúng tôi tiếp tục gia cố những luận
điểm của giả thuyết công tác và xin trình bày trong bài
nghiên cứu này.
Chúng tôi xin tóm tắt các luận điểm của giả thuyết sứ
quân Lý Khuê là ông nội của Lý Công Uẩn và thảo luận
từng luận điểm, có bổ sung những chi tiết rút ra từ
những thông tin mới như sau:
Luận điểm 1:
Có một tộc họ Lý lâu đời vùng Diên Uẩn, địa bàn
cư trú phía đông Cổ Loa, bắc sông Đuống, nam sông Cầu,
luôn kỳ vọng độc lập dân tộc Việt và chấn hưng Phật giáo
Giao Châu.
Thời Bắc thuộc chỉ một số quan thứ sử, thái thú… họ
Lý người Trung Quốc được cử sang Giao Châu, còn đại bộ
phận cư dân họ Lý bản địa, quần tụ với mật độ cao ở
phía đông, phía tây thành Cổ Loa, tả ngạn sông Đuống,
hữu ngạn sông Cầu, tức ở châu Diên Uẩn (sau đổi thành
châu Cổ Pháp).Một bộ phận họ Lý quần tụ ở tây và tây
nam Cổ Loa. Họ Lý Diên Uẩn (Cổ Pháp) thuộc hàng thế
gia vọng tộc, có mưu đồ độc lập cho nước Việt, chấn hưng
Phật giáo. Xa đời thì có Lý Nam Đế (
503–548),
ông tên thật là Lý Bí, Lý Bôn, người
làng Thái Bình, phủ Long Hưng (khoảng
Thạch Thất và thị xã
Sơn Tây,
Hà Nội), là vị
hoàng đế sáng lập
nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước
Vạn Xuân trong
lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 541 đến 547. Lý Nam
Đế đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân
đô hộ phương Bắc, rồi xưng là Nam Đế
(vua nước Nam), đặt tên nước là
Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên. Thành Long Biên xưa
còn dấu tích tại xã Hoà Long huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Ninh, nay là xã Hoà Long,thành phố Bắc Ninh và qua ảnh
vệ tinh thấy rõ dấu tích một dạng thành cổ. Khi Lý Nam
Đế bị bại, Triệu Quang Phục tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng
chiến chống lại nhà Lương thắng lợi, nước ta lại độc lập
và Triệu Quang Phục trở thành
Triệu Việt Vương (548-570) đóng đô ở Long Biên
sau chuyển qua Vũ Ninh. Nhưng rồi Triệu Việt Vương lại
bị Lý Phật Tử bức hại với bài bản mà
Triệu Đà từng hại An Dương Vương. Lý Phật Tử giành ngôi,
trị vì từ 571 đến 602, sử gọi là Hậu Lý Nam Đế của nhà
Tiền Lý. Hậu Lý Nam Đế đóng đô ở Phong Châu, giao thành
Long Biên cho cháu Lý Đại Quang (con
của Lý Thiên Bảo) trấn giữ, giao thành Ô Diên cho
Lý Phổ Đỉnh quản lý. Trong hậu bán thế
kỷ VI, nước ta độc lập với hai triều vua Tiền Lý, xen
giữa có Triệu Việt Vương, nên người họ Lý được ưu đãi,
chẳng hạn các hộ người họ Lý chỉ đóng nửa thuế so với
người họ khác và tất nhiên nhiều người họ Lý nắm các
nguồn lợi kinh tế ở Giao Châu, có uy vọng với quần
chúng.

Ảnh chụp vệ tinh vùng có dấu tích thành Long
Biên, nơi Lý Nam đế đóng đô
Như thế đến thế kỷ VI họ Lý Lĩnh Nam đã trở thành một
họ lớn có uy vọng ở Giao Châu, người họ này có thế lực
chính trị, kinh tế, thậm chí quân sự. Dẫu bị Bắc thuộc
trở lại, họ Lý không còn làm vua nhưng thế lực kinh tế
chính trị của họ Lý vẫn còn lớn, cho nên khoảng 130 năm,
tính từ Lý Phật Tử, bốn năm đời con cháu họ Lý Lĩnh Nam
thường có lệ chỉ đóng nửa thuế.Khi Bắc thuộc trở lại,
các thứ sử Giao Châu của Tùy, Đường muốn vỗ yên Giao
Châu, “lấy lòng” họ Lý nên giữ lệ cũ là chỉ thu nửa
thuế đối với người họ Lý . Khi Đô hộ Lưu Diên Hựu thay
đổi lệ cũ, họ Lý Lĩnh Nam bất mãn, âm mưu khởi nghĩa.
ĐVSKTT chép: “ Đinh Hợi, [687], (Đường Trung Tông
Triết, Tự Thánh năm thứ 4). Mùa thu, tháng 7, các hộ
người Lý ở Lĩnh Nam theo như lệ cũ nộp nửa thuế, Đô Hộ
Lưu Diên Hựu bắt phải nộp cả. Các hộ người Lý mới oán
giận, mưu làm loạn. Lý Tự Tiên làm chủ mưu, Diên Hựu
giết đi. Dư đảng là bọn Đinh Kiến họp quân vây phủ
thành. Trong thành binh ít không chống nổi, đóng cửa
thành cố giữ để đợi quân cứu viện. Đại tộc ở Quảng Châu
là Phùng Tử Do muốn lập công, đóng quân không đến cứu,
Kiến giết Hựu. Sau Tư mã Quế Châu là Tào Trực Tĩnh đánh
giết được Kiến” (s đ d, tr. 189). Sau biến cố này,
con cháu Lý Tự Tiên và Đinh Kiến phải mai danh ẩn tích,
có người phải vào chùa làm sư. Người họ Lý Giao Châu,
chủ yếu là họ Lý Diên Uẩn, vẫn bí mật tìm cách thoát
khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Đơn cử sư
Định Không ( 720-808), người họ Lý, đệ tử của sư Pháp
Hiền, có ước vọng họ Lý vùng Diên Uẩn ( Cổ Pháp) sẽ làm
vua, nghĩa là nước Việt độc lập và vua Lý sẽ chấn hưng
Phật Giáo.Những chùa cổ nổi tiếng ở Bắc Ninh thường được
khai sơn trong khoảng thời gian từ thời Lý Nam Đế đến
hết thời Ngô và phần lớn có sự đóng góp công sức của họ
Lý châu Diên Uẩn. Năm 2011, giáo sư Nguyễn Việt trong
bài “Khám phá dòng họ Lý từ khởi nguồn đến Lý Công Uẩn”
về cơ bản “đồng quan điểm” của chúng tôi, khi viết: “Chúng
ta cần nhấn mạnh vai trò họ Lý thời bắc thuộc, bởi trong
thời kỳ này có nhiều danh nhân họ Lý là sợi dây gìn giữ
và phát triển bản chất cát cứ, độc lập của Giao Chỉ và
cuối cùng đã góp phần tạo lập vương Triều Lý, nền tảng
Đại Việt vững vàng với kinh đô ngàn năm Thăng Long.
Thống kê danh sách hàng ngũ quan lại hàng đầu đã cai trị
Giao Châu trong thời bắc thuộc (Thứ sử, Thái thú, Đô Úy,
Tiết độ sứ…) có thể nhận thấy trung bình mỗi thế kỷ xuất
hiện vài ba người họ Lý, trong đó có những thứ sử họ Lý
đã từng chủ chương cát cứ độc lập. Tiêu biểu nhất là
cuộc nổi dậy của Lý Bí lập nước Vạn Xuân giữa thế kỷ 6.
Điều đó chứng tỏ họ Lý ở Giao Châu chẳng những tiếp tục
tồn tại và phát triển, hình thành một nhóm tộc hùng mạnh
ở vùng đất Tây Vu, Phong Khê, Long Biên cũ mà còn mở
rộng ra nhiều địa bàn của Giao Châu”.
Luận điểm 2:
Lớp trí thức tam giáo trong đó trí thức Phật
giáo làm nòng cốt, tu học ở các ngôi chùa lớn ở Bắc
Ninh, đã làm một cuộc vận động chính trị tư tưỏng ở
Giao Châu trong thế kỷ VIII, IX nhằm đưa người họ Lý
lên ngôi vua, thoát ách Bắc thuộc và chấn hưng Phật
giáo.
Qua Thiền Uyển Tập Anh ngữ lục, biết được các vị
thiền sư đời thứ 8, 9, 10, 11, 12 của dòng thiền
Tì-ni-đa-lưu-chi, Định Không (họ Lý)( 720-808),Thông
Thiện (? - ?),Đinh La Quí An (họ Đinh)( (852 – 936) ,
Thiền Ông ( 902-979 )(họ Lữ), Vạn Hạnh (?-1025)(họ Lý)
hoặc các vị sư thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông như Cảm
Thành (?-860) (đời I), khai sơn chùa Kiến Sơ khoảng
cuối thế kỷ IX, sư Thiện Hội(? – 900)(đời II) , sư Vân
Phong (? – 956) (đời III), sư Khuông
Việt (933 – 1011) (đời IV) , sư Đa Bảo
(?-?) (đời V), từng góp phần vận động Giao Châu thoát
ách đô hộ, họ Lý Diên Uẩn nên nghiệp đế và họ Lý sẽ chấn
hưng đạo pháp.
