Những bài cùng tác giả

Chuột là một loại động vật gắn liền với sinh hoạt văn hoá của con người khá
lâu đời, đặc biệt với nền văn hoá lúa nước như Việt Nam. Sự hoà nhập giữa
loài chuột với con người trong một quần thể định cư có lẽ được xác định từ
thời kỳ đồ đá mới (neolithic) ở Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 6500-5650 trước Công
Nguyên [1]
và chuột nhà đã chứng tỏ là loại động vật có vú có khả năng thích
nghi cao nhất với các quần thể định cư đa dạng của con người. Tuy nhiên, mối
quan hệ giữa chuột và người lại là cảnh “đồng sàng dị mộng”, chuột luôn là
đối tượng để con người “tìm và diệt” vì đặc tính sinh thái và tác hại của
loài chuột đối với con người. Trong dân gian Việt Nam con chuột được nhắc
đến như là một biểu tượng của những điềm gở, những tính xấu hơn là sự gắn bó
thân thiện và hữu ích. Ngay cả đối với Tây phương, đến tên gọi tiếng Anh
“mouse” cũng mang một nghĩa xấu. Mouse, bắt nguồn từ gốc Latin là “mus”, rồi
tiếng Hy Lạp là “mys” và cuối cùng là du nhập vào tiếng Phạn cổ là
“mush”[2]
, đều có nghĩa là “ăn cắp”. Vâng, chúng ta đã đặt cho loài chuột
một cái tên định danh, là kẻ cắp, kẻ ăn cắp thực phẩm của con người từ khi
nông nghiệp ra đời.
Cho dù cho đến nay, chuột trong mắt con người vẫn là một loại sinh vật gây
hại đáng ghét, một “kẻ cắp chuyên nghiệp”. Thế nhưng qua hàng thế kỷ nay,
con người đang trở thành “kẻ cắp” trở lại đối với loài chuột; thậm chí,
chuột đã trở thành “ân nhân” bất đắc dĩ của con người. Con người đã ăn cắp
những gì, và ăn cắp như thế nào từ loại sinh vật thấp kém này, nhân năm
Chuột (Mậu Tý 2008), bài viết này đề cập đến vai trò của chuột trong nghiên
cứu y sinh học, như một sự minh oan cho loài chuột.
Sơ lược về việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y sinh thực nghiệm
Việc
sử dụng động vật để áp dụng trong nghiên cứu khoa học sinh lý học có từ rất
lâu đời; tuy nhiên theo tài liệu còn lưu trữ được cho đến nay thì Galen
ở Pergamum (130-200 sau Công Nguyên), được coi là ông tổ của ngành phẫu
thuật của y khoa từ thời Hippocrates, là người đầu tiên thực hiện phẫu tích
và nghiên cứu trên mô hình động vật là lợn (heo), khỉ không đuôi (barbary
ape), và chó để nghiên cứu sinh lý học áp dụng cho con người sau khi bộ luật
La Mã nghiêm cấm mổ tử thi. [3]
Và cũng từ đó mà việc sử dụng động vật trong nghiên cứu y học đã đóng góp
cho nhân loại một kho tàng tri thức vô giá về các mặt cơ thể giải phẫu, sinh
lý học, bệnh lý học và sau này là mô hình thử nghiệm và di truyền học.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, trong những thập niên cuối
của thế kỷ XX, có nhiều mô hình nghiên cứu phi động vật (quan sát và giải
phẫu tử thi và sử dụng dòng tế bào người) để thay thế mô hình động vật,
nhưng cũng chỉ đem lại giá trị khoa học nhất định; và động vật vẫn là một
trong những mô hình được sử dụng ưu thế nhất trong nghiên cứu y sinh học.
