Những bài cùng tác giả
Rừng là
môi trường sống của bao sinh vật, giữ nước đầu nguồn chống lụt, giữ carbon,
lá phổi tạo nguồn oxygen, nguồn nguyên liệu đa dạng sinh học phong phú cung
cấp những thực vật có giá trị trong y học và bao dịch vụ có ích khác cho con
người. Không những thế rừng còn chứa đựng nhiều bất ngờ khác cho ta những dữ
kiện thông tin quý báu. Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà là một thí dụ tiêu biểu.
Đầu năm
2009, nhà khoa học người Mỹ Brendan Buckley ở Phòng thí nghiệm Vòng cây
(Tree ring Laboratory) của cơ quan nổi tiếng Lamont-Doherty Earth
Observatory đã cùng một đồng nghiệp Việt Nam tìm được trong rừng quốc gia
Bidoup- Núi Bà gần Đà Lạt ở tỉnh Lâm Đồng nhiều cây thông đã sống cách đây
gần ngàn năm. Các cây thông này thuộc một loài cây thông hiếm có nguy cơ
tuyệt chủng (ghi trong Sách Đỏ) gọi là Fokienia hodginsii (cây Pơ
Mu). Từ các mẫu lấy ở thân cây Pơ Mu, ông Buckley đã tái tạo lại thời tiết
gió mùa ở lục địa Á châu trong quá khứ đến tận thế kỷ 14 và từ đó chứng minh
là nền văn minh Khmer rực tỡ ở Angkor đã sụp đổ vì nạn hạn hán và môi trường
thủy lợi. Đây là một khám phá quan trọng trong lịch sử khí hậu gió mùa và
hiện tượng El Nino ở Đông Nam Á.
Cây Pơ
Mu phân phối từ nam Trung Hoa (Triết Giang,
Phúc Kiến, Vân Nam, Quế Châu)
xuống bắc Việt Nam
(các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Hà bắc, Hà Giang, Hà Tỉnh, Nghệ An, Thanh
Hóa, Gia Lai, Dak Lak, Lâm Đồng), nhưng ở Lâm Đồng trong vườn quốc gia
Bidoup-Núi Bà là nơi tìm thấy được các cây có độ tuổi lâu nhất.
Bài này
có mục đích giới thiệu những khám phá khoa học quan trọng có liên quan đến
lịch sử và địa lý tiến hóa mà sự đa dạng sinh học ở rừng nguyên sinh là yếu
tố quyết định. Tư liệu lấy từ các báo cáo khoa học, các bài liên quan và
được bổ sung bởi sử liệu Việt Nam.
Vườn
quốc gia Bidoup-Núi Bà
Vườn
quốc gia Bidoup-Núi
Bà được thành lập năm 2004 để bảo vệ khu rừng nguyên sinh cổ nhất ở
Lâm
Đồng.
Hệ sinh thái thuộc về vùng núi Nam Trường Sơn với 91% diện tich 64800
hectare là rừng. Ở đây có nhiều loài cây thông hiếm và đặc hửu chỉ có trong
vùng, như thông lá dẹt (Pinus kempfii) không nơi nào có mà chỉ có ở
Lâm Đồng và Khánh Hòa chủ yếu là vùng núi Bidoup. Trong 11 loài thông có
nguy cơ tuyệt chủng thì vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà vẫn còn 10 loài.
Trong
vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, dọc theo các dốc của dãy núi Lang Bian, có rất
nhiều các cây thông ba lá (khasia), một loài đặc biệt chỉ mọc ở độ cao từ
1000m đến 2000m trên mặt mặt biển.Trong rừng ở thung lũng cạnh Núi Bà còn có
thông merkus, một loài chỉ có ở Á châu đất liền và là một trong những loài
thông hiếm nhất trên thế giới. Thân cây có thể dài đến 4m đường kính và trổ
lên thẳng cao đến 20m trước khi các cành tỏa ra từ thân cây. Một loài thông
thật hoành tráng.
