Những bài
cùng tác giả
Các bạn thân mến,
Trong một thời gian khá lâu người viết đã không có dịp
tiếp tục với đề tài này. Phần là vì sự bận rộn gia tăng do bởi một nền kinh tế Hoa Kỳ
khá ảm đạm (nên phải lo "giữ mồm" trước :-) phần nữa là thật sự để vận dụng
được một ý kiến triết học nào đó thì điều cần thiết là người vận dụng phải
thẩm thấu được cốt lõi của ý kiến đó đồng thời lại phải tự thân lọt vào các tình huống
hay cơ hội thuận tiện để các hiểu biết bộc lộ ở dạng ứng dụng. Vô duyên
thì dù có muốn cũng hỏng. Mãi đến nay mới có dịp xin trình tiếp với các
bạn bài thứ nhì là vậy.
Trước khi vào nội dung đề tài lần này thì có một nghi vấn đã được đặt ra như
sau: "Mục tiêu của đạo Phật vốn là để giải thoát hành giả và chúng sinh khỏi
đau khổ luân hồi. Ngay chính đức Phật lúc còn tại thế cũng tránh
không trả lời cho người ngoài đạo các câu hỏi triết lý xa vời vốn it liên
can đến sự tu chứng để giải thoát -- thế thì việc cố ý sử dụng các nguyên lý,
đạo pháp hay các lời dạy từ trong Phật giáo phải chăng là một kiểu đi ngược
với mong mỏi và mục tiêu ban đầu mà đức Phật đã đề ra hay không, và hơn thế
nữa, đạo Phật vốn chỉ áp dụng cho loài hữu tình có ý thức (nhất là người)
thì dính dáng chi đến việc ứng dụng vào các nghiên cứu có tính vật chất
thường tục?"
Câu hỏi ở đây có hai ý: Thứ nhất, dĩ nhiên mục tiêu tối hậu của Phật giáo là
đạt giải thoát khỏi đau khổ của luân hồi nhưng để đi đến được các giải thoát đó, cần có các
yếu tố
đủ chín mùi mà trong đó hành giả phải tích tụ đủ duyên nghiệp phù hợp -- Như
thế, việc nuôi dưỡng lòng từ bi là một yếu tố quan trọng tương đương không
kém so với việc phát triển trí tuệ. Bởi đó động lực của hành vi vị tha không
phân biệt thân sơ, giữ vai trò quan trọng để tạo duyên/nghiệp như thế.
Vậy thì việc tìm cách ứng dụng của Phật học vào các nghiên cứu nhằm đem lại phúc
lợi và tiến
bộ cho đời sống con người cũng sẽ không khác chi các hành vi từ bi khác, có
khác chăng là việc các ứng dụng vào khoa học nếu có của Phật học càng tạo
thêm được các bằng chứng về sự đúng đắng cũng như nuôi dưỡng tín tâm vào Phật giáo.
Ý thứ
hai về việc áp dụng của Phật giáo thật ra có một cơ sở biện chứng rõ ràng:
Dù nhiều đối tượng của các nghiên cứu khoa học không thuộc diện con người
hay chúng sinh có tâm thức, nhưng khi nhìn vào các khía cạnh chung thì
cả ý thức lẫn vật chất đều chia sẻ cùng nhau các luật cơ bản đó là luật
duyên khởi và vô thường chóng vánh. Như thế, dòng sinh diệt liên tục của chúng đều có thể ảnh
hưởng và chịu ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Cả hai cùng chịu các tác
động như nhau của môi trường nên các phản ứng tùy trường hợp sẽ có thể giống nhau
nhiều hay ít.
Thứ đến, quan trọng hơn, điều cần chú ý là các đối tượng nghiên
cứu khoa học đặc biệt là các sản phẩm có đặc tính tinh khôn dù ở bậc thấp (như
các máy vi tính, các robot, ...) đều là sản phẩm của ý thức nên ít
nhiều phải có dấu vết của ý thức tác động lên các chức năng và các hoạt động
của chúng (bao
gồm ý tưởng áp dụng các lý thuyết toán học và vật lý vào các kiến trúc máy
tính chẳng hạn), và do đó, sẽ có một số đặc tính sao mượn hay phản ứng theo cách mà ý thức
của người sáng tạo đã cài lên nó.
Do đó, việc áp dụng Phật giáo lên các đối tượng phi tâm thức của khoa học là hoàn toàn khả
thi miễn là người nghiên cứu biết mình đang làm gì và điều đó có hợp lý hợp
tình hay
không. Tức là phải hiểu rõ phạm vi nào để ứng dụng.
Mặc dù đã hết sức cố gắng để dùng lời văn giản dị,
nhưng vì các ví dụ trong bài đều có thể cần đến nhiều thuật ngữ chuyên môn
trong khoa học máy tính. Các thuật ngữ này vốn chưa được tiêu chuẩn hóa sang
Việt ngữ. Do đó, sự trình bày sẽ ít nhiều đòi hỏi người đọc chú tâm ở mức
cao cũng như có một kiến thức đủ về các thuật ngữ máy tính.