Thật vậy, Thiền sư ĐỊNH KHÔNG (730-808)
thời thuộc Đường, người họ Nguyễn (thực ra là
họ Lý), thuộc hương Diên Uẩn, giỏi thuật số, có khát
vọng về hương Diên Uẩn của ngài được củng cố và phát
triển, họ Lý của ngài sẽ làm vua, nước Việt độc lập và
Phật pháp được chấn hưng. Khi sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở
quê nhà khoảng (785-805), đào được pháp khí cổ, sư giải
đoán họ Lý về sau có người làm vua, có ý đổi tên hương
Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp. Tâm nguyện của thiền sư
được ký gửi qua bài kệ: Pháp lại xuất hiện/Thập khẩu
đồng chung/ Lý thị hưng vương/Tam phẩm thành công. Có
tác giả dịch: Pháp khí hiện ra/ Khánh đồng
mười tấm/ Họ Lý làm vua/ Công đầu Tam
phẩm.Trong bài kệ dự đoán, câu cuối “Tam phẩm thành
công” được dịch “ Công đầu tam phẩm”phải chăng
chưa ổn ? Họ Lý hưng thịnh, quan đến tam phẩm mới lập
công thì có gì đáng kể mà phải viết thành kệ rồi “
truyền thừa” cả trăm năm! Ở đây có thể hiểu “Tam phẩm”
là “ba đời họ Lý uy vọng” mới hoàn thành nghiệp đế
vương. Sư Định Không đã dặn dò đệ tử là thiền sư
Thông Thiện: “Ta muốn mở mang hương
ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá
hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta qua đời, ngươi
khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh thì
truyền lại. Thế là ý nguyện của ta được toại thành.”.
Quả “dị nhân đến phá hoại mạch đất”
là Cao Biền.
Đệ tử Thông Thiện đã truyền “pháp ý” của sư
Định Không cho đệ tử của mình là Trưởng lão Đinh La Quí
An (852-936). Thiền sư họ Đinh này đã nhờ Khúc Lãm, phá
thuật yểm đất của Cao Biền ở hương Diên Uẩn (Cổ Pháp),
khoảng thời gian họ Khúc giành chức Tiết Độ Sứ ở Giao
Châu, căn dặn đệ tử là thiền sư Thiền Ông (902-979) (họ
Lữ, người hương Cổ Pháp) về những pháp thuật “tài bồi
thiên đức” cho vọng tộc Lý của hương Cổ Pháp… Trước khi
viên tịch, Trưởng lão Đinh La Quý An
gọi đệ tử là Thiền Ông đến dặn rằng, “
Trước đây Cao Biền đắp thành Đại La ở sông Tô
Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào
sông Điền Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất
cả 19 nơi. Nay ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta
lại trồng một cây gạo ở cách chùa Minh Châu hơn 1 dặm,
đúng chỗ bị cắt long mạch, đời sau nơi này ắt có bậc đế
vương xuất hiện để vun trồng Chánh pháp…”. Năm
Bính Thân, niên hiệu Thanh Thái thứ 3 thời thuộc Đường
(936), khi trồng cây gạo gần chùa Minh Châu, Trưởng lão
Đinh La Quý An có đọc bài kệ:Đại Sơn long đầu khởi/
Cù Vĩ ẩn Châu Minh/ Thập bát tử định thành
/Miên thụ hiện long hình/Thỏ kê thử nguyệt nội/
Định kiến nhật xuất thanh”. Tất nhiên Thiền
Ông đã truyền “tâm nguyện” của các tổ Định
Không, Thông Thiện, Đinh La Quí An cho thiền sư
Vạn Hạnh(939(?)-1025) và Vạn Hạnh đã hoàn thành
rất xuất sắc “sứ mạng” mà các tổ giao phó. Qua Thiền
Uyển Tập Anh, thuật chuyện sư Vạn Hạnh nhập định, “nghe”
được những lời phát ra từ mộ thân phụ của Lý Công Uẩn
đầy màu sắc địa lý phong thủy cổ và những nội dung mà sư
Vạn Hạnh truyền lại hoàn toàn làm rõ thêm những điều sâu
kín trong bài kệ của Đinh La Quí An, phản ảnh rất rõ tâm
nguyện trăm năm của dòng họ Lý châu Diên Uẩn.

Ảnh chụp vệ tinh châu Diên Uẩn (châu Cổ Pháp), giữa
hai sông Cầu và sông Đuống
Lại có thiền sư Cảm Thành (đời I
dòng thiền Vô Ngôn Thông), “khai sơn” chùa Kiến Sơ vào
cuối thế kỷ VIII, tin tưởng họ Lý sẽ nên nghiệp đế (qua
ghi chép của Thiền Uyển Tập Anh ngữ lục). Ban đầu sư tu
ở núi Lạn Kha, Tiên Du, có đạo hiệu là Cảm Đức, đạo cao
đức trọng nên khoảng cuối thế kỷ VIII, một hương hào họ
Lý ở Phù Đổng, bắc sông Đuống muốn hiến dinh cơ của ông
để sư lập chùa. Sư từ chối. Khi sư mộng thấy thần nhân
mách bảo: “Nếu theo ý của Nguyễn [Lý], thì chẳng mấy
năm sẽ được điều lành lớn“, sư bèn đáp lại lời mời
của vị hương hào và sư đã biến dinh cơ của vị hương hào
họ Lý thành chùa Kiến Sơ. Sư Thiện Hội
(đời II) , người Điển Lĩnh, Khương Thượng, Siêu Loại,
ban đầu tu ở chùa trong làng, sau qua chùa Kiến Sơ làm
đệ tử sư Cảm Thành, về lại Siêu Loại tu ở chùa Thiền
Định (chùa Dâu). Sư Vân Phong (đời
III), người họ Lý ở Từ Liêm, cha mẹ là Phật tử tại gia,
đã đưa sư đến chùa Dâu làm đệ tử của sư Thiện Hội. Khi
sư Vân Phong về tu ở chùa Khai Quốc, ngôi chùa do Lý Nam
Đế tôn tạo chùa cổ An Trì ở thành Đại La. Sư Vân Phong
là danh sư họ Lý, tốn nhiều công sức tôn tạo chùa Khai
Quốc. Lại có sư Ngô Chân Lưu (đời IV), vốn là con trưởng
Ngô Xương Tỉ của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập, từ
chùa trên núi Sóc sơn, đến chùa Khai Quốc thọ giáo sư
Vân Phong, sau trở thành Tăng thống Khuông Việt thuộc
triều Đinh. Những ngày còn niên thiếu, thân phụ của sư
Khuông Việt bị cậu Dương Tam Kha tầm nã gắt gao, phải
nhờ Phạm Lệnh Công bảo bọc, cậu bé Ngô Chân Lưu phải
vào chùa, có khả năng được những người họ Lý giúp đỡ, sư
phụ Vân Phong của sư Ngô Chân Lưu ở chùa Khai Quốc là
một trong những người họ Lý đã “cưu mang” sư họ Ngô. Có
sư Đa Bảo (đời V) thọ giáo Khuông Việt đại sư ở chùa
Khai Quốc, sau đó về trụ trì chùa Kiến Sơ, đã từng nhận
Lý Công Uẩn làm đệ tử, xem cốt cách của Lý Công Uẩn, sư
Đa Bảo kỳ vọng nhiều ở người thanh niên họ Lý, cháu của
sư Vạn Hạnh, dưỡng tử của sư Lý Khánh Văn. Vì thế sư Đa
Bảo tích cực vận động quần chúng ủng hộ họ Lý thay họ
Lê làm vua qua việc sư làm “phát lộ” những bài thơ ở
“miếu thổ thần” trong khuôn viên chùa Kiến Sơ. Về sau,
khi Lý Công Uẩn bị tay chân vua Lê Đại Hành truy nã,
sư Đa Bảo từng che giấu bảo bọc Lý Công Uẩn ở chùa Kiến
Sơ vậy. Việc năm đời tổ của dòng thiền Vô Ngôn Thông ủng
hộ họ Lý Diên Uẩn, cho thấy dòng thiền này có quan hệ
mật thiết với Phật tử châu Cổ Pháp và chắc chắn Lý Công
Uẩn là hậu duệ những người họ Lý đầy uy vọng, có công
đức tầm cỡ “hộ pháp” Phật giáo vùng Cổ Pháp-Siêu
Loại-Đại La. Vì thế thời Lê Ngọa Triều cư xử quá đáng
với sư sãi Phật giáo, các vị thiền sư thuộc hai dòng
thiền nói trên rất nhiệt tình trong việc vận động để họ
Lý Diên Uẩn thay nhà Tiền Lê làm vua, củng cố nền độc
lập Đại Việt và chấn hưng Phật giáo nước ta. Cuộc vận
động ấy kéo dài hằng trăm năm, tính từ sư Định Không và
sư Cảm Thành vậy.



Thiền sư Lê Mạnh Thát từng chú giải Thiền uyển tập
anh cho biết “Tây hồ chí, phần về Cổ tích, ghi: “Chùa
Khai quốc ở tại bờ sông Nhị hà, phía bắc của hồ (Tây),
nay là bến Yên phụ mé ngoài đê. Nguyên Nam Ðế nhà Tiền
Lý nhân nền cũ của chùa An trì của triều Hồng Bàng, mà
dựng lên, nên có tên Khai Quốc. Sau danh tăng triều Ngô
là Nguyễn Vân Phong người Từ liêm tu bổ lại. Trong
khoảng hai triều Ðinh và Lê, Quốc sư Ngô Khuông Việt
thường trú trì tại đó. Nhà Lý trùng tu lại””. Qua sự
kiện này cho thấy họ Lý có công lớn trong việc tôn tạo
chùa Khai Quốc. Chùa Dâu ở Siêu Loại của trung tâm giáo
Luy Lâu, chắc chắn có sự đóng góp công của của những
người họ Lý có uy vọng, là hào phú hoặc đại quan. Mặc
dầu ở châu Cổ Pháp, bắc sông Đuống có nhiều chùa nhưng
Phật tử châu Cổ Pháp vẫn hướng về chùa Dâu (chùa Thiền
Định) như một đại tổ đình. Thật vậy thiền sư Lê Mạnh
Thát từng dẫn sách Thập di ký của Lý Tế Xuyên, có chép :
“Người Cổ Châu mỗi năm mừng ngày Phật đản đều họp nhau ở
chùa Thiền định”.