Trên những cành của các cây thông này, khách đến thăm có thể thấy hơn 200
loài chim, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như
Mi langbian đầu xám (crocias langbianis), khướu đầu đen (garrulax
pectoralis) và Khướu đầu đen má xám (garrulax yersini) (10). Vườn
quốc gia Bidoup-Núi Bà ở cao nguyên Lang Bian là một trong 221 trung tâm
chim đặc hữu trên thế giới và một trong 4 trung tâm đa dạng sinh học của
Việt Nam. Bốn trung tâm đa dạng sinh học ở Viêt Nam gồm có vùng núi Hoàng
Liên Sơn ở bắc phần, núi Ngọc Lĩnh ở bắc Tây Nguyên, khu vực rừng mưa ở bắc
trung phần và cao nguyên Lang Bian.
Để có thể
hiểu được tầm vóc đa dạng sinh học ở Bidoup-Núi Bà, ta có thể liệt kê sau
đây. Trong tổng thể 1468 loài thực vật, có 62 loài quý hiếm và 29 loài nằm
trong Sách Đỏ (Red Book) của Việt nam và của Hiệp hội bảo tồn Thiên nhiên
thế giới (IUCN) như loài tùng Sam hạt đỏ lá dài (Taxus wallichiana),
Bách xanh (Calocedrus macrolepis), thông Pơ Mu (Fokienia hodginsii),
Thông năm lá Đà Lạt (Pinus dalatensis), thông lá dẹp (Pinus
krempfii). Quan trọng hơn là 91 loài thực vật này, tất cả đều là đặc
hữu không có ở nơi nào khác trên thế giới mà chỉ có trong vùng tỉnh Lâm Đồng
và lân cận với 28 loài có tên khoa học dựa trên tên vùng: Đà Lạt (dalatensis)
có 9 loài, Lang Bian (langbianensis) có 14 loài và Bidoup
(bidoupensis) có 5 loài.
Trong
vườn có 52 loài thú động vật (chiếm 25% tổng số loài trong vùng Lâm Đồng)
được coi là quý hiếm, trong đó 36 loài nằm trong Sách Đỏ 2000 của Việt Nam
và 26 loài nằm trong Sách Đỏ 2000 của Hiệp hội bảo tồn Thiên nhiên thế giới
(IUCN) như linh trưởng Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Chà và
chân đen (Pygathrix nigripes), Vượn đen má hung (hylogates
gabriellae), Gấu chó (Ursus malayanus), Gấu
ngựa (Ursus thibetanus),Báo lửa (Catopuma temminckii),
voi (Elephas maximus), Chó sói đỏ (Cuon alpines), Bò
tót (Bos gaurus), Trâu rừng (Bubalus arnee),
Sơn dương (Naemorhedus sumatraensis), Hổ (Panthera
tigris).
Vườn quốc
gia Bidoup–Núi Bà cũng được đánh giá là “vương quốc” của các loài lan dại
với hơn 250 loài. Có những loài lan đặc hữu chỉ có trong vùng cao nguyên
Lang Bian (Lâm Viên) với các tên khoa học như lan hoàng thảo lang Bian (dendrobium
langbianense), lan la dơn Lang Bian (oberonia langbianensis) và
Lan vân đa bi đúp (vanda bidupensis).
Thông Pơ Mu (Fokienia
hodginsii)
Cây thông
cổ thụ Pơ Mu thường
cao đến 30 mét và có đường kính từ 1.5 đến 2 mét.
Ngoài vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, cây thông Pơ Mua còn có ở vườn quốc gia
Chu Yang Sin ở phía bắc nhưng hiện nay tại VQG Chu Yang Sin chúng chưa được
khảo sát và thẩm định đầy đủ. Đây là loài cây được bảo vệ nghiêm ngặt trong
Sách Đỏ, tuy vậy trong dịp viết bài này thì tôi thấy trên trang rao vặt ở
Việt Nam trên mạng có quảng cáo bán tinh dâu cây Pơ Mu (xem
http://www.raovatmienphi.com/tinh-dau-po-mu-nguyen-chat.html),
chứng tỏ có vấn đề trong sự quản lý, bảo vệ sinh vật quí hiếm trong Sách Đỏ.