Mỗi năm có khoảng 17 đến 23 triệu con vật được sử dụng để nghiên cứu.[4]
Trong số đó, chuột (cả chuột hoang dại [rat] và chuột nhà [mouse]) chiếm đến
95% các nghiên cứu trên mô hình động vật.[4,5]
Sở dĩ chuột được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu y khoa là do kích thước
nhỏ, giá thành tương đối không đắt đỏ, dễ nuôi, sinh sản nhanh, đặc biệt đời
sống ngắn (2-3 năm) nên có thể theo dõi được hết đời sống và có thể theo dõi
được cả vài thế hệ. Nhưng điểm quan trọng và quý giá nhất nhất là đặc điểm
sinh lý và di truyền học của chuột rất gần với con người. Thực tế, mặc dù
tinh tinh (chimpanzee) có cấu trúc di truyền DNA 99% giống với con người, và
chuột chia sẻ có 98% bộ gen với con người, nhưng chuột vẫn luôn luôn là mẫu
hình nghiên cứu được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu y học. Trong một thập
niên gần đây, các nhà khoa học còn nâng cấp mô hình nghiên cứu chuột lên một
tầm cao mới là có thể làm thay đổi cấu trúc gen trong chuột để gây ra các
bệnh lý giống như bệnh lý ở người.
Tại sao không thể dùng các mô hình thay thế động vật trong nghiên cứu y
sinh?
Trên nguyên tắc, một khi có thể sử dụng được mô hình thay thế động vật là
các nhà nghiên cứu lập tức áp dụng ngay. Nhiều mô hình thay thế động vật
được áp dụng rộng rãi hiện nay bao gồm mô hình điện toán hóa, mô hình trên
các dòng tế bào phân lập, nuôi cấy và một số các mô hình phi động vật khác.
Thí dụ như mô hình điện toán hóa thường được sử dụng trong việc sàng lọc và
xác định mức độ gây độc của các chất trong giai đoạn khởi đầu của nghiên cứu
thực nghiệm trên các mô và tế bào nuôi cấy. Tuy nhiên, các mô hình trên động
vẫn vẫn còn giá trị, ví dụ như bệnh mù, chúng ta không thể nghiên cứu trên
mô hình phi động vật hay bệnh cao huyết áp không thể nghiên cứu được trên
các tế bào nuôi cấy.
Các bộ phận sống cực kỳ phức tạp bởi vì nó hoạt động theo cơ chế chỉ huy đa
tầng và đa liên kết. Thí dụ, hệ
Quy trình tạo chuột chuyển gen (transgenic mice). Chiết tách các gen cần cấy
vào cơ thể chuột, sau đó cấy gen này vào trứng chuột. Đưa trứng đã cấy gen
này vào trong tử cung chuột mẹ trung gian để tạo ra thế hệ con cái có mang
gen cần cấy.
thống thần kinh trung ương, tuần hoàn, hóa chất trong não, nội tiết tố cũng
như đáp ứng miễn dịch là một mối quan hệ chằng chịt; và chúng ta không thể
nào nghiên cứu các tiến trình bệnh lý ở các cơ phận này nếu không quan sát
và thử nghiệm trên một cơ thể sống hoàn chỉnh.
Chuột và nghiên cứu y sinh học
Chuột đến với phòng thí nghiệm được biết sớm nhất có lẽ là từ những người
thích chơi chuột cảnh; họ nuôi và lai giống để có được những con chuột có
màu lông lạ đời. Khởi thủy là từ những người chơi chuột Tàu (Chinese mouse)
rồi lan sang Anh và Mỹ, thế nhưng chuột Tàu lại không phải là loại có bộ gen
để sử dụng trong phòng thí nghiệm hiện đại. [6]
Ở châu Âu, Robert Hook được
coi là người đầu tiên sử dụng chuột để nghiên cứu thực nghiệm về oxy trong
cơ thể sống vào năm 1614 (Masson JH 1940, trích dẫn lại [6]). Từ đó, việc sử
dụng chuột với các chủng đặc biệt trở nên ngày càng phổ biến. Đáng ghi nhận
nhất ở Mỹ là bà Abbie Lathrop, một giáo viên nghỉ hưu, thích chuột và nuôi
chúng trong một trang trại của mình ở Massachusetts vào đầu thế kỷ XX.[7]
Năm 1902, các dòng chuột nuôi của bà trở thành những con vật đầu tiên được
Giáo sư Ernest Castle đưa vào phòng thí nghiệm của Đại học Harvard và sau đó
là Đại học Pennsylvania, khi chúng được phát hiện thấy có mọc các khối u.
