Những bài cùng tác giả
Abstract
Ce que nous ne comprenons pas, nous le sacralisons grâce à un
mot honoré d'une majuscule, la Vie. Nous en faisons une valeur suprême de
notre existence. Nous l'adorons. Nous adorons la partie obscure de
nous-même. Tel est le sens profond du mot aliénation. La Vie est
devenue la valeur suprême de multiples religions, philosophies, courants de
pensée et courants littéraires. Le développement des sciences de la vie a
rendu justice à de nombreux préjugés en ce domaine du savoir. Il a aussi mis
en évidence notre rattachement irréductible au monde vivant. Pour la
première fois, nous avons une base rationnelle pour humaniser nos rapports
avec le monde vivant. Cette humanisation ne relève pas du monde vivant
lui-même, mais de la culture, un monde spécifiquement humain, celui du
savoir et des valeurs.
Phan Huy Đường,
traducteur, écrivain, philosophe.
*
Ngươi sẽ không
giết !
Tu ne tueras
point !
Câu văn đẹp, thừa tình, tối nghĩa. Đúng hơn, không có nghĩa.
Thực chất, đó là một câu thơ. Như nhiều câu thơ trứ danh, nội dung nó "mở".
Ở đây, nó hoàn toàn mở : nó mơ hồ. Chỉ thêm một ý, nó sẽ có nghĩa liền nhưng
câu thơ biến ngay thành một lời nói tầm thường, một mệnh lệnh bất khả thi :
a/ Ngươi sẽ không giết người.
Đương nhiên phải thế. Trong mọi cộng đồng người từ muôn thuở,
giết người là cấm lệnh đầu tiên và sự trừng phạt cuối cùng.
Tuy vậy, người ở đây có nghĩa giới hạn : người cùng cộng
đồng.
Trong Cựu Ước, dân của Đấng Vĩnh Cửu
giết người của những cộng đồng khác sành sỏi và khốc liệt chẳng thua ai.
b/ Mở rộng cõi từ bi theo kiểu Phật : ngươi sẽ không sát
sinh. Rất đẹp nhưng bất khả thi. Không ai sống được nhờ ăn sỏi đá. Không
"ăn thịt" thú còn được, nhưng vẫn phải ăn cỏ cây, hoa quả, ngũ cốc. Đó cũng
là những hình thái của sự sống.
Đây có vẻ là một quy luật trong thú giới :
để sống, nhiều loài thú vật phải ăn thịt nhau. Gọi đó là luật rừng, rất
đúng : nó tự-nhiên,
nó…. khoa học ! Ta tưởng con giun sống nhờ ăn đất vì bụng nó đầy bùn. Nhưng
trong bùn đó có biết bao tế bào sống của đủ thứ sinh vật. Nhờ chúng mà khi
ta cắt đôi con giun, nó biết… đổ máu. Chưa ai biến được bùn tinh khiết thành
máu.
Tại sao lại phải thế ? Ta không biết. Đó là nỗi đau đặc thù
của một loại sinh vật quái đản, con người : nó không chịu đựng được lâu
những điều nó không hiểu được.
Điều ta không hiểu được, để tạm "hiểu"
nó, ta thần thánh hoá nó bằng Ngôn Từ : Sự Sống, và thờ nó. Ta thờ
mảnh tăm tối của chính mình dưới hình thái sán lạn
của một ngôn từ viết hoa : Sự Thật, Niềm Tin, … dĩ
nhiên phải tuyệt đối. Định nghĩa cơ bản của khái niệm tha hoá
(aliénation) của Marx là thế. Chỉ mấy anh trí thức lôi thôi mới tiếp
tục thắc mắc quằn quại với những cấu hỏi dấm dớ : sự sống là gì ?
Thuở xa xưa, người ta tạc tượng dương vật (lingam) và
âm hộ (yoni) để thờ : đó là nguồn gốc của Sự Sống. Từ ấy Sự
Sống đã là và vẫn là giá trị tối cao của nhiều tôn giáo, nhiều tư tưởng,
nhiều nhà thơ, nhà văn. Trên nó, chỉ còn kẻ tạo ra Sự Sống : Đấng
Tối Cao.