Cuối cùng, bài viết này được khởi lên từ nguyện
vọng mong muốn chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp cùng "tình trạng", đây
không phải là bài giáo khoa lại càng không phải là bài giảng Pháp dù rằng
hầu hết các ý kiến trong bài viết liên quan đến triết lý nhà Phật đều đã
được nêu trong các kinh luận. Cho nên, nếu có các lỗi lầm thì người viết xin nhận lấy trách nhiệm và xin cảm tạ
các ý kiến chỉ dạy. Ngược lại, nếu nó đem lại chút ít lợi ích cho chỉ
một người đọc thôi thì bài viết đã hoàn tất nhiệm vụ. Mọi liên lạc về
nội dung bài viết xin hoan hỉ email về
vo_quang_nhan@yahoo.com. Xin
cảm tạ.
I. Những Ý Kiến Chung:
Trở lại nội dung chính của bài viết. Trước tiên
tác giả bài viết xin kính dâng lên Thánh đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 (His
Holiness the Dalai Lama 14th.) hồ sơ xin phát minh
với tựa đề "Middle Way Logical Volume"1 (tạm dịch: Trung Đạo về Ổ Logic). Lý
do là phát minh này đã vận dụng lại sáng kiến về chính sách Trung Đạo của đức Đạt-lai Lạt-ma
để đề xướng vào trong khoa học máy tính. Ý tưởng sáng tạo trong phát minh này không thể
có được nếu không có chính sách Trung Đạo của Ngài. (Thật tiếc cho chính phủ
Trung Hoa đã không thấy được hay vì vô minh cố tình không thấy ưu điểm của
đường lối Trung đạo)
Bài thứ hai này có đề cập về việc sử
dụng các quan điểm hay ý kiến đã được giảng huấn từ các vị phật hay
đại bồ-tát. Lý do là vi các bậc đại bồ-tát đã phải trải qua thời gian rất dài rèn
luyện tâm thức tập trung mãnh liệt nên khả năng nhận thức của các ngài
rất đúng đắn và thấu suốt.
Về lý mà nói, thì lời dạy của các bậc giác ngộ
(nếu được thấu hiểu cặn kẽ) đều
là lời nói thể hiện các mức độ khác nhau về
hiểu biết chân lý.
Cho dù các lời dạy đó hầu hết chỉ thể hiện trong bối cảnh rèn luyện tâm, thì
vì các lý do đã nêu, chân lý bao hàm bên trong các lời dạy đó sẽ rất hữu hiệu
nếu nó được thấu suốt và sử dụng đúng theo luật duyên khởi (-- nói một cách nôm na
về
luật này là các hiện tượng sinh ra đều do sự tác động của các điều kiện
chung quanh và sự chuyển hóa liên tục của chính bản thân hiện tượng đó
:-).
Cách nay hơn tháng, tác giả bài này có nhận được một
email từ một người chưa hề quen biết giới thiệu về việc ứng dụng của
nguyên lý Tứ Diệu Đế tức là bài giảng đầu tiên của đức Phật Thích-ca vào dịp
chuyển
Pháp luân lần thứ I2. Bài viết đã nêu lên một điểm lý thú trong việc quán
chiếu theo cách nghĩ của nguyên lý Tứ Diệu Đế để giải quyết các vấn đề, các
khó khăn. Theo thiển ý thì đó là một ví dụ điển hình trong khi cũng sẽ có rất
nhiều cách vận dụng một nguyên lý Phật học khác không chỉ với Tứ Diệu Đế như Duyên khởi, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên ... Chỉ
cần theo dõi quán chiếu và tu tập thật cẩn thận và tìm cách áp dụng chẳng hạn như nguyên lý giữ chánh
kiến trong Bát chánh đạo cũng đã có thể mang lại rất nhiều lợi lạc cho
người nghiên cứu khoa học.
Nhưng đi đến mức cụ thể hơn,
ta có đến vô vàn các lời
dạy (84 ngàn pháp môn) thì câu hỏi đặt ra là biết dựa vào đâu và dựa trên
nguyên tắc chọn lọc nào để dùng cho phù hợp với điều kiện khó khăn trong
nghiên cứu hiện có?
Câu trả lời ở đây thật đơn giản mà cũng... không đơn
giản tí nào đó là hãy để tùy duyên! Tức là tùy hoàn cảnh, tùy hiểu
biết mà có nên hay
không nên có dùng hay không dùng được một giáo huấn nào đó. Cũng tương
tự khi giải một bài toán thi, người thí sinh phải biết tự mình liên kết,
liên hệ các sự kiện của đề thi với kiến thức sẵn có một cách linh hoạt và
hợp lý,
từ đó mới đi đến chỗ thấy được sự khế hợp của những gì mình đã hiểu rõ và
những gì mình cần vượt qua để dựa trên tri kiến đã biết mà làm.