Có sư Lý Khánh Văn, trú trì chùa Cổ Pháp, một ngôi
chùa của Lý gia Diên Uẩn. Sư không nổi tiếng về tu học
cũng như đào tạo tăng tài nhưng lại nổi tiếng là dưỡng
phụ của vua Lý Thái Tổ. Sư vốn là một hào phú của châu
Diên Uẩn, thí phát qui y, trú trì chùa Cổ Pháp. Chùa này
ngoài tượng Phật, bồ tát,…đặc biệt có 6 tượng thờ 6 tổ.
Trong 6 tổ từng được thờ ở chùa Cổ Pháp có sư Định
Không (họ Lý)…. Trước đời Lý Khánh Văn trú trì, nếu kể
ngươc thì có tổ đời 6, đời 5, đời 4, đời 3 (sư Định
Không), 4 vị có tượng thờ. Thế thì tổ đời thứ hai , tổ
đời thứ nhất là hai nhân vật họ Lý, có quan hệ huyết
thống với Lý Tự Tiên chăng ?. Có khả năng ông nội của
Định Không là Lý Tự Tiên hay anh em của Lý Tự Tiên,
người mưu đánh đổ Đô Hộ Lưu Diên Hựu nói trên .Theo GS
Kiều Thu Hoạch, tương truyền sư Lý Khánh Văn có giữ một
vật gia bảo là con chó làm bằng đồng, “có khả năng sủa
vang” khi có quí nhân đến chùa. Tất nhiên truyền ức này
huyễn hoặc nhưng phản ánh một thực tế là sư Lý Khánh Văn
sống trên đất hương hỏa của dòng họ Lý Diên Uẩn, giữ
những gia bảo, trong đó có kỷ vật “chó làm bằng đồng”.
Chùa Cổ Pháp gần như là chùa của họ Lý Diên Uẩn ( Cổ
Pháp), sau này còn gọi là chùa Lục Tổ, nơi giáo dưỡng
con cháu họ Lý theo tâm nguyện của sư Định Không. Vì
thế Phạm mẫu ( một phật tử ) ở Hoa Lâm mang con trai họ
Lý 9 tuổi đến chùa Cổ Pháp để gửi nuôi (thần phả đình
làng Mạnh Tân) và Phạm mẫu Dương Lôi (phụ nữ rất nghèo)
ẵm con 3 tuổi, không rõ cha nhưng chắc chắn thuộc họ Lý,
đến chùa Cổ Pháp gửi nuôi. Chùa Cổ Pháp là nơi dòng họ
Lý giáo dưỡng những mầm non họ Lý, kiểu sơ học, rồi sau
đó gửi sang Viện Cảm Tuyền chùa Tiêu (cũng là chùa Lục
Tổ thứ hai) để học tiếp trung đại học vậy. Đây là một
chiến lược của dòng họ Lý Diên Uẩn. Phải chăng một trẻ
chín tuổi đến tu học ở Cổ Pháp, là cha của Lý Công Uẩn,
sau vài năm một đứa trẻ khác 3 tuổi đến ở chùa Cổ Pháp
và trẻ 3 tuổi về sau đến chùa Tiêu, chùa Kiến Sơ tu học
và trở thành hoàng đế Lý Thái Tổ, đứa trẻ 9 tuổi trở
thành Hiển Khánh vương ? Vấn đề này sẽ được thảo luận
trong phần Luận điểm 3 sau đây.

Rõ ràng, thế kỷ VIII, IX dân trí của nước ta đã được
nâng lên rất nhiều là nhờ các trung tâm Phật giáo, có
các vị thiền sư không những tinh thông Phật học mà còn
làu thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo, các vị ấy có
tinh thần dân tộc rất cao, đang làm cuộc vận động quần
chúng thoát ách Bắc thuộc và khi đã độc lập, họ góp phần
giúp vua Nam củng cố nền độc lập ấy và chấn hưng Phật
giáo thành quốc giáo thời bấy giờ. Còn giới Phật tử của
vùng Diên Uẩn-Siêu Loại cũng phối hợp với các sư ở các
chùa để làm cuộc vận động người họ Lý nắm quyền ở Giao
Châu. Một trong các Phật tử như thế có bà Phạm mẫu, húy
Tiên, nguyên quán là một làng ở Đông Ngàn (sau có tên
Dương Lôi), lấy chồng là đai quan họ Lý, trú ngụ ở Hoa
Lâm, Đông Ngàn …Bà Phạm Thị Tiên từng có công tôn tạo
chùa Linh Ứng, bén duyên với một đại quan đầy uy vọng
của họ Lý Diên Uẩn, ông có dinh cơ ở Hoa Lâm, bà từng
trốn ở một ngôi chùa ở trang Tỉ Bào, Từ Sơn, sinh con,
nuôi đến 9 tuổi, mang con về giao cho họ Lý ở Cổ Pháp,
đi ẩn ở Thụy Lâm, tôn tạo chùa Thụy Lâm và ẩn tu ở đây,
có công đức với làng Thụy Lâm, bà từng đăng đàn như một
“ sư bà” cùng với nhiều thiền sư để lễ Phật và đã mất
tại đàn rất bí ẩn. Vậy phu quân họ Lý của bà Phạm Thị
Tiên phải là một hùng trưởng, đại quan của triều Ngô,
được các sư sãi và Phật tử miền Cổ Pháp-Siêu Loại ủng
hộ. Trong lịch sử, nhân vật lịch sử thời Hậu Ngô ấy là
ai?
Luận điểm 3:
Có sự nhầm lẫn giữa Phạm mẫu Hoa Lâm, húy Tiên
và Phạm mẫu Dương Lôi, húy Ngà của người đời sau khi
viết thần tích, văn bia.
Sau khi chúng tôi công bố bài “Đâu là sự thật về tông
tích của Lý Công Uẩn” vào 6 tháng 9 năm 2010 thì nhận
được những góp ý của độc giả, khen có chê có nhưng cơ
bản là khích lệ chúng tôi theo hướng đã chọn khi hình
thành giả thuyết. Năm 2011, hai nhà nghiên cứu
Nguyễn Hùng Vĩ và Nguyễn Văn Thanh công bố tư
liệu mới trong bài “”Hoa Lâm tam bảo thị” (1656)
Thêm một tư liệu đáng tin cậy về Lý Công Uẩn và
vùng Mai Lâm”, các tác giả khẳng định ông bà
nội của Lý Công Uẩn là người Hoa Lâm, Đông Ngàn( Mai
Lâm, Đông Anh, Hà Nội), cả hai ngài đều được vua Lý
Thái Tổ dâng tên thụy là Thánh Thiện. Đặc biệt theo hai
tác giả thì nội dung văn bia cho thấy mộ cha mẹ của Lý
Công Uẩn ở “mé đông chợ Tam Bảo” thuộc Hoa Lâm, Đông
Ngàn (?).. Một điều chắc chắn là thời Đinh và Tiền Lê,
họ Lý trong đó có Lý Công Uẩn và thân thuộc phải giấu
tông tích vì chính trị, bằng cách thay đổi nơi cư trú,
vào chùa làm sư, đổi tên họ; nhất là khi họ Lý vùng Diên
Uẩn (Cổ Pháp) bị nhà Tiền Lê nghi ngại. Khi tạo dựng sự
nghiệp đế vương cho Lý Công Uẩn, họ Lý đã khoác áo “con
thần cháu thánh” cho Lý Công Uẩn và thân phụ của ngài,
vì thế thân sử của Lý Công Uẩn và thân phụ của ngài
phải che giấu, hậu quả nghiêm trọng là cả ngàn năm vẫn
chưa tìm được tông tích của ngài.
Phải chăng tính đến nay vẫn chưa thống nhất được quê nội
của Lý Công Uẩn trong giới nghiên cứu là vì có sự nhầm
lẫn về bà nội và bà mẹ của Lý Công Uẩn ? Có khả năng hai
bà cùng họ Phạm, đều có nguyên quán Dương Lôi, đều là mẹ
vua, nên người đời sau đã nhầm hai bà họ Phạm là một
người. Thật vậy chúng tôi xin mạo muội thảo luận quanh
luận điểm 3 như sau:
1/Thân sử Phạm mẫu Dương Lôi:
Con cháu họ Phạm làng Dương Lôi, bao đời nay luôn
truyền ức hành trạng của Phạm mẫu Phạm Thị Ngà, nhất là
ngày mất của Phạm thì họ Phạm không thể nào quên.