Nhưng nhân giới có quá nhiều Đấng Tối Cao. Những
Ngài ấy lại hay có máu ghen, ham độc quyền,
lắm lúc đến khát máu, chẳng coi sự sống của ai khác dân mình ra gì
cả.
Người đời thường thì ít ai biết đến tất cả các Ngài để
có thể so sánh và lựa chọn. Và cũng ít ai có thời giờ tìm hiểu các Ngài.
Nói chung chẳng mấy ai lựa chọn tôn giáo của mình. Cha mẹ đã gài nó trong
đầu và trong lòng mình ngay từ thời thơ ấu khi mình chưa có khả năng lựa
chọn một cách có ý thức bất cứ giá-trị nào.
Ngược lại, Sự Sống thì ai mà chẳng biết, vì ai cũng sợ
chết, ai cũng ngại giết người. Nhưng cũng chẳng mấy ai mất thời giờ suy nghĩ
về nó. Suy nghĩ về cái gì ? Con người chỉ quan tâm, suy ngẫm
tới Sự Sống khi nó phải giết người hoặc phải đối diện với khả năng
chết của chính mình hay người thân.
Phải chăng vì thế mà trong những thời điểm khủng hoảng tư
tưởng của những nền văn minh, Sự Sống trở thành giá trị tối cao và
giải đáp cuối cùng cho mọi chuyện ở nhiều nhà văn và triết gia ?
Một thí dụ khá nổi tiếng tại Pháp và Bỉ, những năm 60-70 :
Raoul Vaneigem, trong trường phái Internationale situationiste.
Năm 1996, ông công bố quyển Nous qui désirons sans fin
(Chúng ta, những kẻ khao khát bất tận). Đọc nó, có thể toát mồ hôi hột.
Một bản trường ca vinh danh Sự Sống. Văn phong, khỏi nói. Thỉnh
thoảng phát thèm mình viết được một câu văn Pháp "hay" đến thế ! Nhưng đọc
đi đọc lại, suy nghĩ nát óc, cũng chẳng thể nào đoán mò được rằng, đối với
ông, Sự Sống là gì, nên như thế nào, để làm gì, để đi tới đâu, với
ai, cho ai, et tutti quanti – để khi buông tay thở dài từ giã nó, ta
mỉm cười toại nguyện : ta đã không sống thừa. Ngoài chất thơ của ngôn từ
(thua xa Nietzsche), chẳng có gì giúp tôi… "sống", ở đời này, với
con người đời nay.
Xưa kia, nhiều tôn giáo và triết gia đã khẳng định được mình
nhờ niềm tin của thiên hạ : linh hồn của vũ trụ (Đấng Tối Cao) hay
kiến thức duy nhất đúng về vũ trụ (triết gia, các vị thánh). Khoa học vật lý
đã ít nhiều cho họ nghỉ hưu, ít nhất trong lĩnh vực này. Nhưng từ thuở
Giordano Bruno bị thiêu sống (1600) tới nay, đã phải mất hơn… 400 năm ! Ngay
hôm nay, vẫn còn không ít hậu duệ của Chúa tin rằng thế giới này đã được
Chúa tạo ra như nó là nội trong 6 ngày. Ngày thứ 7, Ngài xả hơi,
khiến chính giới Pháp ngày nay tranh luận túi bụi về chuyện cho hay không
cho phép buôn bán ngày Chúa Nhật !
Ở Mỹ có đại học cấm giảng dạy học thuyết của Darwin.
Dường như những nhà văn, nhà tư tưởng và triết gia đã dùng
Sự Sống làm cột trụ giá trị và trí tuệ cho ý tưởng của mình đang hay sắp
phải đương đầu với nguy cơ nghỉ hưu. Từ nửa thế kỷ nay, sinh học đang bào
mòn tất cả những niềm tin hão về Sự Sống.
Ba nhát chém chí mạng :
a/ không ai định nghĩa được sự sống là gì.
Vậy ai muốn tán gì về nó thì tán, có chút văn phong tràn trề
nhục cảm và thần bí càng hay, sẽ có người tin, thậm chí yêu yêu
điên người, có khi mê mệt thí mạng.
Nhưng đừng bao giờ đem kiến thức khoa học ra để lòe đời. Hết
ăn tiền rồi.
b/ không có Sự Sống biệt lập, Sống
không có ngoài vật giới. Nó là một quá trình vận động của một cấu trúc vật
chất. "Thực ra sự sống là một quá trình vận động, một hình thái tổ chức
của vật chất."