Để có thể hoàn thành một bài thi thì thí sinh
cần phải có đủ kiến thức và kỹ năng để giải quyết. Cũng vậy cho việc
ứng dụng Phật giáo. Ở đây xin nhắc đến
quá trình tìm đến Phật giáo, đọc và phân tích để hiểu thật rõ các giáo pháp và ngay
cả cần hiểu được giáo pháp đó ở mức độ nào dành cho đối tượng nào và nó khế
hợp với bối cảnh nào thì càng tốt. Bước tiếp theo có thể khó hơn
là việc người đọc tự mình thực hành hay cố gắng thực hành các lời dạy đó.
Việc thực hiện lời dạy là một bước rất quan trọng vì giống như trong lúc thi
người học trò không thể nào đợi đến khi bước chân vào phòng thi mới lò dò mở từng cuốn sách ra mò
xem đề bài này thuộc loại gì, kiến thức của nó nằm ở đâu trong cuốn sách giáo
khoa nào. Một khi các hiểu biết Phật giáo đó đã phần nào "nhập tâm" thì đó
là lúc có cơ may hái quả do duyên mình gieo ra. Nói cho cùng, các kiến
thức Phật giáo, nếu có được áp
dụng thì chúng đều cũng chỉ là các trường hợp ứng dụng đặc
biệt so với việc sử dụng chúng vào đời sống hay đạo đức thường nhật. Theo
như cách miêu tả thông thường trong nhà Phật thì quá trình
rèn luyện này mang tên là "Văn
(đọc hiểu) -Tư (tư duy) - Tu (nổ lực thực chứng). Ở đây, xin nhắc thêm
một điều quan trọng: hoàn toàn giống như học sinh đi học
cần có người thầy giỏi thì việc học sẽ
tiến bộ nhanh trong khi nếu gặp người thầy không phù hợp hay không có khả
năng chuyển giao kiến thức có thể khiến người học trò trở nên mất căn bản và
có cơ tạo ra các nguy hại cho tương lai của người học trò.
Trong một bài giảng của đức Đạt-lai Lạt-ma (HHDL) có giảng về 3 phẩm chất mà một người tu học
Phật giáo cần có là: khách quan, phân tích logic mạnh mẽ và tinh tấn (hứng
thú và kiên quyết) trong tu học. Tương tự như thế, để các nghiên cứu
khoa học được thành công thì các điều kiện về khách quan về khả năng phân
tích lập luận và về sự hứng thú trong công việc
cũng là điều phải có.
Một điểm nữa cần nhớ là, người
nghiên cứu lúc gặp khó khăn, cũng nên thử hướng tư duy của mình vào việc áp dụng các kiến thức
Phật giáo vào các tình huống cụ thể ... có khi một tia sáng lóe ra từ các
điều đã học trong Phật giáo.
Để minh họa, xin nêu tiếp phần thực tế áp dụng sau đây
II Ứng Dụng:
Vì người viết bài hoạt động trong lãnh
vực khoa học máy tính cho nên các ứng dụng học được từ các lời giảng Phật
giáo vào nghiên cứu cũng mang hơi hớm đó. Nếu người đọc tìm thấy sự khó hiểu
ở đây, xin chân thành tạ lỗi vì không có các ví dụ nghiên cứu ứng dụng phổ
quát hơn.
II.1. "Văn hóa xếp hàng" trong mạng máy tính
-- hay -- Tự chuyển hóa
ứng xử của cá nhân mình
hơn là cố tìm cách biến cải ứng xử của toàn bộ môi trường:
Tìm
ở đâu được mảnh da lớn có thể bao phủ toàn quả địa cầu? Ngay nơi chiếc dép
da này, toàn mặt đất sẽ được bao phủ "3.
Triết ý của điều này thật ra đã được dạy từ đức Phật. Đại khái là cá
nhân
chúng ta không đủ sức để thay đổi cả thế giới môi trường nhưng chúng ta hoàn
toàn có thể thay đổi tự chính mình để tạo ra được sự hài hòa phù hợp
cần thiết.
Trong môi trường mạng (network) việc các mạng "giao thông" gặp tắt ách
rất thường thấy trong quá khứ và cả trong hiện tại một khi thông tin cùng
một lúc bị truy cập hay cùng lúc cần đến.
Trường hợp cụ thể ở đây là vấn đề nảy sinh khi máy chủ (host/server) dùng
giao thức DHCP hoạt động trên nguyên tắc tự động gán các địa chỉ IP cho các thân
chủ (client). Nó đòi hỏi phải có một thời gian ngắn hạn để qua giao
diện (interface) trao đổi các thông số cần thiết cũng như biết được máy thân
chủ có được phép ban cấp IP (và bản thân máy chủ có sẵn nguồn IP chưa
dùng đến hay không)
để máy chủ có thể cấp phát số IP cho máy thân chủ cụ thể đang chờ kết nối.