Cách đây
vài năm, ông Buckley cùng với hai nhà khoa học đồng nghiệp người Nhật ở Đại
học Ehime đã nghiên cứu các vòng gỗ trong một thân cây Fokienia
hodginsii từ bắc Việt Nam. Như ta đã biết độ dầy của các
vòng trên thân cây sẽ cho ta biết về tình trạng khí hậu trong quá khứ, mỗi
chu kỳ một năm gồm màu nhạt là thời gian mọc nhanh lúc nhiều mưa và màu đậm
hơn là giai doạn phát triển chậm vào mùa nắng. Loại cây Fokienia lý tưởng để
nghiên cứu vì than chúng cho thấy mẫu hình phát triển mổi năm và chúng đáp
ứng rõ rệt với thời tiết trong vùng chịu ảnh hưởng của thời tiết mưa vùng
nhiệt đới ở Á châu (monsoon) bắt đầu vào khoảng tháng 3 đến tháng 5.
Dùng mẫu
hình trên thân cây để biết được thời tiết khí hậu trong quá khứ đã được dùng
ở một số các cây lớn sống nhiều năm trong rừng ôn đới, chúng cho thấy rõ sự
phát triển các vòng trên thân cây tùy theo mùa. Ở rừng thường xanh miền
nhiệt đới, các vòng trên thân cây ít khi thể hiện rõ nên hầu hết chúng không
dùng được cho sự phân tích khí hậu quá khứ, trừ cây gổ quý tếch (teak) và
gần đây cây thông Pơ Mu. Cây Pơ Mu được khám phá bởi các nhà khoa học Nhật
cuối thập niên 1990 là có mẫu hình rõ nhận thấy được của các vòng phát triển
dựa trên hai mùa mưa và nắng.
Teak được
biết đến trong sự thẩm định khí hậu quá khứ vào năm 1931 khi nhà thực vật
học người Hòa Lan H. Beriage xác định tuổi cây qua các vòng trên thân cây
teak ở Java trở lại quá khứ đến tận năm 1514. Ở Indonesia nơi có nhiều teak
trong rừng nhiệt đới, các cây cổ xưa này đã được dùng thành công để tái tạo
lại nhiệt độ mặt nước biển ở Thái Bình Dương gần Indonesia, thời tiết và
hiện tượng El Nino trong quá khứ (9). Tuy nhiên vì là cây có nguồn gốc du
nhập từ Ấn Độ nên cây tìm được cổ nhất mà ta có thể xác định quá khứ chính
xác là chỉ hơn 400 năm cách ngày nay.
Khi khoa
học đã biết đến giá trị của cây Pơ Mu trong việc xác định khí hậu trong quá
khứ thì hầu hết các cây Pơ Mu cổ xưa nhất đã bị chặt đốn khai thác làm gỗ và
lấy tinh dầu từ Nam Trung quốc, bắc đến Trung Việt Nam trong quá khứ cho đến
các năm gần đây. Vì thế hiện nay các cây Pơ Mu xưa cổ nhất là được tìm thấy
ở vùng hẻo lãnh của vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà thuộc tỉnh Lâm Đồng. Chúng
có giá trị vô cùng quí giá cho khoa học.

(Tem cây
Pơ Mu, Vietnam 1986)

(Lá cây P ơ
Mu)
Năm 2007,
ông Lê Cảnh Nam, chuyên viên của vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, được ông
Buckley tìm xem trong vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà có các cây Pơ Mu cổ xưa mà
nhóm nghiên cứu của ông có thể dùng để nghiên cứu khí hậu quá khứ. Ông Nam
đã hướng dẫn ông Buckley vào rừng và tìm thấy được các cây cổ thụ Pơ Mu để
lấy mẫu từ các thân cây (2).