Chẳng bao lâu sau đó, học trò của Ernest là Clarence Cook Little (1888-1971)
là người có công đầu trong việc tạo các giống chuột lai thuần chủng, lần đầu
tiên được dùng trong nghiên cứu các bệnh ung thư có tính di truyền. Ông đã
tạo ra giống chuột DBA (Dilute, Brown, Agouti),[8]
tạm gọi là chuột thí nghiệm; các chủng chuột đầu tiên do Little lai tạo và
vẫn thông dụng cho đến hiện nay là CBA, C3H, C57BL/6 và BALB/c. Little cũng
chính là người đã thành lập Phòng thí nghiệm Jackson năm 1929,[9]
cho đến nay vẫn là một trong những xưởng cung cấp các giống chuột thí nghiệm
lai thuần chủng lớn nhất thế giới.
Những tiến bộ trong việc tạo giống chuột trong phòng thí nghiệm
Mặc dù chuột được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu y sinh học, nhưng
không phải tất cả các loại chuột đều dùng được. Các chủng chuột dùng trong
nghiên cứu y sinh hiện đại đều phải có cấu trúc di truyền được xác định rõ.
Và các chủng chuột đã xác định về mặt di truyền đều phải có cấu trúc giống
hệt hoặc chí ít cũng rất sát nhau để có thể tái sinh sản theo cách cho lai
thuần chủng các thế hệ trong thực nghiệm
và để cho có thể tiên đoán được các kiểu hình (phenotype) cũng như các thành
phần của allen. [10]
Những thập niên gần đây, các nhà khoa học đã có thể tạo ra những con chuột
thí nghiệm có cấu trúc di truyền hoặc có kiểu hình bệnh lý theo ý muốn qua
các phương thức chuyển hoặc tách gen. Chuyển và tách bỏ gen trong chuột để
phục vụ cho mục đích nghiên cứu là một cuộc cách mạng trong công nghệ sinh
học. Chuột chuyển gen là chuột được cấy vào cơ thể một gen ngoại lai và
chuột tách gen là tách bỏ hoặc bất hoạt một hay một đoạn gen đặc hiệu nào
đó.
Chuột nhà, tên khoa học là Mus musculus domesticus, được lựa chọn là mô hình
nghiên cứu chuẩn trong phòng thí nghiệm y sinh do khả năng thích nghi cao và
khả năng có thể lai tạo các dòng gen thuần chủng tiện lợi cho nghiên cứu các
bệnh có liên quan mật thiết với bệnh lý ở người. Đặc biệt từ khi công nghệ
chuyển và tách gen kỹ thuật cao ra đời, chuột càng chứng tỏ mình là một sự
lựa chọn đúng đắn của con người trong nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn một
chủng chuột đặc hiệu, chủng 129, và các chủng phụ của nó được coi là đặc
biệt giá trị do chúng có thể tạo các bào gốc phôi có khả năng thay đổi được
cấu trúc di truyền trong quá trình nuôi cấy và
rồi được đưa trở lại vào trong tử cung của chuột vật chủ.[11] Các nghiên cứu
sử dụng biện pháp biến đổi gen trực tiếp của các chủng phụ nhóm 129 đã cho
phép công nghệ tạo đột biến gen theo ý muốn (target mutation) để tạo ra các
giống chuột có các đặc tính bệnh lý đặc hiệu, hay còn gọi là chuột chuyển
gen (transgenic mouse) hoặc chuột tách bỏ gen (knockout mouse) cũng như các
giống chuột có mang gen bệnh lý của người (chuột chuyển gen người, humanized
mouse). Ngày nay việc sử dụng chuột chuyển gen trong phòng thí nghiệm y sinh
đã trở nên phổ biến.

Hình ảnh của chuột tách gen (knockout mouse):
Vai trò của gen Nh1h2 trong
việc hình thành mỡ bụng và gây béo phì. Tại thời điểm 8 tuần tuổi cả hai
chuột bình thường (WT) và chuột tách gen (KO) đều giống nhau về cấu trúc và
trọng lượng cơ thể. Béo phì xuất hiện rõ rệt ở tuần thứ 12 và lớn hơn ở
chuột đã được tách gen Nhlh2 do tăng nhanh lượng mỡ bụng và trọng lượng.
Nguồn: www.hnfe.vt.edu/People/faculty/good.html
Đối với chuột hoang dại (rat), có lẽ chuột hoang dại ở Na Uy là được sử dụng
trong nghiên cứu thực nghiệm phổ biến nhất, đặc biệt là trong giảng dạy.