Quan điểm này của F. Jacob, cơ bản mà nói, có khác gì "định
nghĩa" của Engels về "sự sống" ? Còn chưa đầy đủ và chính xác bằng :
“Sự sống là hình thái XE "hình-thái.."
tồn tại XE "tồn-tại.."
của những cơ thể XE "cơ-thể.."
cấu tạo bằng anbimun, và hình thái tồn tại đó cơ bản XE "cơ-bản.."
thể hiện XE "thể-hiện.."
qua sự tái thiết XE "tái-thiết.."
liên tục XE "liên-tục.."
, do chính chúng, cơ cấu XE "cơ-cấu.."
hóa học của chúng.”
“Như thế, sự sống XE "sự-sống.."
, hình thái XE "hình-thái.."
tồn tại XE "tồn-tại.."
của những cơ thể XE "cơ-thể.."
cấu tạo bằng anbimun, biểu hiện XE "biểu-hiện.."
trước nhất như sau: sinh vật XE "sinh-vật.."
luôn luôn vừa là chính mình XE "chính-mình.."
vừa là khác mình.”
Cứ như thơ của
Verlaine ! (sống cùng thời với Engels) :
Mon Rêve familier
Je fais souvent ce rêve étrange et pénétrant
D'une femme inconnue, et que j'aime, et qui m'aime,
Et qui n'est, chaque fois, ni tout à fait la même
Ni tout à fait une autre, et m'aime et me comprend.
Giấc Mơ thân thuộc của tôi
Tôi hay mơ một giấc mơ lạ lùng thấm thía
Mơ tới một người đàn bà xa lạ, mà tôi yêu, mà yêu tôi,
Mà, mỗi lần, không hẳn là mình
Cũng không hẳn là người
khác, và yêu tôi và hiểu tôi.
Thỉnh thoảng nhà thơ bất hủ nhạy bén không thua triết gia lỗi
lạc !
Vui chơi chữ nghĩa tí thôi : cấu một hai câu của tác
giả này để "bình luận" về tác giả kia, vì đọc toàn bộ bài phát biểu của F.
Jacob và quyển La logique du vivant, une histoire de l'hérédité,
tạm dịch : Lôgích của quá trình sống, một cách hiểu khái
niệm di truyền trong lịch sử kiến thức của người đời, thì thấy quan điểm
của F. Jacob đồng nhất với quan điểm của Engels, nhưng phong phú, cụ thể
hơn, với đầy kiến thức mà loài người đã đạt được trong thế kỷ 20, tuy không
có kiến thức nào vượt qua tầm nhìn tổng quát của Darwin (chính Jacob công
nhận) và Engels cả.
Và mời bạn đọc giải lao một khắc với chuyện dịch thuật, không
còn là văn chương văn gừng nữa, mà là dịch ý tưởng của người khác.
La logique du vivant : không dịch thành Lôgích của
sự sống, nghe rất bùi tai nhưng sai. Vì chính tác giả khẳng định : sự
sống không là gì cả, không định nghĩa được, nó
(là) một quá trình vận động, mô tả được. Trong tiếng Pháp, bàn
tới khái niệm sống, có nhiều từ. Vivre = sống, động từ.
La vie = sự sống, danh từ. Vivant =
sống, tính từ hay động tính từ. Cách nói và
viết : le vivant, dùng động tính từ như một danh từ, chỉ xuất hiện
một cách phổ biến trong thế kỷ 20 thôi. Nó cưỡng lại khuynh hướng cố hữu
danh từ hoá động từ của tiếng Pháp, biến quan-hệ-sống của con người
với thế-giới thành quan-hệ "chết" của con người với… khái niệm !
Nó ghi nhận một "bế tắc" của tư duy bằng ngôn ngữ Pháp thông thường.
Nó cũng chỉ cưỡng lại được một cách tương đối thôi : trong le
vivant, về mặt hình thức, vivant có chức năng của một… danh từ.
Đó là một danh từ tự phủ định chính mình trong tư cách ấy. Ôi biện
chứng ! Ôi nỗi đau ngôn từ !