Thông thường thì
trên giao diện mạng, việc nối mạng như thế xảy ra ngẫu nhiên và ít khi gặp
trở ngại. Tuy nhiên, trong môi trường hoạt động đặc biệt chẳng hạn như
trong một mạng cô lập, một máy chủ dùng giao thức DHCP (điều khiển vận hành chung) được nối trực tiếp và tự động với hàng
ngàn máy thân chủ giống hệt nhau (thông qua các switch). Ngay sau khi có sự cố (bị cúp điện) và
nguồn điện đã được trở lại bình thường thì người quản lý hệ thống tự
động này quyết định mở cầu giao cho máy chủ trước và tiếp đến mở cầu giao
đồng loạt cho tất cả các máy thân chủ .... Sau đó, người quản lý có thể dễ dàng thấy "hiện
tượng" sau: có khá nhiều máy (hơn 1/3 trong tổng số) không thể nhận về được địa chỉ IP cho
mình mặc dù máy chủ có khả năng cung cấp 100% số IP mỗi số cho một thân chủ
một cách tự động. Số lượng máy thân chủ không có được IP "đành" phải
được cho tái khởi động (reboot) bằng tay và kiểm lại địa chỉ IP. Việc
làm như thế rất tốn thì giờ và buộc phải thân hành đến từng máy địa phương (không
thể điều khiển từ xa vì ... chưa có kết nối mạng lên máy thân chủ để mà điều
khiển)
Sau khi phân tích
thì vấn đề này có thể thấy nó gần tương tự như chuyện trên 1 đoạn đường của
1 thành phố, ở giờ "Cao điểm" tất cả các xe trong các căn hộ thuộc đoạn đường này
đều "xuống đường" cùng lúc ... mỗi chiếc xe đều đòi phải có 1
khoảng đủ rộng để phóng ... đến nơi mình muốn. Việc xảy ra đụng chạm
cọ quẹt và tăng thêm trở ngại là việc tránh không khỏi. Do đó, nạn kẹt xe
(tắt đường) là tất yếu .

" Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non ..."
(Tú Xương)

"Mặc kệ đâu nhốn nháo - Ở đây
ta xếp hàng -
Người trước Người sau - Chúng ta nối đua nhau
→ Mua
thịt"
(Chế Lan Viên)
Ở đây, tình huống
"thấy được" là việc vận tốc cung ứng các địa chỉ IP (môi trường
sẵn có) là có giới
hạn. Người ta có thể nghĩ đến chuện tăng cường khả năng của máy chủ (thay
đổi môi
trường cung ứng điều kiện làm việc của mạng) bằng các tăng các đường nối
mạng, tặng vận tốc của bộ điều hợp mạng của máy chủ và các thân chủ (NIC/network controller) lên mức tối
đa ... Tuy nhiên, các giải pháp này vừa tốn kém nhưng vẫn không thể giải quyết
được hoàn toàn vấn đề. Mấu chốt cơ bản là "ta không thể nào mua đủ da để bọc hết gai trên trái
đất này"! Khó lòng tăng cường được lượng mưa trong năm để dùng cho tưới tiêu
các vùng ít lưu lượng mưa... mà cách dễ hơn vẫn là ... thay đổi các giống cây trồng
phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu. Như vậy, giải
pháp chính là hướng đến số lớn các máy thân chủ (thuộc về cá nhân) để điều
chỉnh cho phù hợp hơn là thay đổi toàn bộ điều kiện sằn có của mạng kết nối.
Giờ hãy thử nghĩ
nếu tất cả các thân chủ đều không ai giành nhau xin địa chỉ IP trong cùng
lúc (và thay vào là có một dạng "xếp hàng" ngẫu nhiên nào đó) thì có lẽ vấn đề sẽ
dễ hơn.
Tuy nhiên, khi người quản lý bật cầu dao thì tất đều khởi động cùng lượt
.... các máy thân chủ, vốn có cùng một kiểu cấu hình và dùng cùng một thuật
toán khởi động, đều không thể có bất kì liên hệ nào với các thân chủ khác để
tự biết thứ tự của mình mà "xếp hàng (việc các máy tính biết được
được
sự có mặt của các
thân chủ khác trên mạng chỉ có thể xảy ra ... sau khi các thân chủ mỗi máy
đã có một địa chỉ IP cho mình --> vòng lẩn quẩn). Tuy nhiên, các thân
chủ vẫn có thể tự mình thay đổi thời gian "giành giật" bằng cách xin đăng ký
số IP ở thời điểm nào khác hơn là vào lúc "cao điểm". Vì các thân chủ đều
rất giống nhau về mặt vật lý trừ một đặc điểm nhỏ, đó là mỗi bộ điều
hợp nối mạng
của mỗi máy thân chủ có duy nhất một địa chỉ MAC phân biệt.