(Chuyên
viên Lê Cảnh Nam đục lấy mẫu từ thân cây Pơ Mu trong vườn quốc gia
Bidoup-Núi Bà. Photos by Andy Nelson/The Christian Science Monitor)
Nhóm
nghiên cứu của ông Buckley trong 5 năm qua đã hợp tác với các nhà nghiên cứu
từ nhiều nước như Nhật, Úc, Pháp, Cambodia để tái tạo lại thời tiết mưa gió
mùa và liên kết chúng với sự thay đổi khí hậu để trả lời câu hỏi mà các nhà
sử học và khảo cổ học đã đặt ra: phải chăng sự thay đổi khí hậu đã là một
nguyên nhân chủ yếu đã làm nền văn minh Khmer ở Angkor chủ yếu dựa vào hồ
chứa, kênh đào để phát triển trồng lúa bị sụp đổ vào đầu thế kỷ 15 ?.
Trong đầu
thập niên 2000, các nhà sử học và khảo cổ học ở Đại học Sydney (R. Fletcher,
D. Penny), Trường Viễn Đông Bác cổ (C. Pottier) hợp tác cùng Cơ quan bảo
tồn di tích Angkor (APSARA) của Cambodia trong Chương trình Angkor rộng lớn
(Greater Angkor Project, GAP). Nhóm GAP nghiên cứu khai triển thêm công
trình nghiên cứu trước đây vào năm 1979 của nhà khảo cổ Pháp
Bernard-Philippe Groslier của Trường Viễn đông Bác cổ về hệ thống thủy lợi,
môi trường chung quanh quần thể Angkor (12). Qua các ảnh vệ tinh và khai
quật điền dã, nhóm GAP nhận thấy sự qui mô lớn lao của hệ thống thủy lợi
cung cấp nước cho các hồ Đông Baray, Tây Baray, hào quanh thành quách, các
cánh đồng lúa ở bắc và nam Angkor từ sông Siamrep. Sông Siemrep bắt nguồn từ
núi Phnom Kulen phía đông bắc Angkor chảy ra biển hồ Tonle Sap ở phía nam.
Ở Á châu,
gió mùa mang đến mưa điều khiển nhịp sống của con người ở vùng này. Ngày nay
hơn 40% dân số thế giới tùy thuộc vào nước do mưa đem lại để trồng thức ăn
và có nước uống. Vì vậy nếu có sự thay đổi đột biến của gió mùa thì hệ quả
gây ra những xáo trộn về kinh tế, xã hội sẽ vô cùng to lớn, nhất là đối với
các xã hội trong lịch sử ở những thế kỷ trước chỉ dựa vào nông nghiệp.
Trong
chuyến điền dã được ông Lê Cảnh Nam hướng dẫn vào vườn quốc gia Bidoup-Núi
Bà, ông Buckley hy vọng là dữ liệu từ các cây cổ thụ Pơ Mu sẽ trả lời thỏa
đáng giả thuyết trên của các nhà khảo cổ. Hy vọng của ông Buckley đã được
kiểm chứng vài tháng sau, khi các mẫu thân cây lấy từ ruột của cây đánh dấu
số 12 (trong tổng số 36 cây) được phân tích ở phòng thí nghiệm
Lamont-Doherty Earth Observatory ở New York. Phân tích cho thấy cây này được
định tuổi trở về quá khứ cho đến năm 1029 tức 980 năm cách đây.
Sau 4
ngày làm việc cực nhọc trong vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà với tinh thần hợp
tác cao độ, mục tiêu của họ đã được hoàn tất. Họ đã có được hơn 100 mẫu ruột
thân cây từ một quần thể cây Pơ Mu.
Ông
Buckley nói (2): “Tôi nhìn địa điểm này và nhìn lại toàn Đông Nam Á – đặc
biệt là Việt Nam – tôi nhận ra rằng tôi có thể rất dễ dàng làm việc nghiên
cứu tại đây cho đến khi tôi không thể làm việc được nữa. Có rất nhiều việc
phải làm và thật là hết sức lý thú“.
Cộng với
các kết quả nghiên cứu trước đây ở Thái Lan, nhóm nghiên cứu của Buckley đã
xác định được rằng từ các vòng trên thân cây Pơ Mu đã có vài thời kỳ hạn hạn
lớn trên vùng đất liền ở Đông Nam Á trong các năm đầu của thế kỷ 15.