Giống như chuột nhà, chuột hoang dại được ưa chuộng là do khả năng sinh sản
nhanh, đời sống ngắn, dễ kiếm và quan trọng hơn, chuột hoang dại có giá trị
trong nghiên cứu đặc tính hành vi. Ngày nay, với những khám phá mới về khoa
học thần kinh, khoa học thần kinh hành vi tạo cơ may để chuột hoang dại tiếp
tục phát huy thế mạnh của mình trong nghiên cứu về các hành vi vận động, tấn
công và sinh sản. So với chuột nhà, chuột hoang dại ít được sử dụng hơn
trong phòng nghiên cứu y sinh hiện đại do hạn chế về khả năng tạo dòng lai
thuần chủng. Từ khi công nghệ chuyển gen và tách gen ra đời, chuột hoang dại
đang dần chiếm lại vị thế của nó trong phòng thí nghiệm do chuột hoang dại
lại có hiệu quả hơn chuột nhà trong nghiên cứu các bệnh lý trên người như
bệnh Parkinson, ung thư, xơ nang (cystic fibrosis), bệnh tim, bệnh
Alzheimer, teo cơ giả phì đại và bệnh lý cột sống, vân..vân.[12]
Một số bệnh lý tái lập trên chuột chuyển gen hoặc chuột tách gen
Dựa trên các giả thuyết về bệnh lý gen, các nhà khoa học có thể tiến hành
cấy các gen bệnh hoặc ghép các gen bệnh của người hoặc thậm chí loại bỏ một
gen chức năng nào đó trong chuột để cho con chuột đó biểu hiện một bệnh lý
nào đó giống hệt như bệnh lý ở người. Từ đó các nhà nghiên cứu có thể khảo
sát tiến trình bệnh lý và mục đích cuối cùng là tìm ra một phương thức điều
trị đặc hiệu khả dĩ có thể áp dụng điều trị cho người bệnh. Chỉ trong vòng
hơn một thập niên gần đây, nghiên cứu chuyển, ghép và tách gen trên chuột đã
đem lại nhiều kết quả khá thú vị và ngoạn mục. Dưới đây là ví dụ về một số
bệnh lý điển hình tái lập được trên các mô hình chuột chuyển hoặc tách bỏ
gen.
Bệnh Alzheimer (AD). Về cơ chế bệnh sinh, cho đến nay, các khoa học gia cho
rằng do sự lắng đọng của các mảng protein có amyloid trên bề mặt não làm cho
bệnh nhân mất trí nhớ, và tổn thương nhân cách là các đặc điểm của bệnh
Alzheimer. Sử dụng chuột hoang dại chuyển gen đã có thể tái hiện lại mô hình
bệnh lý này và các nhà nghiên cứu đang tiến hành khảo sát tác dụng của thuốc
điều trị AD. Vừa mới đây, một nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng một loại
vắc-xin có chứa các protein amyloid biến thể cho chuột bị bệnh có khả năng
làm chậm tiến trình bệnh lý AD. Hiện nay, vắc-xin này đang được thử nghiệm
trên người .[13,14]
Bệnh lão suy (Aging). Nếu tiến hành theo dõi quá trình lão suy trên người,
cần phải mất rất nhiều thời
gian, gần như suốt cả mấy thập niên đời người mà nhiều khi lại không thể
theo dõi hết được. Trên mô hình nghiên cứu chuột hoang dại và chuột nhà cho
thấy nếu giảm chế độ năng lượng thu nạp mỗi ngày, tuổi thọ của chuột hoang
dại tăng lên, các quá trình thoái hoá sinh lý chậm lại và cho thấy có mối
tương quan với khả năng ngăn ngừa một số bệnh lý liên quan đến tuổi tác.[15]
Ung thư.