Không dịch une histoire de l'hérédité thành
một lịch sử của sự di truyền, vì "sự" di truyền
cũng (là) một quá trình vận động, còn là một quá trình vận động quái đản :
vừa khắt khe, do định trình gen (programme génétique)
quyết định, vừa ngẫu nhiên ! Bản thân định trình ấy lại tự tạo
ra những công cụ để thực hiện chính nó và tự… thay đổi ! Hơn thế, une
ở đây có nghĩa une parmi d'autres, một trong những (lịch sử
hay, đúng hơn, thuyết trình về…). Lịch sử bao gồm toàn bộ những sự
kiện đã là. Thế thì chỉ có một lịch sử thôi, vĩnh viễn là nó
như nó là. Ngược lại, cách hiểu những sự kiến ấy thì… vô vàn. Do đó mới có ý
niệm : xuyên tạc lịch sử (falsifier l'histoire).
Vì thế mà trong lịch sử "kiến thức" của loài người, đã từng có nhiều cách
hiểu khác nhau về khái niệm di truyền. Phải từ Mendel trở đi, mới bắt đầu có
một cách hiểu có cơ sở khoa học, kiểm chứng được. Bản thân quyển sách của F.
Jacob thuật lại và phân tích quá trình vận động ấy của tư duy. Đó là một
trong những thuyết trình về… Thuyết trình ấy, có cơ sở khoa học, kiểm chứng
được.
Với tư cách "một quá trình vận động, một hình thái tổ chức
của vật chất", sinh giới chẳng khác gì vật giới. "Bất cứ" vật thể nào,
dù nhỏ như hạt nguyên tử, cũng là một hình thái tổ chức của vật chất,
cũng đang vận động. Người ta phân biệt vật giới với sinh giới vì người ta đã
sớm linh cảm rằng sự vận động sống có những hình thái đặc thù không có trong
sự vận động của vật thể phi sinh tính. Trong thú giới, có hai hình thái cơ
bản đặc thù sau :
1/ Tự nó, thú vật chọn lựa những quan hệ của nó
với thế giới để tái tạo tổ chức và sự vận động nội tại của chính nó,
để tiếp tục… sống ! Nói thế nghĩa là : thú vật là một thực thể có ý hướng.
Ý hướng (intentionalité) không là tính đặc thù của con người,
của ý thức (conscience), như Husserl, Sartre và Trần Đức Thảo tưởng.
Nó là một đặc tính chung của thú giới.
2/ Thú vật giao tiếp với nhau để sinh đẻ, tái tạo ngoài nó những
thú vật như nó, đồng giống.
Hai hình thái vận động ấy đều mang tính mục đích.
Chúng không hề có nội dung giá-trị (đạo đức, lý trí, v.v.), một loại quan-hệ
chỉ có trong nhân-giới, khiến con người có thể giết nhau chỉ vì một lời nói,
một niềm tin. Điều quan trọng ở đây : mục đích ấy là tái tạo cái đã
có và, vì sự sống chỉ có thể đến từ sự sống, tồn tại nhờ sự sống : ăn sinh
vật khác để sống. Như thế hai nét đặc thù của vận động có ý hướng này là :
bảo thủ
và sát sinh. Rất tự-nhiên, dễ chấp nhận vì chính ta cũng là thú vật.
Và, xin thú thật, ngày ngày ta sống như vậy.
Ta nên do dự khi chắp bút thăng hoa Sự Sống thành giá trị tối cao của
con người. Đừng bao giờ quên tư tưởng của Hitler và những người theo nó, với
những "lebensraum", "espace vital" khủng khiếp của nó.
Tính ý hướng đòi hỏi một hình thái ý thức về chính mình : thú
vật phải biết phân biệt nó với thế giới chung quanh và, hơn thế, phải có khả
năng cảm nhận sự hiện diện của nhiều thực thể khác nhau trong thế giới ấy,
thì mới biết chọn lựa những quan hệ với thế giới cho phép nó tái tạo chính
mình. Ý thức đó hình thành xuyên qua một loại quan hệ đặc thù của sinh
giới : quan hệ nhục-cảm xuyên qua giác quan. Hình thái tổng hợp của những
quan hệ này cộng với ký ức nghiệm sinh và văn hoá, gọi là trực giác cũng
được.
