Nấm Vân chi (Trametes versicolor, Coriolus
versicolor, Agaricus versicolor, Boletus
versicolor, Polyporus versicolor, Polystictus
versicolor, Poria versicolor) là một loại nấm
dược liệu đã được y học cổ truyền phương Đông sử
dụng từ lâu. Sở dĩ như vậy vì nấm này có rất nhiều
tác dụng dược lý, nổi bật nhất là tác dụng phòng
chống ung thư. Trong vài thập kỷ gần đây đã có hàng
ngàn công trình nghiên cứu về tác dụng dược lý của
nấm Vân chi. Gần đây nhất nấm
này còn được phát hiện
là có khả năng kiềm chế virus HIV. Hiện nay các dược
phẩm chế xuất từ nấm Vân chi được phát triển đa
dạng, được sử dụng rộng rãi trong y học hiên đại,
kết hợp với nhiều liệu pháp vật lý, hoá học và sinh
học để điều trị nhiều loại bệnh hiểm nghèo, đặc biệt
là chống và kìm hãm ung thư. Chủng giống nấm Vân Chi
hiện được bảo quản và đang được tiến hành nghiên cứu
tại Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật (VTCC) thuộc
Trung tâm Công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà
Nội).
Tác dụng tăng
cường miễn dịch
Tác dụng dược lý của
nấm Vân chi chủ yếu dựa trên nền tảng là khả năng
làm tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể, nhờ
hoạt tính của các hợp chất chứa trong nấm. Trên thế
giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh
hưởng của nấm Vân chi lên khả năng miễn dịch của cơ
thể người và tất cả các công trình đều có kết quả
khẳng định tác dụng tăng cường miễn dịch của nấm
này. Theo các kết quả nghiên cứu, trong nấm có chứa
các hợp chất polysaccharid liên kết với protein với
rất nhiều ưu điểm dược lý và chính các polysaccharid
này quyết định tác dụng tăng cường miễn dịch của
nấm. Các hợp chất này gồm hai loại chính: PSP
(polysaccharide peptide) và PSK (polysaccharide
krestin).
PSK và PSP có cấu trúc hoá học cũng như các tính
chất khá tương đồng. Chúng đều là những hỗn hợp của
các chuỗi đường liên kết với một số protein
(Q.Y.Yang et al., 1992). Cả hai đều có trọng lượng
phân tử khoảng 100 kDa và các chuỗi polypeptid
trong phân tử của chúng đều chứa một số lượng lớn
các acid amin aspartic và glutamic (Ng.T.B., 1998).
Các polysaccharid này có khả năng chống chịu với
tác dụng của các enzym thuỷ phân protein (T.Hotta et
al., 1981). Về tính chất vật lý, PSK và PSP thông
thường tồn tại ở dạng bột màu nâu, không mùi vị, tan
và bền trong nước nóng nhưng không tan trong các
dung môi như methanol, benzen, pyridine, clorofom và
hexan (S.Ueno et al., 1980; T.Hotta et al., 1981).
Tác dụng chung của PSP và PSK là hoạt hóa, tăng
cường sự sản sinh và bảo vệ các tế bào của hệ miễn
dịch (P.M.Kidd, 2000). Các thí nghiệm trên cơ thể
động vật chỉ ra rằng PSP có hoạt tính rất đa dạng.
Hợp chất này cảm ứng, kích thích làm tăng sự sản
xuất các interferon, interleukin và các TNF (yếu tố
hoại tử u), qua đó thúc đẩy sự sản xuất các tế bào
Lymphocyte, đồng thời hoạt hóa các đại thực bào (W.K.Liu
et al., 1993; G.D.Yu et al., 1996; X.W.Mao et al.,
1996). Các đại thực bào và tế bào Lymphocyte là hai loai
tế bào miễn dịch chính có tác dụng chống lại các tác
nhân gây độc xâm nhập từ ngoài vào và tiêu diệt các
tế bào lạ - các tế bào ung thư. Bên cạnh đó, PSP còn
có tác dụng điều hòa hoạt động của các cytokine, đây
là thành phần mấu chốt trong quá trình “tự chết”,
rất quan trọng để ngăn ngừa sự hình thành và phát
triển các khối u. PSK và PSP còn có tác dụng làm
tăng độc tính và số lượng của các tế bào giết tự
nhiên đối với các tế bào lạ. Nghiên cứu thực hiện
bởi Munroe và cộng sự cho thấy số lượng các tế bào
giết tự nhiên trong cơ thể 36 bệnh nhân suy giảm
miễn dịch đã tăng 35% khi họ được điều trị bằng
polysaccharid chiết từ nấm Vân chi (Munroe, 2004).