Qua các
mẫu (lấy bằng máy khoan tay nhỏ vặn đục vào thân cây) từ 36 thân cây
Fokienia, nhóm nghiên cứu của ông Buckley đã tái tạo lại thời tiết chính
xác nhất trong quá khứ hơn 700 năm cách ngày nay cho đến tận thế kỷ 13. Kết
quả cho thấy có sự liên hệ (correlation) chặc chẻ giữa hạn hán trong vùng có
cây Fokienia sống ở lưu vực sông Cửu Long và mẫu hình thời tiết El Nino.
Nghiên
cứu của nhóm Buckley cho thấy có hai thời kỳ hạn hán kéo dài vào khoảng cuối
thế kỷ 14 (1362-1392) và đầu thế kỷ 15 (1415-1440), thời điểm mà vương quốc
giàu mạnh Khmer ở Angkor sụp đổ. Trong hai thời
kỳ này thì
giai đoạn
hạn hán rất nặng kéo dài nhiều thập kỷ là xảy ra vào đầu thế kỷ 15 với năm
nặng nhất là năm 1417.
Tra theo
sử liệu Việt Nam thì trong Đại Việt Sử Ký toàn thư (ĐVSKTT) (13) có nói là
năm 1392 có hạn hán ở Đại Việt. Lúc đó Đại Việt thời Hậu Trần chủ yếu là ở
vùng đồng bằng bắc bộ đến vùng đất mà Champa vừa mất là Quảng Trị và Thừa
Thiên (châu Ô và châu Rí). Trong các năm đầu thế kỷ 15, ĐVSKTT chỉ tập
trung nói về cuộc chiến tranh với quân Minh và khởi nghĩ Lê Lợi nên không có
chi tiết nào về tình hình kinh tế, xã hội.
Sau chiến
tranh, sử liệu lại nói nhiều về tình hình xã hội kinh tế. Hạn hán nặng nề
xảy ra trong các năm đầu 1430 đã được ghi trong ĐVSKTT. Năm 1434, vì hạn hán
đã nhiều năm, nhà vua (Lê Thái Tông) đã phải cầu mưa: “Mùa hạ, tháng 4, ngày
mồng 1, vua sai các quan rước
Phật chùa Pháp Vân ở Cát Châu về Đông Kinh để cầu mưa.”,
“Thả vài chục tên tù tội nhẹ vì hạn hán đã lâu.”, “Ngày 22, đặt đàn chay ở
điện Cần Chính, vì hạn hán hại lúa, sét đánh cháy thuyền”.
Sự kiện
hạn hán có ý nghĩa ra sao, ta hãy xem tiếp trong ĐVSKTT như sau:
.. Hành
khiển Nguyễn Trãi soạn xong tờ tâu, bọn Nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ và Học
sĩ Lê Cảnh Xước muốn đổi lại mấy chữ: Nguyễn Trãi giận nói: "Bọn các ngươi
là hạng bề tôi vơ vét, nạn hạn hán này là do các ngươi gây nên cả". Thúc Huệ
tố các với Đại tư đồ Sát và Đô đốc Vấn. Sát và Vấn tức lắm, trách Trãi rằng:
"Làm nên nỗi có thiên tai không phải là do lỗi của bọn ấy, lỗi ở vua và tể
tướng thôi, sao ông trách nhau quá như thế?".
.. Bấy
giờ, điều động thợ ở các cục tất tác làm chùa Báo Thiên. Công việc thổ mộc
rất nặng nề, Sư Đãng phải làm lụng vất vả, nói vụng rằng:
"Thiên tử
không có đức, để đến nỗi hạn hán. Đại thần ăn của đút, cử dùng kẻ vô công,
có gì là thiện đâu mà phải làm chùa to thế". Bị người cáo giác.
Đại
tư đồ Lê Sát giận lắm. Quan thẩm hình Nguyễn Đình Lịch nói: "Nó dám nói càn
đến việc nước, nên chém".