Ngoài tính ý hướng ấy, trong văn học Tây Âu còn có một thứ "ý
hướng" khác đã tràn ngập thơ văn, lý luận văn học và một đống môn khoa học
tâm lý, xã hội, thậm chí lịch sử, dựa vào tư tưởng của Freud : Tiềm thức.
Rất có thể, như Freud
đã từng mong ước, môn sinh học về óc não thời nay sẽ mang lại cho tiềm
thức cơ sở sinh học của nó :
"Tiềm-thức
có một cơ sở vật-chất XE "vật-chất.."
và sinh-học XE "sinh-học.."
: toàn bộ cấu-trúc XE "cấu-trúc.."
-nơron
XE "cấu-trúc-nơron.."
ghi-nhớ
XE "ghi-nhớ.."
nghiệm-sinh XE "nghiệm-sinh.."
của một con người. Những cấu-trúc ấy có thể không gắn liền với toàn
bộ những cấu-trúc-nơron cần-thiết XE "cần-thiết.."
để cho phép ứng-xử XE "ứng-xử.."
có ý-thức XE "ý-thức.."
mà chỉ gắn liền với một số cấu-trúc-nơron nào đó thôi. Trong trường
hợp ấy, ký-ức XE "ký-ức.."
kia vẫn tồn-tại XE "tồn-tại.."
, vẫn sống ở đâu đó trong óc ta, vẫn chi phối ứng-xử và hành-động XE "hành-động.."
của ta mà ta không biết. Cái ký-ức thiếu quan-hệ XE "quan-hệ.."
tổng-hợp XE "tổng-hợp.."
mà hiện nay, vì ta còn dốt-nát XE "dốt-nát.."
, ta gọi là tiềm-thức, cái ký-ức bị dồn-nén
XE "dồn-nén.."
kia là và
không là ký-ức, nó là một ký-ức không nhớ mình nhưng không mất mình, một
ký-ức bị lãng quên, một tiền-ký-ức.
Trong một số trường hợp, hoặc xuyên qua một quan-hệ đặc biệt với
thế-giới
XE "thế-giới.."
, hoặc
xuyên qua một suy-luận XE "suy-luận.."
có ý-thức và, thường thường, xuyên qua sự kết-hợp XE "kết-hợp.."
của cả hai, con người có thể lặp lại một cách hoàn chỉnh những mắc nối
cần-thiết giữa các cấu-trúc-nơron để tìm thấy lại lịch-sử
XE "lịch-sử.."
của chính-mình XE "chính-mình.."
, gánh vác nó, vượt nó, khiến nó nên lời.
Là sản-phẩm XE "sản-phẩm.."
của lịch-sử, nó tự-tái-tạo XE "tự-tái-tạo.."
một cách có ý-thức – ở nó, do nó, cho mọi người – bằng cách đưa lịch-sử đó
ra ánh sáng của tư-duy XE "tư-duy.."
và ngôn-ngữ XE "ngôn-ngữ.."
. Qua hành-động ấy, nó nhân-hóa ký-ức âm u kia, nó
tự-nhân-hóa. Nó là thực-thể XE "thực-thể.."
khiến cho thế-giới này ngày càng đậm nhân-tính XE "nhân-tính.."
, do con người làm ra cho con người, thực-thể khiến – một cách có ý-thức –
nhân-tính nhập thế-gian XE "thế-gian.."
."
Tư tưởng của Darwin, với hai khái niệm tiến hoá và
sự chọn lựa tự nhiên, mở đường cho sự hiểu biết sinh giới trong kích
thước lịch sử của nó. Hiện nay, nhiều ngành khoa học khác nhau ngày ngày
khiến cho sự hiểu biết ấy chắc chắn, vững vàng, phong phú hơn. Và… đắc
dụng ! Sự hiểu biết ấy đã khẳng định : mục đích của định trình gen của một
loài vật là tái tạo chính nó "y như" nó. Nếu lịch sử vận động của sinh giới
đã tạo ra nhiều hình thái sống khác nhau, nhiều loài vật khác nhau, ngược
với mục đích của các định trình gen sẵn có, đó là vì :
1/ ngẫu nhiên.
Nhưng những sự kiện ngẫu nhiên, đột biến, cũng chỉ có tác
dụng trong khung vận động của sự sống thôi. Phần sáng tạo trong quá trình
tiến hoá sinh hoá học không xuất phát từ số không. Thực chất đó là làm cái
mới với cái cũ. Chính là điều tôi gọi là "quá trình xào nấu phân tử".