Tháng 4-2010, trên Giác Ngộ online, Chu Minh Khôi
trong bài: “ Đi tìm gốc tích vua Lý Thái Tổ – Kỳ 2:
Truyền thuyết nhà Lý ở Dương Lôi” cho biết thân sử của
Phạm mẫu Dương Lôi như sau: “…Người dân Dương Lôi vẫn
lưu truyền truyền thuyết về bà Phạm Thị Ngà sinh ra Lý
Công Uẩn, tuổi thơ của Lý Thái Tổ gắn liền với mảnh đất
nơi đây. Vào thời Đinh-Tiền Lê, trong làng có một gia
đình nghèo họ Phạm gồm hai ông bà và cô con gái tên là
Ngà, nết na xinh đẹp. Một ngày kia, bệnh tật đã cướp đi
người cha, ít lâu sau, hai mẹ con rời bỏ xóm làng ra
dựng tạm túp lều trước cổng chùa Minh Châu, bán nước cho
người đi qua đường và bán hương, cau cho người vào lễ
chùa. Minh Châu tự vốn là ngôi chùa nổi tiếng trong
vùng, một hôm có 2 vị Thiền sư đến chùa Minh Châu giảng
kinh Phật, một vị là Lý Vạn Hạnh trụ trì chùa Tiêu, một
vị là Lý Khánh Văn trụ trì chùa Cổ Pháp. Thấy hai mẹ con
cô gái bán nước ở cổng chùa Minh Châu là người phúc đức
nhân hậu, nên 2 vị sư rất quý mến. Ít lâu sau, người mẹ
không may qua đời, cô gái được sự dẫn mạch của 2 vị sư
bèn dời mộ cha và thi hài mẹ an táng cùng mộ chỗ gò đất
có hình rồng ấp ven rừng Miễu. Từ đấy, cô gái Phạm Thị
Ngà về làm thủ hộ, giúp việc cho sư Vạn Hạnh ở chùa
Tiêu. Một đêm, cô gái ngả lưng thiếp đi trước cửa chùa,
cô mơ thấy một vị thần nhân bước qua người mình. Tỉnh
dậy, cô thấy người khác lạ, mang thai từ đấy. Không dám
ở lại chùa Tiêu, cô gái lại trở về chùa Minh Châu, sư
thương tình cho cô nương náu. Sắp đến ngày mãn nguyệt
khai hoa, cô xin phép nhà chùa trở lại xóm cũ Đường Sau
nơi có túp lều xiêu vẹo của cha mẹ và sống với cuộc đời
thầm lặng. Trong một đêm mưa rét đầu xuân vào tháng Hai
năm Giáp Tuất (974), những người hàng xóm bỗng thấy sự
lạ lùng, túp lều của cô gái bỗng sáng rực hào quang, và
tiếng trẻ sơ sinh cất lên lanh lảnh. Trong cơn đau, cô
gái mơ màng thấy 3 bà mụ như từ trên trời hiện xuống đỡ
đẻ cho cô. Đứa trẻ sinh ra khôi ngô tuấn tú, dưới hai
bàn chân đều có chữ “vương”. Biết bao đời nay, dân gian
vùng Kinh Bắc còn truyền nhau câu: “Nở Đường Sau/đau
chùa Dận”, vì xóm Đường Sau ở Dương Lôi là nơi Lý Công
Uẩn chào đời, còn chùa Dận ở Đình Bảng là nơi nhận nuôi
dưỡng Lý Công Uẩn từ lúc 3 tuổi”.

Tháng 3 -2011, Phạm Nhuệ viết bài“Lễ giỗ Thánh Mẫu
Phạm Thị Ngà: Mẹ của vua Lý Thái Tổ” trên website họ
Phạm: “Làng Dương Lôi, nay là khu phố Dương Lôi thuộc
phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. “Thánh
Mẫu Phạm Thị” là tên mà nhân dân trong vùng cùng nhiều
nơi gọi và các triều đại đã sắc phong cho bà Phạm Thị
Ngà. Bà sinh Lý Công Uẩn ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất
(8.3.974), đến ngày 7 tháng Giêng năm Đinh Sửu (977) thì
bà về trời khi con trai mới ba tuổi. Nhớ đến công lao
sinh thành, dưỡng dục, mùa xuân năm 1010, sau khi lên
ngôi, vua Lý Thái Tổ về quê xây đền Lý triều Thánh Mẫu
thờ mẹ là Minh Đức Thái hậu (tức bà Phạm Thị Ngà). Ngôi
đền toạ lạc ở phía đông làng Dương Lôi, cạnh khu Sơn
lăng cấm địa là nơi chôn cất 8 vị vua và tôn thất nhà Lý
(rừng Miễu). Thánh Mẫu Phạm Thị được tôn vinh là Thành
Hoàng làng. Dân làng Dương Lôi lấy ngày mồng bảy tháng
giêng làm ngày giỗ Thánh Mẫu cũng là ngày mở hội chùa
Tra Lư (Chùa Sấm)”.
2/ Thân sử Phạm mẫu Hoa Lâm:
Trước hết liệt kê các nguồn tư liệu có ghi chép về Lý
triều quốc mẫu: Thần tích làng Mạnh Tân do quan Hàn lâm
viện Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1574 và
lễ hội làng Mạnh Tân (Thụy Lâm xưa), văn bia Hoa Lâm Tam
Bảo thị, Thiền uyển tập anh, thần tích Ngọc phả cổ lục ở
xã Tam Tảo, tổng Ân Phú, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh…
Năm 2011, ban
chỉ đạo quốc gia lễ hội 1000 năm Thăng Long xuất bản
tài liệu Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội, 2001
có giới thiệu Lễ hội làng Mạnh Tân, có chép về
Lý triều quốc mẫu, dựa vào cuốn thần tích soạn năm 1574
mà dân làng Mạnh Tân còn phụng giữ. Tài liệu cho biết:
“Mạnh Tân, một thôn của xã Thụy Lâm nằm kề bên con sông
Cà Lồ. Xưa kia Mạnh Tân gọi là khu thuộc trang Bằng Lâm,
tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, xứ Kinh
Bắc. Mạnh Tân còn có tên nôm là Râm Bến, cùng Râm Trầm,
Râm Chợ, Râm Bướu họp thành bốn làng Râm…Lại nói, xưa
kia ở đất Cổ Pháp, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh
Bắc, người họ Phạm tên Long, vợ là Đặng Thị Quang. Hai
ông bà sinh được một người con gái đặt tên là Phạm Thị
Tiên. Cô có sắc đẹp tuyệt mỹ, vô song nhưng lương duyên
chưa bén, chưa chọn được người.Năm 22 tuổi, nàng đến
chùa Linh Ứng trong 3 năm dốc sức trùng tu chùa, ngày
đêm niệm Phật. Vào một đêm nằm mơ thấy một vị đại thần
đùa vui với mình, từ đó mang thai …, sinh được một người
con trai. Khi người con trưởng thành, hai mẹ con về quê
đất Cổ Pháp trú trong nhà Lý Khánh Văn…Bà họ Phạm đi qua
khu Mạnh Tân, huyện Yên Phú. Thấy nơi đây do bị hại do
thủy tai, chùa bị đổ nát, bà động lòng xin cùng với bản
khu, dốc lòng hiệp sức sửa sang ngôi chùa. Khi đã hoàn
thành bà làm bài thơ rằng: “Cảnh vật phong quang bởi
sức ta/, Trùng tu điện tượng quản đâu là/Danh truyền
công đức lưu thiên cổ/Giúp dập dân đây hưởng vạn xuân?”.Công
trình đẹp đẽ, nhân dân khu Mạnh Tân xin làm thần tử, sau
này xin được thờ phụng bà. Bà mở hội khánh thành chùa,
cho báo sư thiền tăng ở các nơi về làm lễ. Dáng bà
nghiêm nghị, một tay cầm hoa sen, một tay cầm án chú,
bước lên đàn cao, ngồi cùng các sư tăng đọc kinh cầu
phúc. Khi đó thấy một đám mây giống như dãi lụa đỏ lơ
lửng trên đỉnh đàn. Bỗng trời đất trở nên tăm tối, bà
cưỡi mây bay về trời. Hôm đó là ngày mồng 10 tháng
giêng.Để nhớ đến công tích của các vị thần có công với
dân với nước, hàng năm thôn Mạnh Tân tổ chức lễ, hội
mừng ngày sinh, ngày hóa của Thánh”.

Hiện nay ở làng Phù Đổng, cạnh chùa Kiến Sơ, có Ni
viện Hương Hải, tiền thân là chùa Linh Ứng. Ni viện
Hương Hải là nơi ni sư Diệu Nhân (1041-1113) từng trụ
trì. Ni sư Diệu Nhân là trưởng nữ Ngọc Kiều của vua Lý
Thánh Tông, lấy chồng họ Lê, chồng mất bà thủ tiết, sau
đó xuống tóc qui y, thọ giáo bồ tát với thiền sư Chân
Không (đời thứ 16 thuộc dòng thiền Tì-Ni-Đa-Lưu-Chi). Sư
Chân Không cho bà pháp danh Diệu Nhân và dạy bà trụ
trì Ni viện Hương Hải (tôn tạo chùa Linh Ứng trước đó),
gần chùa Kiến Sơ. Trước khi ni sư Diệu Nhân trùng tu
chùa Linh Ứng thành Ni viện Hương Hải thì đã có chùa
Linh Ứng. Vậy chùa Linh Ứng mà “nữ Phật tử” Phạm Thị
Tiên trú ngụ, ra sức sửa sang trong 3 năm là ở đây. Tại
sao bà mệnh phụ Phạm Thị Tiên, phu nhân của một đại
quan họ Lý, phải lại đem giấu con cái ở các chùa Cổ
Pháp, Tiêu Sơn, ở hang, ở rừng gần chùa Tiêu Sơn, thuộc
miền đông bắc Hoa Lâm vào thời Đinh, Tiền Lê ?