Trong suốt thập niên qua, những hiểu biết của chúng ta về vai trò
các yếu tố môi trường có tác động như thế nào đến yếu tố di truyền và gây
đột biến gen gia tăng nguy cơ ung thư là đều thông qua mô hình nghiên cứu
trên chuột hoang dại và chuột nhà. Gần đây, các nhà khoa học đã tạo ra được
giống chuột có khả năng kháng ung thư do thiếu khả năng sản xuất một protein
vòng D1, một hợp chất tăng cao trong số các bệnh nhân ung thư vú. Do đó với
kỳ vọng sử dụng liệu pháp trị liệu tác động vào chất này có khả năng làm kìm
hãm sự phát triển ung thư vú ở người.[16]
Nhồi máu cơ tim (Heart attack). Nghiên cứu mới cho thấy rằng
sau một đợt nhồi máu cơ tim, cơ tim tái sinh dài ra hơn một chút, là nguy cơ
của suy tim và tái nhồi máu. Các nhà khoa học đang sử dụng mô hình chuột
chuyển gen để nghiên cứu điều trị tình trạng này. Các nghiên cứu đang nhắm
vào việc sử dụng các tế bào gốc tủy xương nguyên thuỷ tiêm vào vùng ngoại vi
của khu vực bị tổn thương để kích thích việc tự sửa chữa, và kết quả đang
theo chiều hướng hứa hẹn.[17]
Vài nhận xét và kết luận

Khoảng hơn một thế kỷ trước, mặc dù nhận thấy tầm quan trọng của chuột trong
các nghiên cứu thực nghiệm y sinh học, các nhà khoa học vẫn chưa biết gì về
DNA và yếu tố di truyền. Nhưng một sự ngẫu nhiên gần như có bàn tay sắp đặt,
chuột càng ngày càng trở thành một đối tượng đóng một vai trò then chốt và
không thể thay thế được trong nghiên cứu y sinh học hiện đại từ khi có công
nghệ chuyển gen, tách gen ở chuột thí nghiệm, bởi vì nhờ công nghệ này mà
chúng ta có thể tái hiện được khá nhiều bệnh lý ở người trên chuột thực
nghiệm. Để sở hữu được một con chuột chuyển hay tách gen, cái giá phải chi
trả không phải nhỏ. Một con chuột được tạo ra với bệnh viêm khớp giá xấp xỉ
200 USD/con; một con chuột mù bẩm sinh, 250 USD. Và nếu muốn có một con
chuột được chuyển hay tạo đột biến hay tách gen theo ý muốn, bạn có thể phải
chi trả đến giá 100 nghìn USD/con. [18] Và cũng không lạ gì là tại sao trong
năm 2006, Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) đã phải chi trả đến 10 triệu đô la để
mua 250 chủng chuột đã được tách gen, cùng với các dữ liệu chi tiết về sinh
lý học.
Một điều thú vị hơn, sau các dự án giải mã bộ gen chuột và bộ gen người, các
khoa học gia đặt sóng đôi để so sánh
[19] thì thấy 90% bộ gen của chuột
(hoang dại và nhà) giống với bộ gen người; ba loài này có chung với nhau
trên 280 vùng rộng (large region) của các đoạn gen; và thậm chí có thể tái
hiện các bệnh lý ở người trên chuột, thì chuột vẫn là chuột chứ không bao
giờ chuột là người cả. Cấu trúc bộ gen không quan trọng mà hoạt tính, tương
tác, điều khiển của các gen đó trong cơ thể mỗi loài mới quan trọng.
Sử dụng mô hình thực nghiệm trên động vật sống để nghiên cứu các bệnh lý ở
người là điều gần như không thể thay thế được và nếu không nói là phương
pháp tốt nhất và hiệu quả nhất hiện nay để tiếp cận cơ chế bệnh nguyên và
bệnh sinh các bệnh lý ở người, đặc biệt là bệnh lý liên quan đến yếu tố di
truyền. Nhưng điều đó không có nghĩa là một khi đã “giải mã” được bệnh lý và
tìm được phương pháp chữa trị mới thành công trên mô hình động vật thực
nghiệm là có được chìa khóa thành công trên con người, nếu không nói là
đường đi đến đích vẫn còn xa dịu vợi. Cho nên, cho đến nay dưới ánh sáng của
y học thực chứng, thì các bằng chứng nghiên cứu thu được từ mô hình thực
nghiệm động vật vẫn là những bằng chứng có giá trị khoa học ở bậc rất thấp
của thang điểm.
Nhưng dẫu sao, cũng cần phải có một cơ hội nào đó để tôn vinh loài chuột mà
con người đã lỡ gán danh là “kẻ cắp”; vì bây giờ, con người đang đóng vai
đó, đang ăn cắp những sở hữu quý giá của loài chuột để nghiên cứu phục vụ
cho lợi ích của con người; và để có được những kết quả nghiên cứu mang tính
đột phá trong y sinh học như hiện nay, không biết bao nhiêu con chuột đã
phải làm vật thế thân mà tiếng xấu vẫn còn mang. Không biết có ngẫu nhiên
hay không mà trong năm vừa qua, Walt Disney mới cho ra đời bộ phim hoạt hình
Ratatouille, nâng cấp loài chuột lên ngang hàng với chúng ta, cũng xứng lắm
thay!