Như vậy, nếu dùng
địa chỉ MAC này để làm nhân cho việc thay đổi từng cá nhân máy thân chủ:
Đặt số MAC
riêng biệt của mỗi máy này làm nhân cho một hàm số ngẫu nhiên để tạo một
thời gian vài giây (X). Máy thân chủ khi khởi động sẽ tự động ra lệnh cho
mình đợi (delay) một số X giây ngẫu nhiên này trước khi gửi gói dữ liệu
(data package) đến máy chủ để xin đăng ký IP (con số X delay này
được xác định tùy theo lượng thân chủ và khả năng thực tế của hệ thống
mạng, có thể tăng đến vài phút cho delay time)
Lý do mà vấn đề được hoàn toàn giải quyết là vì theo
phân bố ngẫu nhiên thì .... số lượng máy thân chủ trung bình yêu cầu nhận địa chỉ IP
trên một đơn vị thời gian thay vì là hàng ngàn máy trong cùng lúc nay được "giãn" ra trong một
khoản thời gian
đủ lớn. Các thân
chủ do có thời gian "chờ đợi" tự động một cách đồng đều ngẫu nhiên nên chỉ
có tối đa (theo luật ngẫu nhiên bình đẳng) một lượng nào đó yêu cầu các địa
chỉ IP lên máy chủ qua mạng kết nối. Do đó máy chủ có đủ thì giờ đáp ứng cho số này đồng thời lưu lượng trung bình các gói dữ liệu có mặt trên
mạng cũng giảm đi nhiều chục/trăm lần và do đó tránh được các va chạm (data
collision) làm mất dữ liệu thông tin mạng.
II.2. "Trông Mặt mà Bắt Hình Dong" -- Các nguyên
nhân có phụ thuộc vào hậu quả không?
Theo nguyên lý duyên khởi
(pratītyasamutpāda)4 mà đức Phật đã dạy, thì mọi vật
hiện hữu đều phụ thuộc vào các nhân (nguyên nhân) và duyên (điều kiện) tạo
ra. Ở đây tạm không bàn sâu vào tính sinh diệt liên tục của vạn vật trên đơn
vị ngắn nhất của thời gian mà chỉ đào bới một khía cạnh nhỏ về đặc tính phụ
thuộc
của lời dạy này. Chúng ta có thể hiểu đặc tính phụ thuộc theo 3 mức độ:
- Mọi vật sinh ra đều là kết quả của sự tương tác bởi
nhiều nguyên nhân và điều kiện.
- Các yếu tố cấu thành của một sự vật/hiện tượng và
toàn thể sự vật/hiện tượng đó phụ thuộc vào nhau
-
Tất cả sự vật và hiện tượng chỉ hiện hữu như là kết quả sự kết hợp đồng
thời của tất cả những yếu tố cấu thành. Khi phân tích sự vật trong nhận
thức bằng cách chia chẻ chúng thành từng yếu tố cấu thành, thì bất cứ sự
vật nào cũng đều hình thành với sự phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố
khác. Và cho đến cùng thì tất cả đều tùy thuộc vào cách định danh (tức
là cách đưa ra khái niệm, cách hiểu, đặt tên, mô tả, ... vv về một sự
vật)
Thật ra, nguyên lý này đã được
vận dụng trong khoa học rất nhiều từ việc chẩn bệnh
trong Y học người bác sĩ cần nhận thấy các triệu
chứng cũng như kết quả các phép thử (máu, nước tiểu,
...) mà đoán ra căn bệnh có khi là chắc chắn có khi
chỉ ... là đoán. Trong khoa học giảo nghiệm, truy
tầm tội phạm cũng thế, người ta dựa trên những bằng
chứng hiện có để suy luận các nguyên nhân hay các
nguồn dẫn. ... Cũng thế, trong khoa học máy tính,
người phát triển mã nguồn có thể dùng các phép suy
luận logic (dựa trên cơ sở trạng thái (state
machine) và các thuật toán để tìm ra các sai sót.
Trong quang học, hay vật lý thiên văn người ta cũng
có thế dựa
trên các quan sát phổ sóng ánh sáng, để
đoán ra vật thể được quan sát có chứa nguyên tố gì.
Vận dụng nhân quả theo cách này thì không có gì mới
mẻ.
Vậy nhưng ở đây, xin ghi rõ đến cách nhìn có
khác hơn của Phật giáo về tính phụ thuộc: Ai
cũng nhận ra rằng hậu quả luôn luôn phụ thuộc vào
các nguyên nhân và các điều kiện. Thế nhưng
đạo Phật lại còn đi xa hơn nữa, một cách khách quan, nếu
tạm thời không truy cứu đến phạm trù thời gian trôi
chảy trong mối quan hệ nhân quả này thì rõ ràng về mặt
tương ứng: mỗi phổ các hậu quả riêng biệt chỉ có thể
tương ứng với một phổ của các nguyên nhân và phổ của các duyên (điều
kiện mội trường) đặc thù. Hậu quả khác đòi hỏi tổ
hợp nhân duyên khác, và do đó, từ cách nhìn này thì
Phật
giáo cho rằng nguyên nhân cũng phụ thuộc vào hậu quả5.