Thân sử hai bà Phạm mẫu ở Hoa Lâm và ở Dương Lôi quá
khác nhau, xin dẫn chứng trong bảng so sánh sau:


Những thông tin về Phạm mẫu ở Hoa Lâm là dựa vào bia
“Lý gia linh thạch”, “Hoa Lâm Tam bảo thị bi”, thần tích
làng Mạnh Tân, thần tích làng Tân Phú. Còn thông tin về
Phạm mẫu ở Dương Lôi là nhờ truyền ức của các thế hệ
dòng họ Phạm Dương Lôi. Vậy hai bà họ Phạm hoàn toàn
khác nhau về thân sử, lại trùng nhau là “mẹ của Lý Công
Uẩn” (?). Bà Phạm Thị Ngà ở Dương Lôi, chắc chắn là mẹ
của Lý Công Uẩn, các nhà sử học xưa nay đã xác nhận.
Nhưng bà Phạm Thị Tiên ở Hoa Lâm có thân sử hoàn toàn
khác bà Phạm Thị Ngà, nhưng ai cũng biết bà là Lý triều
quốc mẫu, là mẹ vua Lý, chính chi tiết này làm người đời
sau cứ tưởng mẹ vua Lý, tức mẹ vua Lý Thái Tổ, dẫn đến
sự sai sót nghiêm trọng. Thật ra, khi Lý Thái Tổ truy
phong cha là Hiển Khánh Vương, mẹ là Minh Đức Thái Hậu,
về sau truy phong bà nội là Thánh Thiện Hoàng Thái Hậu
thì nghiễm nhiên bà nội vua Lý Thái Tổ là Lý triều quốc
mẫu, mẹ của vua “Hiển Khánh vương” (cha của Lý Thái Tổ).
Do sợ phạm húy, con cháu cứ tôn xưng bà Phạm Thị Tiên là
Phạm mẫu, mẹ vua Lý; người đời sau dựa vào chi tiết “mẹ
vua Lý” cứ gán ghép Phạm mẫu ở Hoa Lâm là mẹ vua Lý Thái
Tổ, trùng vời bà Phạm Thị Ngà ở Dương Lôi, dẫn đến người
đời sau nhầm lẫn giữa bà nội và bà mẹ của Lý Công Uẩn !
Thực ra bia “Lý gia linh thạch” phát hiện ở chùa
Tiêu, khắc vào năm 1793, có đoạn được phiên âm : “Đông
Ngạn, Hoa Lâm nhân Phạm mẫu, tiêu dao kỳ tự, thường kiến
nhất thần hầu, bất giác hữu thần…” . Có người khi dịch
“Hoa Lâm nhân Phạm mẫu” là “bà Phạm Thị Ngà, quê Hoa
Lâm” (?). Cứ gặp “Phạm mẫu” là người dịch nghĩ ngay là
bà Phạm Thị Ngà, trong khi Phạm mẫu ở Hoa Lâm là bà Phạm
Thị Tiên, mẹ của Hiển Khánh vương.
Lý triều quốc
mẫu Phạm Thị Tiên, thụy Thánh Thiện (hoàng thái hậu) là
bà nội của Lý Công Uẩn và Lý triều Thánh mẫu Phạm Thị
Ngà, thụy Minh Đức (thái hậu) là mẹ của Lý Công Uẩn vậy.

Luận điểm 4:
Mộ ông bà nội của Lý Công Uẩn ở Lý Gia lăng
thuộc Hoa Lâm, còn mộ của cha mẹ Lý Công Uẩn ở rừng
Báng, về sau nằm trong vùng Thọ Lăng sát Dương Lôi.

(đang bảo tồn ở chùa Phúc Lâm)(ng.G) ở vùng Lý
gia lăng, gần địa danh Bãi Sập(ng.G).
Mộ Hùng Công ở Hoa Lâm:
Giới khảo cổ học từng đào thám sát nhiều lần và nhiều
nơi ở Mai Lâm, Đông Anh, tức Hoa lâm, Đông Ngàn xưa,
phát hiện nhiều hiện vật xây dựng trước thế kỷ XI, nghĩa
là trước khi các vua triều Lý xây dựng ở đây những hành
cung, miếu đường. Sự kiện này chứng tỏ ở Hoa lâm đã có
những công trình kiến trúc của những thế gia, đại gia họ
Lý trước thời Lý Thái Tổ. Các địa danh mộ Hùng
Công, bãi Tổng binh, ao Sau Dinh…gợi mở giới
nghiên cứu rằng vùng Hoa Lâm từng có những vị quan họ Lý
sống ở dinh cơ dựng ở Hoa Lâm. Phía đông Hoa Lâm, ở
làng Phù Đổng từng có vị hương hào họ Lý, sống vào
khoảng cuối thế kỷ IX và đầu thế kỷ X, từng hiến cả một
dinh cơ để sư Cảm Đức (sau đổi thành Cảm Thành) xây chùa
Kiến Sơ là một đối sánh, giúp suy đoán ở Hoa Lâm từng có
dinh cơ của các đại quan hàng võ tướng, quyền cao chức
trọng, có thể đến tước công. Thế thì “mộ Hùng Công” ở
Hoa lâm phải chăng là mộ của một hùng trưởng tước công ?
Tất nhiên trong lịch sử còn có Hùng Công, thân phụ của
Hùng Linh Công. Theo Ngọc phả quốc lục do Hàn
lâm viện Đông các đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn
vào niên hiệu Hồng Phúc, triều đại Sùng Khang năm Nhâm
Thân (1572), còn lưu lại tại Đền IA (tức Đền Y Sơn)
thuộc xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang thì
Hùng Linh Công là cháu ruột Vua Hùng,
một danh tướng thuộc đời Hùng Vương thứ sáu (1718 – 1631
TCN), ông được vua trao cho kim đao và 3 vạn binh mã đi
tiên phong cùng với
Thánh Gióng đánh tan giặc Ân. Ông được vua Hùng giao
cho cai quản xứ Kinh Bắc, ông cũng có công trừ hổ để
giữ cuộc sống an bình cho dân. Ông sinh ra và mất trên
đất
Hiệp Hòa, Bắc Giang và được thờ ở Đền IA khoảng 3700
năm nay. Như thế, Hùng Công, thân phụ của Hùng Linh
Công, nếu còn mộ phần thì ngôi mộ này phải ở tận Bắc
Giang và còn có mộ của bà vợ Hùng Công tức mẹ của Hùng
Linh Công nữa. Vậy mộ Hùng Công ở Hoa Lâm trong Lý Gia
lăng, có khả năng là mộ đại quan, phu quân của bà Phạm
Thị Tiên, tức bà nội của vua Lý Công Uẩn. Con cháu họ Lý
ở Hoa Lâm thường xuyên hương khói những ngôi mộ thuộc Lý
Gia lăng, dẫu sau này đê vỡ, đa phần đã bị chìm trong
nước nhưng con cháu họ Lý ở Hoa Lâm vẫn tạo bệ thờ,
hướng về “Bãi Sập” và những ngôi mộ của Lý Gia Lăng (đã
chìm trong nước) để chiêm bái, cúng lễ.

Bia đá khắc toàn văn “Ngọc Phả Quốc Lục” đặt trong
Đền IA
Lăng Hiển Khánh vương ở Hoa Lâm ?
Gần đây hai nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ, Nguyễn Văn
Thanh công bố thác bản bia “Hoa Lâm Tam Bảo thị bi” có
đoạn “Hoa Lâm cổ tích thị nhất khu nãi tiền Lý
triều Thánh Thiện tổ khảo tỉ chi danh hương dã. Khảo tỉ
lăng miếu tại thị chi đông. Trinh Tiết phạm cung tại thị
chi tây. Phương dân tôn phụng linh ứng mặc phù, nhi thị
cư tự miếu chi trung. Thị trung quan lộ vãng lai nhân
nhân tụ hội, chân đệ nhất hảo xứ dã. Tự cổ chi nhân nhật
trung vi thị mỗi nguyệt lục phiên, chí sóc vọng nhật
nhân giai cúng dàng hiển tích, tố hiệu vi Tam Bảo chi
thị” và hai tác giả dịch “Khu chợ thuộc
hàng di tích lịch sử mang tên Hoa Lâm này nằm trên quê
hương nổi tiếng của ông bà nội Thánh Thiện của triều nhà
Lý trước đây. Lăng miếu của Bố và Mẹ ngài tại phía đông
chợ. Chùa Trinh Tiết ở phía tây của chợ. Chợ nằm giữa
chùa và miếu nên dân quê tôn phụng được linh ứng ngầm
giúp. Giữa chợ có đường cái quan qua lại, người người tụ
hội. Đúng là chỗ tốt đẹp hàng đầu vậy. Cũng bởi từ xưa,
kể cả những ngày họp chợ mỗi tháng sáu phiên cho chí
mùng một ngày rằm, người ta đều cúng dàng chốn dấu xưa
đành rạnh đó, cho nên chợ mới được gọi tên lành là chợ
Tam Bảo”. Nói chung phần phiên âm và dịch nghĩa đoan văn
bia này không có gì để bàn nữa, nhưng từ đoạn văn này
hai tác giả khẳng định “Lăng miếu của Cha và Mẹ
Lý Công Uẩn là ở đây, nằm ở mé đông của chợ Hoa Lâm và
cũng là phía đông của chùa Trinh tiết, bắc là Tam Đảo –
Sóc Sơn, nam là sông Đuống” thì chưa chắc chắn!