2/ sự uyển chuyển hầu như vô tận của định trình gen.
Bản thân sự uyển chuyển ấy dựa vào rất ít nhân tố : Đa số
gen và protein là những loại hình ráp do lắp ghép một vài nguyên tố, một vài
motif liên quan tới một địa bàn nhận diện. Số luợng những motif ấy giới hạn,
một hay hai nghìn. Sự tổng hợp những motif ấy khiến cho protein có khả năng
khác nhau vô tận. Sự tổng hợp của một vài motif đặc biệt tạo cho một protein
những thuộc tính đặc thù của nó.
Nhưng ngược lại, mỗi nguyên tố ấy và một số tổng hợp cơ bản
của chúng lại cực kỳ ổn định xuyên qua lịch sử phát triển của sinh giới :
Ở con ruồi, đã hưởng một lịch sử gen lâu dài, người ta đã minh bạch vạch ra
những gen đảm bảo, ngay trong quả trứng, phương thức cấu tạo những trục phôi
thai tương lai của con vật và những gen quyết định định mệnh và hình thù của
từng khúc. Mọi người đều kinh ngạc khi tìm thấy những gen ấy ở tất cả những
con thú được quan sát : liên tiếp, con ếch, con giun,
con chuột và con người. Chỉ cách đây mười lăm năm thôi, ai có thể tưởng
tượng rằng những gen điều khiển quá trình cấu tạo cấu trúc của một con người
cũng là những gen tiến hành điều ấy ở một con ruồi hay một con giun.
Đành phải chấp nhận rằng những thú vật hiện có trên quả đất đều xuất phát từ
một sinh thể đã sống cách đây sáu trăm triệu năm và đã có bộ gen này.
Sự hiểu biết ấy cũng đã khẳng định điều quan trọng này : khi
chào đời, con người chưa có khả năng tư duy bằng ngôn ngữ. Nếu nó không được
người khác dạy, quá một tuổi nào đó, nó mất luôn khả năng học nói : quá
muộn, những cơ cấu tế bào não cho phép hiện thực khả năng ấy đã hụt thời cơ
để hình thành trong đầu nó ở tuổi thơ, qua quá trình phát triển của óc não.
Học thuyết của Darwin và những kiến thức hiện
đại về sinh giới cho ta ý thức rõ : trong tư cách một thú vật, ta "đồng
chất" với mọi thú vật. Quan trọng hơn : ta không thể tiếp tục sống ngoài một
sinh giới có đầy hình thái sống khác ta. Quan trọng hơn nữa : ta không thể
nên người, làm người một mình được. Điều đó khuyến khích ta khiêm tốn, học
tiếp cận sinh giới và chính ta một cách nhân bản : thận trọng, quý mến, che
chở, bảo vệ mọi hình thái của sự sống không
uy hiếp sự sống của chính ta hay của tha nhân. Qua đó, giá gì thú hoá
nhân giới, ta nhân hoá chính mình và ta nhân hoá quan hệ của ta với sinh
giới. Điều ấy không thuộc lĩnh vực sinh học nữa. Nó thuộc lĩnh vực văn hoá,
trong đó khoa học chỉ là một bộ phận, tuy rất cơ bản.
Có nhà văn đã từng thành danh nhờ ý tưởng bất hủ này : so
sánh thú vật với con người là sỉ nhục thú vật.
Đằng sau câu ấy, có ý này : bình thường thú vật không độc ác như con người.
Nó giết để ăn và ngừng giết ngay khi đã no trong khi đó con người có thể
giết, kể cả con người, để… vui chơi. Nó không ăn thịt đồng loại trong khi đó
con người thì cứ thoải mái, có khi với nội dung sau, trong truyện ngắn
Qua sông của Cung Tích Biền :
Một hôm bà mẹ nói – đúng hơn
là một bộ xương nói:
- Nếu tôi chết, rất mong mình
và các con hãy ăn thịt tôi để sống qua ngày.
Liêu cắn môi, rít qua kẽ răng:
- Đừng nói điều vô đạo.