Dựa trên quan điểm đó, nếu người nghiên cứu nắm
được một cách chính xác đầy đủ về trạng thái và ứng
xử hiện có (bao hàm cả trong đó sự tương tác với môi
trường tạo duyên) của một đối tượng thì hoàn toàn có
thể suy ngược một cách chính xác đến các nguyên nhân
khiến cho đối tượng nghiên cứu có trạng thái ứng xử
hiện tại. Một ứng dụng nhỏ của việc tương tác
nhân quả trên các phát triển phần mềm là có thể
khích khởi (inject) lên ngỏ nhập của chương trình
các tham số, với điều kiện vật lý đặc biệt và thu lại
toàn bộ kết quả hay ứng sử của chương trình. Một khi
biết rõ các liên hệ khả dĩ giữa điều kiện đưa thêm,
nguyên nhân,
và hậu quả đang có cùng với môi trường hiện tại thì có thể "thấu
suốt được" các nguyên nhân vốn khó nắm bắt này một cách tường minh hơn.

Tuy nhiên, ở đây người áp dụng cũng nên biết rõ là
Phật giáo phân biệt 3 hạng dữ kiện: Một là hạng dữ kiện có thể trực
tiếp nhận thức và không cần thêm bất kì biện pháp nào. Hai là hạng dữ kiện có
mặt nhưng đòi hỏi phải suy luận chặt chẽ hay phải có những "công cụ" gián
tiếp để phát hiện. Ba là, hạng dữ kiện hoàn toàn ẩn kín; loại này không cho
phép người nghiên cứu thấy, suy luận hay dùng công cụ để chỉ rõ được.
Tuy nhiên, trong dòng duyên khởi (tức là dòng chuyển biến tương tác liên tục
của các hiện tượng đang được nghiên cứu) thì các dữ kiện bất kể thuộc
hạng nào cũng vẫn có các tương tác lẫn
nhau. Do đó các sự kiện có khả năng nắm bắt được vẫn có thể còn chịu ảnh hưởng
của các sự kiện không nắm bắt được (và ngươc lại -- đây cũng là các yếu tố
tạo khó khăn trong nghiên cứu). -- Trong nghiên cứu nếu có
thể, hãy tìm cách "thay đổi tình hình" bằng việc "kích thích" ngõ vào một
cách chọn lọc để khiến chúng tạo duyên cho sự loại trừ hoàn toàn hay ít nhất giảm thiểu
tối đa ở mức có thể của các dữ kiện hạng thứ ba trong kết quả -- qua đó người nghiên cứu có
thể kiểm soát và thấu hiểu được tình hình, nguyên do, hay bản chất của đối
tượng đang được nghiên cứu.
III. Trung Đạo -- Một chìa khóa của Phát minh
Tùy theo các trường phái khác nhau trong Phật giáo,
thì khái niệm Trung đạo có thể được hiểu một cách có khác nhau về chi tiết.
Ta có thể hiểu về Trung đạo một cách nôm na qua hình ảnh của việc lên dây
đàn. "Sợi dây đàn chùng quá hay căng quá cũng không tạo được một âm thanh
trong trẻo". Đứng về mặt ý thì Trung đạo là việc phủ nhận các cực đoan
cố chấp vào sự tồn tại hay không tồn tại của sự vật. Việc cố chấp này
nảy sinh là do thiếu hiểu biết chính xác về bản chất duyên khởi chóng vánh
của sự vật (thông thường các ý tưởng cảm nhận qua các tri giác thông thường
về thế giới khiến ta dễ nhìn nhận sự vật tồn tại một cách bản chất hay đôi
khi ngược lai phủ nhận sự tồn tại của sự vật chỉ vì dựa trên các quan sát hay lý
luận không
đầy đủ).
Ở đây ý tưởng "Trung Đạo" trong Phật giáo đã được
đức Dalai Lama mô
phỏng thành một chính sách đề nghị cho tương lai của Tây Tạng.
Đó là việc ngài chủ trương kiến tạo một vùng Tây Tạng tự trị thật sự.
Ý kiến này có thể đã nảy sinh từ động lực mong muốn có một sự chung sống hòa
bình hạnh phúc cho cộng đồng người Tây Tạng trong khối người Hoa khổng lồ.