Một tác dụng khác của các polysaccharid này là khả
năng tăng cường hoạt tính và sự sản xuất (thông qua
cảm ứng sao mã) các enzyme superoxide dismutase
(SOD) (W.S.Wei et al., 1996;Y.Kobayashi et al.,
1994) và glutathione peroxidase (Z.J.Pang et al.,
2000). Các enzym này đóng vai trò rất quan trọng
trong việc chống lại tác động gây hại của các tác
nhân oxy hoá tự do, một trong những nguyên nhân chủ
yếu gây ung thư.
Trên cơ sở các tác dụng trên, PSK và PSP
giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể nói chung,
giúp chống lại ảnh hưởng kiềm chế miễn dịch của các
liệu pháp hóa trị và xạ trị (Chung Kuo Yao, Li Hsueh
Pao, 1996),
giúp kiềm chế tác hại và kìm hãm sự phát triển các
khối u, đồng thời cũng giúp tăng cường chức năng của
gan, tăng cảm giác ngon miệng, điều hoà hệ thần kinh
và làm giảm đau các vết thương.
Đặc biệt đáng lưu ý là tác dụng chống ung thư của
PSK và PSP. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng PSK và PSP
có tác dụng với nhiều loại tế bào ung thư như các tế
bào ung thư biểu mô (carcinoma), các sarcoma và các
tế bào ung thư máu (leukemia) (Q.Y.Yang et al.,
1992). Nghiên cứu của Hsieh và cộng sự (T.C.Hsieh et
al., 2002) chỉ ra rằng PSP tác động lên pha G trong
chu kỳ phân bào của các tế bào ung thư máu, qua đó
cảm ứng quá trình “tự chết” (apoptosis). Một nghiên
cứu khác (Y.Dong et al., 1997) lại cho thấy các
polysaccharid này có khả năng ức chế sự tổng hợp
ADN ở các tế bào ung thư vú và kìm hãm sự nhân lên
hàng loạt của các tế bào ung thư gan. PSK và PSP
không có tác dụng trực tiếp gây hại cho các tế bào
ung thư mà gián tiếp thông qua các tác dụng tăng
cường miễn dịch như nêu ở trên, cụ thể là hoạt hóa
các tế bào miễn dịch và tăng cường hoạt động của các
enzym chống các tác nhân oxy hóa.
Gần đây PSP còn được chứng minh là có tác dụng chống
lại sự xâm nhiễm của virus HIV type 1
(R.A.Collins và
Ng.T.B, 1997). Polysaccharid này có tác
dụng ngăn cản liên kết giữa protein HIV-1 gp của
virus và thụ thể CD4 từ đó ngăn chặn sự xâm nhập của
virus vào tế bào miễn dịch, đồng thời còn có tác
dụng ức chế các enzym HIV-1 reverse transcriptase và
glycohydrolase cần thiết cho sự tạo thành virus. Vì
vậy PSP được đề nghị như một liệu pháp hữu hiệu
chống lại HIV type 1.
Các polysaccharid của nấm Vân chi có độ bền cao với
nhiệt độ và ánh sáng, tồn tại lâu trong cơ thể, và
đặc biệt chưa được phát hiện có tác dụng phụ gì, cả
đối với phụ nữ mang thai, vì vậy rất thích hợp cho
nhiều liệu pháp điều trị (P.M.Kidd, 2000). Chúng có
thể được tách chiết từ quả thể hoặc sợi nấm Vân chi
bằng phương pháp dùng nước nóng.