Người viết văn bia lấy chợ làm “vật mốc” và chỉ cho biết
lăng cha mẹ [Lý Công Uẩn] ở phía đông chợ và chùa Trinh
Tiết ở phía tây của chợ. Khi chọn lăng miếu, chùa chiền
làm mốc là người viết văn bia có chủ đích rằng ngôi chợ
được Phật, Thánh “phù trợ” những người “sinh sống nhờ
chợ”, thêm cư dân ở đây có cúng kiến Phật, Thánh vào các
ngày sóc, vọng nên chợ mới có tên trang trọng “ chợ Tam
Bảo”. Chợ Tam Bảo ở Hoa Lâm có thể lập trên bãi đất
rộng của ngôi chùa cổ nào đó ở Hoa Lâm, đến khi họ Đồng
viết văn bia thì chùa ấy đã biến mất. Văn bia chỉ nói
phía đông chợ có lăng miếu cha mẹ vua Lý, không nói ở
“mé đông chợ”. Khi hai tác giả khẳng định “lăng miếu cha
mẹ của Lý Công Uẩn ở mé đông chợ” thì các tác giả có ý
nghĩ chùa Trinh Tiết ở “mé tây chợ” (?). Cơ sở nào để
nghĩ rằng chợ Tam Bảo Hoa Lâm ở “mé đông” chùa Trinh
Tiết ?Nếu chợ Tam Bảo [ở Hoa Lâm] nằm trên đất của chùa
Trinh Tiết thì Đồng Chuyết Phu sẽ có vài dòng giới thiệu
ngôi chùa này, như văn bia “Tu tạo Tam bảo thị bi”, đặt
tại thôn Tó, xã Uy Nỗ huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay
thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội), tạo năm Khánh Đức 2
(1650), được nhà nghiên cứu Đỗ Thị Bích Tuyền công bố ở
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.675-679, có đoạn “Nay
ở thôn Tó xã Uy Nỗ Thượng huyện Đông Ngàn có chùa Khánh
Sơn hiệu là Tự Trung bảo toà thờ Thục chúa của Nam
thiên, là thánh nhân của miền Tây phương cực lạc, được
dân thôn thờ phụng, anh linh hiển ứng, thường ban phúc
cho dân, ban thọ cho nước. Nhân dân trong thiên hạ đều
gọi là ngôi chùa cổ tích danh lam. Hơn nữa, sân chùa đất
bằng phẳng, có thể lập được khu chợ. Vì thế người xưa đã
chọn, định ra mỗi tháng vào 6 ngày mồng bốn, mười bốn,
hai bốn, mồng chín, mười chín, hai chín là ngày phiên
chợ. Bốn phương tụ về, ngày sóc vọng thì cúng dàng, chùa
Tam bảo đã thành chợ Tam bảo”.Thế thì không nhất
thiết hai công trình chùa, miếu được chép trong bia ,
thuộc về nơi ngự của Phật, Thánh phải ở gần chợ Tam Bảo
Hoa Lâm! Hai tác giả cho rằng lăng cha mẹ Lý Công Uẩn
“nằm ở mé đông của chợ Hoa Lâm”, để rồi đi đến kết luận
lăng cha mẹ của Lý Công Uẩn ở ngay đất Hoa Lâm là chưa
thuyết phục. Hai tác giả chưa chỉ ra ngôi chùa cổ Trinh
Tiết, chí ít có trước năm 1656, năm Đồng Chuyết Phu soạn
văn bia. Xưa nay có chùa Trinh Tiết ở Kẽm Trống, Hà
Nam, tức không phải ngôi chùa mà người soạn văn bia nói
đến. Có một khả năng, chùa Trinh Tiết là dạng chùa “sư
nữ”, “chùa ni”…nơi các ni cô, sư bà tu tập; nếu thế thời
Lê trung hưng, phía tây của Hoa Lâm, có chùa Linh Ứng,
còn gọi là chùa Thị Cấm thuộc thôn Thị Cấm, xã Xuân
Phương, huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội. Trong chùa có
tượng Phật cơ bản giống các chùa cổ nhưng đặc biệt có
tượng “Kim Đồng ngọc nữ thị giả’ (Động Tôn Nữ), có khả
năng là chùa Trinh Tiết mà tác giả văn bia nhắc đến.Thế
thì lăng “Hiển Khánh vương” hay “Lăng Thánh mẫu” ở “Rừng
Miễu”, ở phía đông của chợ Tam Bảo cũng hợp với văn cảnh
của bài minh của bia chợ Tam Bảo Hoa Lâm : “ Minh rằng:
Huyện tên Đông Ngàn, xã gọi Hoa Lâm, Tam Bảo chợ cũ, Đảo
Sơn án bắc, Đức Giang ôm nam, Tây chùa rất kính, Đông
miếu rất thiêng, Làm theo nếp cũ, Chỉ một lòng lành, Làm
thiện được phúc, Chứng giám rõ rành, Công ấy đức ấy, vạn
đời bia minh”. Có khả năng lăng mộ của ông bà nội của
Lý Công Uẩn ở Hoa Lâm trong khu vực Lý Gia lăng và con
cháu họ Lý (sau đổi thành họ Nguyễn) thường xuyên hương
khói.

Ảnh chụp thác bản bia “Hoa Lâm Tam Bảo thị” (ảnh tư
liệu của Nguyễn Hùng Vĩ)
Luận điểm 5:
Sứ quân Lý Khuê là hùng trưởng chiếm cứ miền Siêu Loại
Bắc Ninh, gần miền Cổ Pháp, nôi Phật Giáo lâu đời, được
giới Phật tử ủng hộ trong đó nòng cốt là các sư Thiền
Ông, Vạn Hạnh, Khánh Văn, Đa Bảo. Khi thất bại, bị tướng
Lưu Cơ của Đinh Bộ Lĩnh giết ở thôn Dương Đanh làng
Dương Xá. Thôn Dương Đanh tôn thờ Thành Hoàng nhưng mộ
táng bí mật gần nơi cư trú là Hoa Lâm và gọi là mộ Hùng
Công. Lý Khuê hay Lý Lãng Công chính là phu quân của bà
Phạm Thị Tiên ở Hoa Lâm, tức ông nội của Lý Công Uẩn.
1/Những
đặc điểm về vị phu quân của bà Thánh Thiện Phạm Thị Tiên
ở Hoa Lâm, bà nội của Lý Công Uẩn:
Qua nghiên cứu thân sử của bà Lý triều quốc mẫu Thánh
Thiện Phạm Thị Tiên, mẹ của Hiển Khánh vương, bà nội của
Lý Công Uẩn có thể rút ra một số tiêu chí về vị phu quân
của Phạm mẫu Hoa Lâm:
[1]: Phu quân họ Lý, từng là một hùng trưởng miền cận
đông thành Cổ Loa, nơi Dương Bình vương Dương Tam Kha
hoặc nhà Hậu Ngô đóng đô. Dinh cơ của ông tọa lạc ở Hoa
Lâm (tức Mai Lâm, Đông Anh hiện nay). Di tích còn lại là
Bãi Tổng Binh, Ao Sau Dinh.
[2]: Phu quân họ Lý này là một đại quan nhà Ngô, từng
“hộ pháp” nhiều chùa ở Cổ Pháp-Siêu Loại trong đó có
chùa Linh Ưng ở hương Phù Đổng, nơi cô Phạm Thị Tiên
đang làm Phật sự. Đại quan họ Lý phải lòng thiện nữ Phạm
Thị Tiên (khoảng 22 tuổi), xinh đẹp, đang làm Phật sự ở
chùa Linh Ứng, làng Phù Đổng, gần chùa Kiến Sơ.. Do có
mối quan hệ ấy, cô Phạm Thị Tiên sớm trở thành phu nhân
của đại quan họ Lý vậy.
[3]: Đã là hùng trưởng một vùng, có nôi Phật giáo
Luy Lâu (Thuận Thành ) Siêu Loại, Cổ Pháp, nên phu quân
của mệnh phụ Phạm Thị Tiên tất yếu được giới Phật tử và
sư sãi của Cổ Pháp-Siêu Loại hậu thuẫn.
[4]: Vào thời Loạn thập nhị sứ quân, nhà Ngô mất
ngôi, các sứ quân bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại, ắt vị đại
quan, phu quân của bà Phạm Thị Tiên, phải bị hại, gia
đình thân thuộc của phu quân bà Phạm Thị Tiên phải xiêu
tán, mai danh ẩn tích, đổi họ Lý sang họ Nguyễn, rời
dinh cơ ở Hoa Lâm từ những năm loạn lạc cực điểm
(966-968), đi về phía bắc, đông bắc Hoa Lâm, nghĩa là
tránh xa những thủ phủ như Đại La, Cổ Loa…để tới vùng
rừng Báng, Tiêu Sơn hay vùng sông Cà Lồ…. Một bộ phận
vào chùa làm sư hoặc làm thủ hộ ở chùa, một số trốn
trong rừng, thậm chí trong hang đá…Đặc biệt bà Phạm Thị
Tiên có thể cải dạng thành một sư bà đứng tuổi, một
người có công sức tôn tạo chùa ở Thụy Lâm, bắc Hoa Lâm,
và ẩn tu ở đây, sau khi đã đưa các con ở độ tuổi thanh
niên, thiếu niên lên chùa Cổ Pháp, hay chùa Tiêu Sơn để
tránh tai mắt quân lính Lưu Cơ, một cánh tay đắc lực của
Đinh Tiên Hoàng đế và Lê Đại Hành hoàng đế.
[5]: Khi phu quân họ Lý bị hại có khả năng bà Phạm
Thị Tiên cùng gia tộc họ Lý đã bí mật tổ chức an táng vị
phu quân tại Hoa Lâm, gần nơi trú quán của gia đình,
tức Lý gia lăng và mộ của chồng bà về sau gọi là mộ Hùng
Công, một hình thức “che giấu” thông minh, nếu có người
hỏi thì gán chủ nhân ngôi mộ là thân phụ của Hùng Linh
công chẳng hạn. Những bộ tướng, những quân lính của Hùng
Công đã tử trận, có thể được hương khói tại Miếu Âm Hồn
ở Hoa Lâm.