Chính sách đó không đi theo hướng cực tả đòi hỏi giành lại một tên nước Tây Tạng độc
lập mà cũng không chấp nhận xu hướng cực hữu qua việc xóa bỏ nền văn hóa Tây
Tạng với bản sắc đặc trưng Phật giáo Kim Cương thừa để trở thành một loại
bản sắc Hán tộc 100%. Khối ngựời Hoa rất đông đảo và mạnh mẽ về di sản vật
chất và văn hóa trong khi khối người Tạng nhỏ bé nhưng lại rất sâu sắc, đồng
nhất và
hài hòa về di sản tinh thần và tôn giáo ...Theo phân tích của người viết bài
này, sự kết hợp khéo léo không hủy hoại các đặc tính tốt đẹp lẫn nhau của
hai khối này sẽ có thể mang lại lợi ích vô cùng lớn lao cho cả hai cộng đồng. Ngoài ra, còn có thể có nhiều phân tích về các khía
cạnh lợi ích khác của chính sách Trung đạo nhưng việc bàn thảo về nó sẽ vượt
quá đề tài khoa học của bài viết.
Chúng ta hãy trở lại một thí dụ ứng dụng của ý kiến
trung đạo. Trong kiến trúc hiện nay của các máy tính cở lớn (các máy
chủ -- server) thì bộ lưu trữ (storage) ngày nay có nhiều phẩm chất tiện ích,
trong đó, ba điểm nổi bật là kích cỡ rất lớn của bộ lựu trữ, khả năng tái
lập dữ liệu (data redundancy) do hỏng hóc và vận tốc xử lý dữ liệu cao.
3 đặc tính này có được, ngoài khả năng tính toán cực nhanh của CPU, là còn
phải nhờ vào nhiều yếu tố khác trong đó có 2 thành phần phần cứng quan trọng
là ổ cứng (hard drive) và bộ nhớ đệm (cache).
1. Các ổ cứng ngày nay có được khả năng tái lập dữ
liệu là do cách kết cấu theo kỹ thuật RAID6 để tạo nên các ổ nhớ logic
(logical drive) là một dạng sao chép dữ liệu để phòng hờ hỏng hóc. Tuy
nhiên, các ổ cứng thông thường ngày nay vẫn dùng công nghệ cơ khí cho nên
vận tốc truy cập dữ liệu vẫn còn rất thấp so với vận tốc xử lý của CPU.
2. Để khắc phục phần nào sự "chênh lệch" giữa vận tốc
xử lý dữ liệu và vận tốc xuất nhập (I/O -- input output) dữ liệu của các ổ logic,
nhiều năm trước, người ta thiết kế ra các bộ nhớ đệm (cache)7 là một loại bộ
nhớ có vận tốc lưu trữ dữ liệu rất nhanh nhằm tạm thời lưu giữ các dữ
liệu trong khi các ổ logic đang bận thực thi các thao tác khác. Chính bộ nhớ đệm
này đã giúp tăng được vận tốc trung bình của toàn bộ hệ thống máy tính lên
đáng kể. Vì giá thành của bộ nhớ đệm này rất cao nên dung lượng của nó
được trang bị trên mỗi máy tính khá khiêm nhường (từ vài trăm Mb cho đến vài
Gb là tối đa; trong khi tổng dung lượng của một bộ lưu trữ ngày nay cho mỗi
máy có thể lên đến trên dưới 200,000Gb hay khoảng 200Tb)
Vấn đề nảy sinh là gần đây các ổ cứng loại mới được
chế tạo bằng các "memory chip" tức là các bộ nhớ điện tử (thường thấy trên
các máy chụp hình số) gọi là SSD (solid state drive)8 Vận tốc của loại này
nhanh hơn vận tốc của các loại ổ cứng truyền thống khoảng 10 lần nhưng so
với vận tốc của bộ đệm thì SSD nhỏ hơn khoảng 12 lần. (Về giá thị
trường của ba loại này cũng tương ứng như thế các bộ nhớ đệm giá khoảng gấp
10 lần SSD và, SSD giá gấp 10 lần ổ cứng thường). Đồng thời dung lượng của
nó cũng chỉ khoảng 1/3 dung lượng của ổ cứng thông thường. Xem ra, nếu trang
bị mới cho bộ lựu trữ hoàn toàn bằng SSD thì sẽ rất đắt tiền. Vấn đề là làm
sao để nâng vận tốc lưu trữ của máy lên nhiều lần gần tương đương với máy
tính được trang bị toàn bằng SSD nhưng vẫn không phải trả một giá thành cao như
thế.