Bà mẹ nghiêm chỉnh, nói lời
nguyện cầu; như một sấm truyền đầy cảm ứng thần linh, như máu trong mẹ nói:
- Sao lại vô đạo? Tôi là vũ
trụ tạo ra chúng. Lúc nằm trong bụng tôi, chúng chẳng từng hít máu tôi, thở
trong tôi, ăn hút tủy xương tôi đó sao? Khi là bào thai lại hoang vu ăn thịt
người, lúc thành người lại mang đạo đức ra trá hình đối với những dâng hiến
cuối cùng.
Để ?
để tiếp tục làm cái việc muôn
đời cho muôn người.
Con người, đương nhiên là một vật thể, một hình thái tổ chức
của vật chất. Nó cũng là một con thú, đã sống phải ăn, được ăn thì sống, hết
ăn thì chết. Và cuối cùng, đã sống, phải chết.
Phải chăng vì vậy mà trong lịch sử phát triển của nhân giới, con người đã
liên miên gán nhân tính đặc thù của mình cho vật giới và sinh giới, gán cho
chúng những giá trị tinh thần chỉ có trong nhân giới thôi ? Ngày nay, nhiều
người muốn dựa vào sinh học để hiểu và giải thích con người. Họ có lý, trong
giới hạn này : hiểu biết và giải thích con người trong tư cách thú vật của
nó. Ngoài ra, những kiến thức về sinh giới và những khái niệm biểu hiện
chúng không là những thuộc tính của sự sống. Nó là sự hiểu biết hiện nay
của con người về sự sống, thể hiện bằng ngôn ngữ. Trong sự hiểu biết
ấy, chưa có bao nhiêu điều giúp ta hiểu biết chính ta trong tư cách người. Ta
biết chắc : không có tư duy độc lập với một sinh thể, không có một sinh thể
độc lập với vật thể. Nhưng nhịp cầu nối liền vật-giới với sinh-giới,
sinh-giới với nhân-giới, hôm nay vẫn mù mịt. Ta vẫn phải tìm hiểu và suy
luận từng thế giới một trong tính đặc thù của nó, với những khái niệm thích
ứng, ta chưa thể suy diễn thế giới này từ thế giới kia ra được. Vì thế, ta
nên tránh lạm dụng tính chất hàm hồ của ngôn từ hiện nay của ta để xào xáo
những vấn đề rất khác nhau.
Trong cả ba thế giới, tất cả đều động, điều duy nhất hiểu
được không là thực-thể gì gì đó, như Kant đã khuyên ta, mà là những quan-hệ
tạo ra những thực thể tạm thời ổn định đối với nhãn quan rất người, rất giới
hạn của ta.
Trong vật-giới, chỉ có quan-hệ về lượng thôi, có thể "đo đếm"
được
và biểu hiện được bằng phương trình toán. Trong những phương trình ấy, có độ
dài của làn sóng, không có màu sắc, âm thanh. Không có nhục cảm.
Sinh-giới vận động trên cơ sở đó,
nhưng có thêm quan hệ về chất,
quan hệ nhục-cảm. Trong sinh giới có màu sắc và âm thanh, có nóng có
lạnh, có đau có sướng. Et tutti quanti.
Nhân-giới vận động trên cơ sở hai thế giới kia, nhưng có thêm
tính đặc thù này : đó là hình thái vận động của một thực thể có ý thức,
có khả năng nhớ và hiểu biết vô tận, vượt sự sống của riêng nó, có
những giá trị thuần nhân tính : đúng–sai, đẹp–xấu, tốt–tồi, tử tế –
lưu manh, đáng yêu – đáng ghét, et tutti quanti, tất cả thể hiện bằng
ngôn ngữ. Ngôn ngữ ấy có hình thái tồn tại độc lập với thân xác của
con người và khả năng tái sinh trong đầu người khác. Nhờ ngôn ngữ, nhất là
dưới hình thái viết, nhân loại đã tích lũy được nghiệm sinh, kiến thức,
những giá trị đạo đức và nghệ thuật, truyền lại cho nhau từ thế hệ này qua
thế hệ khác. Con người là một con vật văn hoá ở đó. Trong tư cách ấy, nó nên
người nhờ tha nhân, với ngôn ngữ và ý tưởng của người khác, do ngôn ngữ của
người đời tải vào đầu nó. Nhưng nó cũng là một sinh vật cá thể, chẳng giống
ai. Quan-hệ của nó, hôm nay, với thế-giới luôn luôn thay đổi này,
cũng là quan-hệ vừa quá cũ kĩ vừa cực mới của người đời xưa với thế giới của
người đời nay – xuyên qua chính nó ! Vì thế nó có khả năng đặt lại câu hỏi
về chính mình trong mọi lĩnh vực của tư duy, sáng tạo những
kiến thức và giá trị mới cho bản thân nó và người đời, khiến xã hội phải
thay đổi. Từ từ ôn hoà hay bạo liệt đột biến thì tuỳ… những ai ?