Tài liệu tham khảo
1. Brothwell D (1981) The Pleistocene and Holocene archeology of the house
mouse and related species. In Berry RJ (ed) Symposium of the Zoological
Society of London Vol 47: The Biology of the House Mouse. Academic Press,
London, pp 1-13.
2. Silver LM (1995) Mouse Genetics. Oxford University Press, New York.
3. Nutton V (1973) The Chronology of Galen's Early Career. Classical
Quarterly 23:158-171.
4. California Biomedical Research Association (2007) CRBA Fact sheet: Why
are Animals Necessary in Biomedical Research? www.ca-biomed.org. Accessed
Dec 12, 2007.
5. Foundation for Biomedical Research (2007) Rats and Mice, the Essential
Need for Animals in Medical Research. www.fbresearch.org. Accessed Dec 12,
2007.
6. Festing MFW, Lovell, DP (1981) Domestication and development of the mouse
as a laboratory animal. In Berry RJ (ed) Symposium of the Zoological Society
of London Vol 47: The Biology of the House Mouse. Academic Press, London, pp
43-62.
7. Morse III HC (1978) Origins of Inbred Mice. Academic Press, New York
8. Little CC (1913) "Yellow" and "Agouti" Factors in Mice. Science 38:205.
9. Russell ES (1978) Origins and history of mouse inbred strains:
Contributions of Clarence Cook Little. In Morce HC (ed) Origins of Inbred
Mice. Academic Press, New York, pp 33-43.
10.Davisson MT (1999) Genetic and Phenotypic Definition of Laboratory Mice
and Rats/What Constitutes an Acceptable Genetic-Phenotypic Definition:
Proceeding of the 1998 US/Japan Conference. In National Research Council
(ed) The 1998 US/Japan Conference by International Committee of the
Institute for Laboratory Animal Research. National Academy Press,
Washington, D.C.
11. Simpson EM, Linder, CC, Sargent, EE, Davisson, MT, Mobraaten, LE, Sharp,
JJ (1997) Genetic variation among 129 substrains and its importance for
targeted mutagenesis in mice. Nat Genet 16:19-27.
12. Schulhof J (1996) Editorial: Putting your money where your mouse is. Lab
Animal 25:9.
13. Schenk D, Barbour, R, Dunn, W, Gordon, G, Grajeda, H, Guido, T, Hu, K,
Huang, J, Johnson-Wood, K, Khan, K, Kholodenko, D, Lee, M, Liao, Z,
Lieberburg, I, Motter, R, Mutter, L, Soriano, F, Shopp, G, Vasquez, N,
Vandevert, C, Walker, S, Wogulis, M, Yednock, T, Games, D, Seubert, P (1999)
Immunization with amyloid-beta attenuates Alzheimer-disease-like pathology
in the PDAPP mouse. Nature 400:173-177.
14. Schenk DB, Seubert, P, Lieberburg, I, Wallace, J (2000) beta-peptide
immunization: a possible new treatment for Alzheimer disease. Arch Neurol
57:934-936.
15. Masoro EJ (2000) Caloric restriction and aging: an update. Exp Gerontol
35:299-305.
16. Yu Q, Geng, Y, Sicinski, P (2001) Specific protection against breast
cancers by cyclin D1 ablation. Nature 411:1017-1021.
17. Orlic D, Kajstura, J, Chimenti, S, Jakoniuk, I, Anderson, SM, Li, B,
Pickel, J, McKay, R, Nadal-Ginard, B, Bodine, DM, Leri, A, Anversa, P (2001)
Bone marrow cells regenerate infarcted myocardium. Nature 410:701-705.
18. Associated Press (2006) Mice play a critical role in medical research.
Researchers can pay as much as $100,000 for a customized animal. In The
Associated Press.
19.National Human Genome Research Institute (2004) Scientists Compare Rat
Genome With Human, Mouse http://wwwgenomegov/11511308 Accessed Feb 2, 2008.
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Đình Nguyên
|
|