Nếu dựa theo tầm nhìn trung đạo thì có thể tìm cách
thiết kế một hệ thống mới sao cho nó chạy với vận tốc nhanh so sánh được với
vận tốc của SSD cũng như giữ nguyên các tính năng về ổ nhớ logic của nó. Dĩ nhiên, một giải pháp
dễ thấy là dùng SSD như là vai trò của một bộ đệm thứ cấp (level two cache) cỡ lớn. Tuy vậy nếu nhìn kỹ hơn chúng ta sẽ thấy là bộ đệm thứ cấp này dù có
tốt thì cũng đã đánh mất đi một tính năng quan trọng mà các ổ cứng đều có
thể được kiến trúc nên: đó là việc các ổ cứng có thể được cấu trúc để
có khả năng tái lập dữ liệu trong hư hỏng (data redundancy). Như vậy việc thấy được các
đặc điểm "trung đạo" của SSD thì người thiết kế có thể tạo ra một bộ đệm thứ
cấp cỡ lớn nhưng lại có khả năng tái lập dữ liệu do hỏng hóc. Đồng thời một
hệ thống máy tính như thế sẽ có vận tốc tăng cao gấp nhiều lần, tăng cao khả
năng bảo dưỡng dữ liệu đồng thời giá cả cho kiểu máy này lại không tăng theo
tỉ lệ nhỏ hơn nhiều lần. Đây cũng là mội dung liên can đến phát minh được nêu trong phần
đầu của bài viết cũng như liên quan đến một world wide technical publication9 về
kiến trúc một
kỹ thuật lưu trữ nhằm tối ưu hóa một hệ thống máy tinh trong đó có nhiều cơ
chế lưu trữ dữ liệu có các vận tốc sai biệt nhau đáng kể.
III Thay Lời Kết:
Các ứng dụng của Phật giáo vào khoa học đã được các
nhà nghiên cứu quan tâm đến trong nhiều thập niên gần đây. Ngoài các chia sẻ tri kiến về vật lý như cách thức tồn tại của vật chất (vật lý vi mô --
lượng tử) và của vũ trụ (vật lý vĩ mô -- vũ trụ học) thì các ứng dụng trực tiếp
được thấy đặc biệt rõ nét trong các ngành y học trị liệu, tâm lý học, và
thần kinh học10. Tuy vậy, ứng dụng vào các ngành khác của khoa học thì
vẫn
còn hiếm hoi. Loạt bài viết này chỉ nhằm một mục tiêu nhỏ cho thấy ứng
dụng của Phật giáo sẽ không chỉ dừng lại ở các ngành khoa học đã nêu mà nó
có thể thâm nhập vào các vị trí khác chẳng hạn nhằm giúp người nghiên cứu
vượt qua các khó khăn. Các áp dụng như vậy cũng là một bước khác để kiểm
chứng sự đúng đắng của giáo thuyết nhà Phật vì chỉ có thuyết lý đúng thì
mới dẫn đến các hậu quả phù hợp, tin cậy và áp dụng được. Dẫu sao, truy cho đến cùng thì cho dù có mang
đến phúc lợi như thế nào, mụch tiêu chính của
Phật giáo vẫn là nhằm mang lại giải thoát hoàn toàn cho chúng sinh và đạt đến trí tuệ
viên mãn. Theo các giảng huấn Phật giáo thì không có nổ lực tu tập thực
nghiệm một cách kiên trì và phù hợp, thì sẽ chẳng có giải thoát chẳng có trí
tuệ tối thắng.
Kính chúc an lạc
Làng Đậu
Chú Thích:
-
Middle Way
Logical Volume .
I D 200904599 .
NhanVo et all. Patent Pending doc.
-
Phương pháp
giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế
Nguyễn Cung Thông .
Huệ Quang. Truy Cập 16/07/2010
-
Bồ Tát Hạnh. Santideva. Thích Trí Siêu dịch.
Chương 5. Trang Quảng Đức. Truy Cập 16/07/2010
- Một số
chi tiết về Duyên Khởi có thể tìm thấy
trong tác phẩm "Tứ Điệu Đế" của đức Đạt-lai Lạt-ma (The Four Noble
Truths. Dalai Lama. Thorsons. 1998. ISBN: 0722535503 )
Phần Mở Đầu. Duyên Khởi (bản dịch Việt:
http://www.thuvienhoasen.org/tudieude-ducdatlailatma-00.htm#phanmodau)
- Theo lời
của đức DLLM trong các bài giảng về "Nhập
Bồ Đề Hành Luận" Truy cập tại
www.dalailama.com. Xem thêm ý kiến về việc này trong bài
Pratītyasamutpāda
phần
Madhyamaka and Pratityasamutpada .
Wikipedia. Cập nhật 23 tháng 07 2010.
- Xem thêm về các cách thức tái lập dữ liệu khi
hỏng hóc từ kỹ thuật RAID: Bài
RAID Wikipedia.
Cập nhật 23 tháng 07 2010.
-
Xem thêm
giải thích về
chức năng và hoạt động của bộ đệm:
Cache. Wikipedia.
Cập nhật 23 tháng 07 2010.
-
Xem thêm:
Solid-state drive Wikipedia.
Cập nhật 23 tháng 07 2010.
- Self Optimizing for Performance -- A New Virtual Storage Device System.
PD Number: 201000845. Nhan Vo et all. HP
World-wide Technical
Publication 2010.
-
Xem thêm
về các nỗ lưc nghiên cứu ứng dụng
của Phật học tại trang WEB Mind and Life:
http://www.mindandlife.org/index.html
|