Điều ấy có nghĩa :
a/ trí tuệ và nhân cách của ta cắm sâu vào lịch sử của loài
người, trước hết những cộng đồng văn hoá khai sinh ra ta, và có khả năng ù
lì hay phát triển vô tận cho tới khi
loài người tiêu vong.
b/ xã hội rất có thể ít nhiều quay về thú giới chỉ nội vài
thế hệ thôi nếu thế hệ trước chẳng còn bao nhiêu kiến thức, trí tuệ và giá
trị đáng kể để truyền lại cho thế hệ sau.
c/ xã hội có thể phát triển nhanh, độc đáo khi có tự do tư
duy và ngôn luận.
Trên cơ sở ấy, có lúc nó điên điên, sáng tác nghệ thuật để
lưu lại ở đời, có khi hàng thế kỷ, một nỗi đam mê quái đản : yêu. Cứ
đọc Tristan và Yzeut, Roméo và Juliette thì thấy. Con của thú
"biết" nhảy, con của người biết yêu.
Ta vốn là thú. Ta phải học làm người mới nên người được. Bài
học đó, hiện nay, không thể tìm được trong sinh giới và những kiến thức của
ta về sinh giới, dù là kiến thức của bác học đích thực.
Tìm ở đâu là một câu chuyện khác.
2009-09-25, sửa lần cuối :
vứt ít từ thừa, sửa vài từ, thêm vài dòng
Phan Huy Đường
Anti-Dühring, Engels, Éditions Sociales,
1973, tr.113. PHĐ nhấn mạnh.
Anti-Dühring, Engels, Éditions Sociales,
1973, tr.114.
Engels và Marx quý trọng học thuyết của Darwin ngay từ lúc nó mới xuất
hiện. Engels còn so sánh Tư bản luận với
Nguồn gốc các loài.
Và Marx đã từng viết : Đây là quyển sách chứa đựng nền tảng,
về mặt lịch sử của tự nhiện, cho những ý tưởng của chúng ta.
(thư cho Engels, 19/12/1860) :
http://www.cmaq.net/fr/node/32454.
Về "định nghĩa" trên, Engels nhận định : đó chỉ là quan
điểm trừu tượng nhất về sự sống. Muốn thực sự hiểu sự sống là gì, trước
hết phải lần lượt nghiên cứu tất cả những hình thái vận động cụ thể của
nó. "Biện chứng duy vật" kiểu Marx và Engels nghĩa là thế. Vì thế ông
tránh không tán liều về biện chứng của sự sống :
Ngày nay, người ta đang tiến hành những nghiên cứu ấy như
người ta đã từng tìm hiểu hầu hết những hình thái vận động cụ thể của
vật chất trong 3-4 thế kỷ vừa qua.
L'être vivant représente
bien l'exécution d'un dessein, mais qu'aucune
intelligence n'a conçu. Il tend vers un but, mais qu'aucune
volonté n'a choisi. Ce but, c'est de préparer un programme
identique pour la génération suivante. C'est de
se reproduire.
Sinh thể đúng là
thể hiện một ý đồ, nhưng không do trí tuệ nào thai nghén. Nó nhắm một
mục đích, nhưng không do ý chí nào đã lựa chọn. Mục đích ấy là chuẩn bị
một dịnh trình y hệt cho thế hệ sau. Là tự tái tạo.
La conscience est toujours conscience de quelque chose.
Sartre, ý của Husserl. Ý thức luôn luôn là ý thức về
một cái gì. Do đó, nó không là cái mà nó ý thức. Khổ
thay, con người lại có ý thức về… chính mình ! Vậy nó
không thể là… mình ! Nội dung cơ bản của L'Être et le Néant,
Thực-thể và Hư-Vô ở đó.
|