Bên cạnh các polysaccharid là các thành phần chính
quyết định tác dụng dược lý của nấm Vân chi, trong
nấm còn chứa nhiều loại enzym như SOD (với tác dụng
nêu ở trên), cytochrome P-450, một thành phần quan
trọng trong việc khử độc các chất được nhập vào tế
bào, và các chất trao đổi bậc hai có tác dụng ức chế
thrombin, chống quá trình đông tụ máu ( A. Karmali,
www.mycologyresearch.com)
Khả năng sử dụng nấm Vân chi như một dược phẩm
quý
Nấm Vân chi có tác dụng tăng cường sức đề kháng của
cơ thể nên có thể được sử dụng để điều trị rất nhiều
loại bệnh. Ở đây xin được trình bày những minh chứng
cho hai tác dụng nổi bật và đáng quan tâm nhất của
nấm Vân chi: điều trị ung thư và chống virus HIV.
Tác dụng điều trị ung thư:
Ở Nhật Bản, từ năm 1970, PSK từ nấm Vân chi đã được
chứng minh có khả năng kéo dài thời gian sống thêm 5
năm hoặc hơn cho các bệnh nhân ung thư thuộc nhiều
thể loại: ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, ung thư
vòm họng, ung thư thực quản, ung thư phổi và ung thư
vú (P.M.Kidd, 2000). Năm 1994, nhà xuất bản Lancet
công bố kết quả của một nghiên cứu về một liệu pháp
mới kết hợp PSK với các phương pháp hoá học để điều
trị ung thư dạ dày. Theo kết quả này, so với điều
trị bằng hoá chất đơn thuần, điều trị bằng hóa chất
kết hợp với PSK giúp tăng thời gian sống sót của các
bệnh nhân thêm 5 năm và không gây ra tác dụng phụ
nào.
Còn PSP đã được sử dụng để điều trị ung thư giai
đoạn 2 và 3 ở Trung Quốc từ lâu. Polysaccharid này
cũng có tác dụng kéo dài thêm thời gian sống ít nhất
là 5 năm cho các bệnh nhân ung thư thực quản. PSP
cũng có tác dụng cải thiện sức khỏe, giúp giảm đau
và tăng cường khả năng miễn dịch ở 70 –97 % các bệnh
nhân ung thư dạ dày, thực quản, ung thư phổi, ung
thư buồng trứng và cổ tử cung (P.M.Kidd, 2000).
Nghiên cứu thực hiện bởi Tsang và cộng sự trên 34
bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn tiến triển cho kết
quả là sau 28 ngày điều trị bằng PSP, số lượng tế
bào máu, hàm lượng các kháng thể của những người
được điều trị đều tăng cao hơn so với những người
không được điều trị (K.W.Tsang et al., 2003). Đặc
biệt ở những người được điều trị, sự tiến triển của
bệnh đã được làm chậm lại một cách đáng kể.
Kết quả nghiên cứu do nhóm của tiến sỹ Kenyon ở
trung tâm nghiên cứu điều trị lâm sàng Dove
(Winchester, London) trên 30 bệnh nhân ung thư thuộc
nhiều dạng khác nhau chỉ ra rằng điều trị bằng bột
nghiền từ sinh khối nấm Vân chi làm giảm mạnh mẽ
hoạt tính của enzym telomerase (một enzym thiết yếu
giúp các tế bào ung thư chống lại quá trình “tự
chết”), đồng thời tăng cường đáng kể các phản ứng
miễn dịch chống lại các khối u. Vì vậy, nghiên cứu
cho thấy điều trị bằng nấm Vân chi đặc biệt vẫn có
tác dụng với các trường hợp ung thư giai đoạn 3 và
4, khi mà các liệu pháp hoá học và phóng xạ đã không
còn tác dụng.
Còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác về tác
dụng chống ung thư của nấm Vân chi mà có lẽ nếu chỉ
trong khuôn khổ bài viết này sẽ không thể đề cập hết
được. Bản chất, cơ chế tác động của các hoạt chất
trong nấm Vân chi đối với ung thư hiện vẫn đang được
rất nhiều nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực khác
nhau (hóa sinh, miễn dịch, y học, dược học…) quan
tâm nghiên cứu và ngày càng nhiều các phát hiện mới
được công bố. Tiềm năng phòng chống và điều trị ung
thư của nấm Vân chi là rất lớn và rất đáng lưu ý.