Năm 1437,
trong ĐVSKTT: “Hạn hán, hạ lệnh cho các lộ, huyện trong nước
làm lễ cầu mưa”,
“Tháng 6, hạn hán, có sâu hại lúa. Hạ lệnh cho các lộ, trấn làm lễ cầu mưa”,
“Mùa hạ, tháng 4, làm lễ cầu mưa
ở cung Cảnh Linh”, “Tháng 6, hạn hán, có sâu hại lúa. Hạ lệnh cho các lộ,
trấn làm lễ cầu mưa.”,
“Ngày Canh Ngọ, kinh sư có mưa, các quan đều chúc mừng, vua sai người đi các
lộ xem có mưa không. Ngày Tân Mùi, xuống chiếu rằng: Mấy năm nay hạn hán sâu
bọ xảy ra liên tiếp, tai dịch có luôn, phải bớt hình phạt, giảm thuế khóa,
để yên lòng dân.”.
Các nguồn
khác để xác định khí hậu (nhiệt độ hay lượng nước mưa) trong quá khứ là san
hô và thạch nhủ. Chúng được thành lập tích tụ qua nhiều ngàn năm trước đây ở
biển và trong các động đá vôi. Dữ kiện phân tích từ các thạch nhủ ở động
Vương Tường (Wangxiang) thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc (11) cho ta thấy chi
tiết về lịch sử khí hậu gió mùa trãi dài đến cách đây 1800 năm đến nay.
Những dữ kiện này phù hợp với dữ kiện từ cây Pơ Mu mà nhóm nghiên cứu của
ông Buckley. Cụ thể chi tiết từ thạch nhủ cho thấy hạn hán xảy ra ở nam
Trung Quốc trong các giai đoạn 860-930, 1340-1380, 1580-1640 trùng lúc với
sự sụp đổ của triều đại nhà Đường, nhà Nguyên và nhà Minh ở Trung Quốc.
Đại Việt
Sử ký cũng ghi là vào thế kỷ 16, đại hạn cũng xảy ra vào các năm 1585 đến
1589 và các năm 1595 đến 1599. Thí dụ như đoạn vào năm 1596: “..Bấy giờ đại
hạn, thóc lúa vụ chiêm đều không thu được, đầm phá khô cạn, cây cỏ úa vàng,
hoa không kết trái. Trộm cướp quần tụ trong dân gian, bọn lớn đến 7, 8 trăm
đứa, bọn nhỏ cũng không dưới vài trăm, ngày đêm đốt phá nhà cửa, cướp đoạt
của cải gia súc, thuỷ bộ không thông, đường sá bế tắc, dân đói nhiều, chết
đến quá nửa.”
Vào giữa
thế kỷ 18, cũng có một thời kỳ hạn hạn nặng kéo dài ít nhất 30 năm
(1750-1780). Tất cả các vương quốc ở vùng Đông Nam Á đều sụp đổ. Điều này
cho thấy sự thay đổi khí hậu đã ảnh hưởng nặng nề đến xã hội, kinh tế và
chính trị của các quốc gia trong vùng.
Trong các
khám phá gần đây về nguyên nhân các nền văn minh bị sụp đổ, nổi bật nhất là
sự sụp đổ của vương quốc cổ đại Ai Cập (Old Kingdom), Đế quốc Akkadian vùng
Mesopotamia cách đây 4200 năm (4200 BP) là do sự thay đổi khí hậu ở Bắc Phi
và Trung Đông do sự thay đổi bất thường của dòng nước nóng Gulf Stream ở Đại
Tây Dương gây ra hạn hán kéo dài nhiều năm. Các bia ký ở đền Luxor và tư
liệu viết trên đá ở đồi gần Aswan, các dấu vết thay đổi làng mạc cổ xưa thấy
được qua vệ tinh cùng các dữ kiến phân tích các cột đất lấy từ đáy biển gần
Oman (15).
Tương tự
như sự khám phá trên, sự khám phá của nhóm GAP và nhóm Buckley về nguyên
nhân của sự sụp đổ nền văn minh Angkor là một khám phá quan trọng trong
ngành khảo cổ và sử học ở Đông Nam Á. Cây thông Pơ Mu ở Vườn quốc gia
Bidoup-Núi Bà đã là một yếu tố quyết định trong sự khám phá này.