[6]: Khi làm cuộc vận động Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng
đế, họ Lý giấu tông tích vị phu quân của bà Phạm Thị
Tiên, nên cũng huyền thoại hóa cái chết của bà Phạm mẫu,
tức giấu tình tiết bà là vợ của Hùng Công họ Lý.
2/ Vị họ Lý nào
cuối thế kỷ IX, ở miền Cổ Pháp hội đủ tiêu chí nói trên
?
Từ năm 2010, chúng tôi đã mạnh dạn nêu giả thuyết sứ
quân Lý Khuê, tức Lý Lãng Công, của miền Siêu Loại (
Thuận Thành, Bắc Ninh) là ông nội của Lý Công Uẩn. Chính
sử cung cấp những thông tin, dù hiếm hoi, nhưng đã thấy
sứ quân Lý Khuê thỏa tiêu chí [1], [3], [4], [5], [6].
Thật vậy, Lý Lãng Công từng đóng bản doanh ở thành cổ
Luy Lâu, trong khi quân của tướng Lưu Cơ đóng quân ở
làng Đại Từ ở mặt nam của thành Luy Lâu. Khi vỡ mặt
trận, sứ quân phải tháo chạy theo hướng tây thành Luy
Lâu, qua phía bắc làng Dương Xá và ông đã bị tử trận ở
thôn Dương Đanh, một thôn phía đông bắc của làng Dương
Xá, phía đông nam làng Phù Đổng. Thần tích làng Đại Từ
có chép về Lý Khuê và thôn Dương Đanh lại tôn thờ sứ
quân Lý Khuê làm Thành Hoàng. Nhưng thôn Dương Đanh
cũng như làng Dương Xá chẳng có mộ thật hoặc mộ vọng
của vị thành hoàng Lý Lãng Công! Một hùng trưởng như Lý
Khuê, được lòng dân Bắc Ninh xưa ủng hộ mà chẳng có một
truyền ức nào về mộ phần, hậu duệ của ông là một điều
lạ, trừ khi có những uẩn khúc mà nhân dân cần phải
giấu. Sự kiện nào đây? Chỉ có sự kiện: Sau khi Lý Khuê
tử trận, con cháu phải mai danh ẩn tích. Họ Lý vận động
chính trị để con cháu Lý Khuê nên sự nghiệp đế vương,
bằng cách khoác áo “con thần cháu thánh”, tránh sự truy
nã của quân tướng nhà Đinh, nhà Tiền Lê và khi Lý Công
Uẩn công thành danh toại, họ Lý tiếp tục giấu hậu sự
của Lý Lãng Công vậy.
Nếu Lý Khuê là phu quân của bà Phạm Thị Tiên thì theo
thần tích làng Mạnh Tân, Lý Khuê không những là một
hùng trưởng vùng nam bắc sông Đuống mà ông phải là một
đại quan của triều Ngô, có uy vọng của miền đông và cận
đông thành Cổ Loa, kinh thành của các vua Hâu Ngô Thiên
Sách vương, Nam Tấn vương, trước năm 965( năm Nam Tấn
vương tử trận khi đánh phá hai thôn Đường Nguyễn ở Thái
Bình ( Sơn Tây)). Hành trạng của Lý Khuê ứng với câu sấm
ký “Đại Sơn long đầu khởi”. Trước Lý
Công Uẩn sử không ghi chép một người nào họ Lý Diên Uẩn
nổi tiếng hùng trưởng một thời, của miền cận đông thành
Cổ Loa ngoài Lý Khuê! Như thế sứ quân Lý Khuê là ông nội
của Lý Công Uẩn là một khả năng cao nhất, cần kiểm chứng
Lý Khuê là hùng trưởng của miền Cổ
Pháp-Siêu Loại lại là một công thần của nhà Hậu Ngô.
Gần đây, 5-2-2012, trên website của họ Đỗ Việt Nam
đã công bố một tư liệu quí đó là bản dịch Thần phả thờ
Đỗ tướng công, viết bằng chữ Hán, do Dương Cát Lợi và Lữ
Sử Bình, đồng liêu của Đỗ Cảnh Thạc vào thời Bình vương
(Dương Tam Kha), Thiên Sách vương (Ngô Xương Ngập), Nam
Tấn vương (Ngô Xương Văn). Thần phả được soạn năm Canh
Ngọ[970] (triều Đinh Tiên Hoàng) khi hai vị này về viếng
mộ của Đỗ Cảnh Thạc. Năm Nhâm Dần [1602], Thượng thư
bộ Hộ Phùng Khắc Khoan, tước Mai Quận công, về nghỉ
ở vùng chân núi Sài, đã tiếp cận Thần phả này, họ Phùng
viết phần giới thiệu: “ Mùa hè năm Nhâm Dần, tôi
về chùa Thầy nghỉ mát, nhân ngày lễ vào hè của dân làng,
tôi vào đền Thành Hoàng dâng hương, được các cụ già
trong làng nhờ đọc thần phả.
Cuốn thần phả này được viết từ sau khi
Đỗ Tướng Công mất hai năm, tức ngày mùng 8 tháng giêng
năm Canh Ngọ, do hai quan đồng liêu của ngài là Lữ Sử
Bình và Dương Cát Lợi nhân về viếng mộ Tướng công đã ghi
lại công lao của Ngài vào sinh ra tử, nêu cao tấm gương
trung nghĩa suốt 36 năm trời phò vua đánh giặc giữ nước,
một lòng vì nhân dân.
Tướng công phò suốt ba đời nhà Ngô,
trải bao biến cố vẫn giữ một lòng trung hiếu, không màng
danh lợi, cống hiến cả cuộc đời cho dân, cho nước. Thật
là một tấm gương trung hiếu chói lọi cho đời sau noi
theo.
Ngày mùng 4
tháng 4 năm Nhâm Dần
Phùng Khắc Khoan ”
Đại Việt Sử Ký toàn thư, tập I, có chép về Đỗ Cảnh
Thạc và Dương Cát Lợi như sau: “ Ất Tỵ, [945], (Dương
Tam Kha năm thứ 1)…Khi vương mất, Tam Kha cướp ngôi. Con
trưởng của Ngô vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách
giang, trú ngụ ở nhà Phạm Lệnh Công ở Trà Hương. Tam Kha
lấy con thứ hai của Ngô Vương là Xương Văn làm con mình.
Các con thứ của Ngô Vương là Nam Hưng, Càn Hưng còn bé,
đều theo Dương quốc mẫu. Được ít lâu, Tam Kha sai chỉ
huy sứ là Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đem quân đến nhà
Lệnh Công đòi bắt Xương Ngập tất cả ba lần đều không
thực hiện được mệnh lệnh…” ( s đ d, tr. 205). Dương Cát
Lợi là bạn đồng liêu của Đỗ Cảnh Thạc, hành trạng có
chép trong chính sử, hơn nữa trình độ và uy vọng của
Phùng Khắc Khoan xưa nay ai cũng thừa nhận nên tư liệu
do họ Đỗ cung cấp có độ tin cao. Nội dung
Thần phả chú trọng viết về Đỗ Cảnh Thạc, nhưng Thần phả
lại cung cấp một chi tiết quan trọng về sứ quân Lý Khuê.
Thần phả chép: “ Lại nói về Đỗ tướng công, một hôm
ông họp chư tướng rồi giả vờ đem quân dẹp loạn thôn
Đường, ấp Nguyễn rồi quay lại vây thành Cổ Loa, trong
thành ủng hộ. Ông bắt Tam Kha lột mũ áo, thu ấn kiếm rồi
sai hai tướng đi đón Thái tử Ngô Xương Ngập, hoàng tử
Ngô Xương Văn về triều, cùng các quan và tướng lĩnh
trong triều tôn Thái tử làm Thiên Sách Vương. Trong thời
gian này, nước nhà thịnh trị, suốt từ Bắc đến Nam không
một bóng quân xâm lược, nhân dân yên ổn làm ăn.
Đỗ tướng công
tâu với Thiên Sách Vương phong tước cho các công thần
để vừa cai trị nhân dân, vừa giữ gìn giặc giã.
Tháng giêng năm Nhâm Tí, vua xuống chiếu gia phong:
- Kiều Công Hãn làm Thứ sử Phong Châu, trấn
thủ Tây Bắc
- Ngô Nhật Khánh làm Thứ sử Giao Thủy, trấn
thủ Đông Bắc
- Nguyễn Khoan làm Thái thú Yên Lạc, trấn giữ
Trung Bắc
- Lý
Khuê làm Ngự sử Thuận Thành, trấn giữ cận Đông
- Nguyễn Thủ Thiệp làm Thái thú Nhật Nam,
trấn thủ cận đô
- Lã Đường làm Thái thú Văn Giang, trấn thủ
Đông Nam
- Kiều Công Thuận làm Thái thú Trương Xá,
trấn thủ Tây Nam
- Nguyễn Siêu làm Thái thú Phù Liệt, trấn thủ
Tây đô
- Ngô Xương Xí làm ngự sử Ích Châu, trấn thủ
miền nam
- Phạm Bạch Hổ làm Thái thú Đằng Châu, trấn
thủ Đông Nam
- Trần Lãm làm Đô đốc thủy quân, trấn thủ
duyên hải
- Nguyễn Truật, Nguyễn Thạch, Đặng Khôi làm
Chỉ huy sứ thống lĩnh quân bộ.
- Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi, Phan Truật làm
Thái úy ngự lâm quân tại triều, giúp vua điều hành việc
nước. Các quan văn võ triều thần được phong thêm một
bậc.
Tháng 10 năm Giáp Dần (954), Thiên Sách Vương băng
hà, Đỗ Cảnh Thạc cùng các quan trong triều tôn hoàng tử
Ngô Xương Văn lên ngôi, làm Nam Tần Vương. Dưới triều
Nam Tần Vương, thiên hạ thái bình thịnh trị, độc lập tự
chủ hoàn toàn”
Qua tư liệu này biết được trong 12 sứ quân, hết 10
vị hùng trưởng các nơi, từng được Thiên Sách Vương Ngô
Xương Ngập gia phong năm Nhâm Tí [952] theo lời tâu của
đại thần Đỗ Cảnh Thạc. Thế thì khi Dương Tam Kha tiếm
ngôi nhà Ngô, Lý Khuê là hùng trưởng miền cận đông thành
Cổ Loa, từng tự xưng Lý Lãng công, chống Dương Tam Kha..
Mà vùng cận đông thành Cổ Loa chính là vùng Đông Ngàn,
trong đó có Hoa Lâm, ngay ngã ba sông Hồng sông Đuống
(một vị trí yết hầu của thành Cổ Loa).Khi được Thiên
Sách vương gia phong Ngự sử Thuân Thành, trấn giữ cận
đông kinh thành Cổ Loa, đại bản doanh của Lý Khuê là
thành cổ Luy Lâu (miền Siêu Loại, Bắc Ninh ) thì trước
năm 952 ông vốn là một một đại quan của nhà Hậu Ngô,
phụ trách việc binh, có dinh cơ ở Hoa Lâm Đông Ngàn, cận
đông của kinh thành Cổ Loa vậy. Ngô Xương Xí được phong
Ngự Sử mà Lý Khuê cũng được phong
Ngự Sử chứng tỏ Lý Lãng Công là một
trọng thần, cận thần của nhà Hậu Ngô và tất nhiên sư Ngô
Chân Lưu, con trưởng của Thiên Sách vương Ngô Xương
Ngập, về sau trở thành Tăng thống Khuông Việt, phải có
cảm tình đặc biệt với Lý Lãng Công. Như vậy Thứ sử Lý
Khuê phụ trách miền cận đông của kinh đô Cổ Loa, địa
bàn trách nhiệm của Lý Khuê là hai bờ tả ngạn sông
Đuống, trong đó có Đông Ngàn, Cổ Pháp, Siêu Loại,…Năm
Ất Sửu [965], Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn thân chinh
đánh hai thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, bị phục binh
phải tử trận…thế là vào năm Bính Dần [966], đa phần các
đại quan đang trấn nhậm các nơi và quan triều như Đỗ
Cảnh Thạc hoặc thế tử như Ngô Xương Xí, không ai phục ai
chiếm cứ quận ấp thành ra nước ta rơi vào loạn lạc cực
điểm trong giai đoạn cuối (966-968) của thời “Thập nhị
sứ quân”…Và như thế Lý Khuê hay Lý Lãng Công, với chức
Ngự Sử Thuận Thành, hội đủ tiêu chí [2] và cũng qua tư
liệu mới này, càng tin ông hội đủ các tiêu chí là phu
quân của bà Phạm Thị Tiên, vì thế cho nên con cháu ông
phải trốn tránh sự truy nã của quan quân nhà Đinh, nhà
Tiền Lê là hợp lý. Khi Lý Khuê tử trận, có thể bà Phạm
Thị Tiên đưa con trai 9 tuổi đến chùa Cổ Pháp muộn nhất
là năm 967. Đến năm 974 người con trai của Lý Khuê ít
nhất 16 tuổi, lên Tiêu Sơn trốn, gặp cô gái thủ hộ
Phạm Thị Ngà, sinh Lý Công Uẩn. Ngoài ra Lý Khuê từng
giúp Đỗ Cảnh Thạc trong cuộc đảo chánh Dương Bình vương
nên sư Ngô Chân Lưu (con trai của Ngô Xương Ngập), có
nhiều cảm tình đặc biệt với Lý Khuê nói riêng (đại công
thần của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập) và họ Lý Diên
Uẩn nói chung khi tu ở chùa Khai Quốc. Dẫu sao sư Khuông
Việt cũng biết sư phụ Vân Phong của mình họ Nguyễn (tức
họ Lý) có nhiều công đức tôn tạo chùa Khai Quốc, nơi sư
Ngô Chân Lưu tu học và thành đạt. Vì mối quan hệ đặc
biệt ấy, sư Đa Bảo, đệ tử giỏi của Khuông Việt, được cử
về trú trì chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng, phối hợp với sư
Vạn Hạnh, là một trong những vị sư đã tích cực ủng hộ
Lý Công Uẩn, cháu nội của Lý Khuê, lên ngôi thay thế
nhà Tiền Lê vậy.
Thay lời kết:
Chúng tôi viết tiếp bài này để củng cố một giả
thuyết công tác, từng đề xuất năm 2010, nhằm truy tìm
nguồn gốc của vua Lý Thái Tổ. Đã là giả thuyết công tác
thì cần có phương án cụ thể để kiểm chứng giả thuyết
đươc nêu… Mộ Hùng Công ở Mai Lâm, Đông Anh, mộ Hiển
Khánh vương ở gần chùa Tiêu, mộ Lý triều thánh mẫu ở
“rừng Miễu” Dương Lôi, mộ 8 vua triều Lý ở “Sơn lăng
cấm địa” …là những “địa chỉ khảo cổ học” cần có thêm
những thao tác khảo cổ học của những cơ quan hữu trách,
của những nhà chuyên môn. Hy vọng rằng các nhà nghiên
cứu đẩy mạnh hơn nữa công cuộc tìm kiếm nguồn gốc của
vua Lý Thái Tổ, những phát hiện mới sẽ có những thông
tin giúp chúng tôi kiểm chứng giả thuyết đã nêu, trong
bước đường tìm tông tích của vua Lý Thái Tổ. Một nghìn
năm qua, một trăm năm qua, chục năm qua vấn đề tông tích
của Lý Công Uẩn là một dấu hỏi nhức nhối của nhiều nhà
nghiên cứu đầy tâm huyết và chuyên môn cao. Chúng tôi
biết hạn chế của mình, chẳng hạn nghiên cứu khảo cổ học
mà chỉ ngồi ở Huế, chưa một lần qua “Bên kia sông Đuống”
thì làm sao tránh khỏi những sai sót. Tuy nhiên, chúng
tôi rất mong tìm được tông tích của vua Lý Thái Tổ như
nhiều người khác , không tự ti mặc cảm, mạnh dạn tham
cứu các tư liệu mà các học giả, nhà nghiên cứu đã công
bố, mạo muội đưa ra giả thuyết trong bài viết năm 2010
và bài viết này. Rất mong các độc giả, các nhà chuyên
môn có liên quan, …bỏ qua những sai sót nhỏ nhặt, góp ý
cho những nội dung chủ yếu của giả thuyết. Nhân đây
chúng tôi cũng xin quí bà con thuộc họ Lý Hoa Lâm, họ
Phạm Dương Lôi bỏ qua những sai sót (nếu có) đối với
tiền nhân hay những sai sót khi lập ngôn, lập thuyết …
Rất mong quí vị lượng thứ.
Huế, ngày 5 tháng 3 năm 2012.
Trần Viết Điền
Tài liệu tham khảo:
1/Chu Quang Trứ, Lý giải các nguồn thư tịch Hán Nôm để
tìm hiểu nguồn gốc nhà Lý.
2/ Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga (dịch giả,)Thiền
uyển tập anh (nguồn G.)
3/ Lê Mạnh Thát (dịch giả), Thiền uyển tập anh (nguồn
G.)
4/ Chu Minh Khôi, Đi tìm gốc tích Lý Thái Tổ, tháng
3-2010, Giác Ngộ online.
5/Kiểu Thu Hoạch, Huyền thoại và giai thoại xung quanh
Lý Công Uẩn – vị vua khai sáng Thăng Long, 17-11-2011,
Tạp Chí Hồn Việt.
6/Nguyễn Việt, Khảo sát dòng họ Lý từ khởi nguồn đến
Lý Công Uẩn ,1/11/2010.
7/ Nguyễn Hùng Vĩ – Nguyễn Văn Thanh đồng tác giả,
Tấm bia “Hoa Lâm Tam Bảo thị” (1656) Thêm một tư liệu
đáng tin cậy về Lý Công Uẩn và vùng Mai Lâm, 2011.
8/Nguyễn Hùng Vĩ, Tìm hiểu lại vấn đề mộ Tổ nhà Lý qua
THIỀN UYỂN TẬP ANH
9/Kỉ yếu hội nghị khoa học Những phát hiện khảo cổ
học Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý,Hội
khoa học lịch sử Việt Nam – Hội Sử học Hà Nội. 2008.
10/Y Nguyên, “Giải ảo”vương triều Lý” ,
“www.thanhnien.com.vn 21/11/2009 23:06
11/Wesite Họ Đỗ Việt Nam, Thần phả thờ Đỗ tướng
công,2012
12/ Mạng trải nghiệm du lịch người Việt, Lễ hội làng
Mạnh Tân
13/- Đại Việt sử kí toàn thư – Bản khắc in năm Chính
Hòa thứ 18 (1697). Nhà xuất bản KHXH. Hà Nội 1983.