Tác dụng chống virus HIV
Năm 1997, R.A. Collins và Ng.T.B. (1997)
thuộc Đại học Hồng Kông
công bố kết quả
nghiên cứu về tác dụng chống lại virus HIV typ 1 của
các polysaccharid từ nấm Vân chi . Ngay sau đó,
nhiều nhà nghiên cứu khác đã tiến hành các thử
nghiệm sử dụng nấm Vân chi trong điều trị bệnh nhân
AIDS.
Tiêu biểu phải kể đến là nghiên cứu của
Marijke Pfeiffer trên một nhóm bệnh nhân HIV dương
tính ( M.Pfeiffer, 2001). Các bệnh nhân này được
điều trị bằng Coriolus MRL, một dược phẩm chế xuất
từ nấm Vân chi, kết hợp với liệu pháp châm cứu và
dùng thảo dược; một số có dùng thêm HAART, một loại
thuốc chống AIDS. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau
3-4 tháng điều trị, sức khỏe của các bệnh nhân đều
được cải thiện, biểu hiện như tăng cân, cảm thấy
khỏe khoắn hơn, giải tỏa ức chế tâm lý. Đặc biệt số
lượng virus trong cơ thể họ đều giảm một cách đáng
kinh ngạc (từ vài chục nghìn xuống vài nghìn) và số
lượng các tế bào trình diện kháng thế CD-4 đều tăng.
Sau thời gian điều trị các bệnh nhân đều khỏi hoặc
thuyên giảm hẳn các triệu chứng hệ quả của AIDS như
ỉa chảy, viêm phế quản, đau tim, viêm dây thần kinh,
nhiễm khuẩn, nhiễm nấm, vv…Một số có thể ngừng
không cần điều trị với HAART và có thể quay lại với
cuộc sống bình thường, chơi thể thao, làm việc trở
lại, … M. Pfeiffer (2001) đã xây dựng một phác đồ
điều trị khá hiệu quả cho các bệnh nhân HIV dương
tính .
Một nghiên cứu đáng lưu ý khác do nhóm
của G. Rotolo (1999) thực hiện cũng chứng minh tác
dụng điều trị các biểu hiện thứ cấp trong sự phát
triển bệnh ở các bệnh nhân AIDS . Các bệnh nhân đều
trên 35 tuổi, HIV dương tính, được điều trị bổ sung
bằng chế phẩm từ nấm Vân chi. Kết quả cho thấy sau
15 ngày điều trị với hàm lượng chế phẩm sử dụng là
3g/ngày, số lượng các tế bào bạch cầu trong cơ thể
các bệnh nhân đều tăng lên khoảng 27% so với các
trường hợp không được điều trị, và con số này giảm
xuống còn 14,1 % nếu lượng chế phẩm sử dụng cho điều
trị được giảm đi một nửa. Sau 45 ngày điều trị kết
hợp cả hai chế độ, số lượng bạch cầu trong cơ thể
các bệnh nhân tăng 45,2%. Từ các kết quả này tác giả
khuyến cáo việc sử dụng chế phẩm từ nấm Vân chi như
một liệu pháp chống bệnh AIDS và đề nghị nghiên cứu
sâu hơn về bản chất tác dụng của nấm đối với sự tăng
số lượng bạch cầu.
Hiện nay các nghiên cứu về tác dụng của
nấm Vân chi trong phòng chống virus HIV và bệnh AIDS
vẫn đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Các nhà khoa học
chủ yếu tập trung vào các cơ chế tác động của các
hoạt chất trong nấm để từ đó đề xuất những phương
pháp điều trị thích hợp.
Nấm Vân chi rõ ràng là một loại nấm dược liệu có
nhiều đặc tính dược lý ưu việt và rất đáng quan tâm.
Tiềm năng sử dụng nấm Vân chi trong điều trị lâm
sàng, đặc biệt với các bệnh hiểm nghèo như ung thư,
AIDS là rất lớn và cần được đi sâu khai thác. Một
điều đáng lưu ý là việc nuôi trồng và sản xuất dược
liệu từ nấm này không hề tốn kém , rất phù hợp với
điều kiện của các nước đang phát triển, trong khi
đây lại là một loại nấm có hiệu quả y dược cao. Vì
vây, việc phát triển sản xuất dược phẩm từ nấm Vân
chi có ý nghĩa kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ và
nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời mở ra một
hướng đi mới cho các ngành Công nghiệp dược phẩm và
Công nghệ sinh học.
Coriolus versicolor