Thông lá dẹt (Pinus krempfii)
Các loài
thông (của chi Pinus), thuộc ngành (division) thực vật có hình chóp nón
(conifer), ở Bắc bán cầu thường không có ở các rừng mưa vùng nhiệt đới, vì
lá chúng không quang hợp hiệu quả đủ để cạnh tranh nổi với các loài thực vật
nhiệt đới khác. Trái lại các loài thông quả có cuống (podocarp), cũng thuộc
ngành có hình chóp nón ở Nam bán cầu thường được thấy trong các rừng mưa ẩm
ở New Zealand, Papua New Guinea, Chile, Tasmania, New Caledonia và các đảo ở
Thái Bình Dương. Tất cả các loài thông quả có cuống bắt nguồn từ siêu lục
địa cổ Gondwaland ở phía nam trước khi siêu lục địa này tách ra thành các
lục đia Phi Châu, Nam Mỹ, Australia, Ấn Độ và lục địa Nam Cực (Antarctica)
cách đây hơn 100 triệu năm.
Nhưng
thông lá dẹt (Pinus krempfii) là một ngoại lệ quan trọng. Được phát
hiện bởi nhà thực vật người Pháp H. Lecomte vào năm 1921. Thông lá dẹt là
loài thông duy nhất ở Bắc bán cầu có lá dẹt, thay vì lá nhọn (needle-leaf)
như mọi loài thông khác và duy nhất thích ứng với rừng nhiệt đới sống cạnh
tranh với các loài cây hạt kín (angiosperm) khác. Trong quá trình tiến hóa,
thông lá dẹt đã đi xuống phía nam xa nhất tạo được chổ đứng trong rừng mưa
nóng ẩm ở Lâm Đồng, nhưng dừng tại đây và không tiến được hơn nữa để hội
nhập với các loài thông Nam bán cầu. Có thể sự hiện diện của P. Krempfii
ở Lâm Đồng là hệ quả của một sự thay đổi khí hậu trong lịch sử trái đất.

(Thông lá
dẹt)
Gần đây
vào năm 2008, hai nhà thực vật người Australia, T. Brodribb và T. Field, ở
Đại học Tasmania đã nghiên cứu tính chất sinh lý quang hợp và chuyển nước
của lá thông lá dẹt. Kết quả cho thấy về phương diện sinh lý loài thông này
khác với mẫu hình phổ quát cần nhiều ánh nắng cho sinh lý quang hợp của các
loài thông lá nhọn (3). Theo ông Brodribb thì
“Sự
nghiên cứu của chúng tôi về cấu trúc và chức năng của lá thông P.
Krempfii cho thấy rất rõ là loài cây thông nhiệt đới phi thường này là
một loài có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong địa lý sinh học
(bio-geography) và tiến hóa của các loài sinh vật.
Chúng tôi
thấy rằng về đặc tính quang hợp, dẫn nước và cấu trúc hình thể, loài này
giống với loài thông quả có cuống (podocarp) ở Nam bán cầu hơn là loài thông
(ở bắc bán cầu)” (4).
Đây là
một kết quả thật là ngạc nhiên và hấp dẫn về một loài thông bắc bán cầu kỳ
lạ có mặt ở Lâm Đồng. Ta hãy tưởng tượng là bất ngờ tìm thấy trong rừng sâu
Tây Nguyên, ở các suối nước có những con thú vật tương tự như con “đuôi chồn
mỏ vịt” (platypus) của lục địa Australia bơi sống trong đó. Sự khám phá về
đặc tính và quá trình tiến hóa của loài thông lá dẹp cũng là một sự khám phá
bất ngờ và thảng thốt như vậy trong thế giới thực vật.
Ngoài
thông lá dẹt đặc hữu đặc biệt hết sức gây chú ý trong giới khoa học, còn có
cây bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis), cũng một loài đặc hữu quý hiếm
có nguy cơ tuyệt chủng (Critically Endangered) chỉ vừa mới được khám phá vào
năm 2001 trong vùng núi đá vôi Bát Đại Sơn, thuộc tỉnh Hà Giang giáp biên
giới Trung Quốc. Và cuối cùng là loài bách Đài Loan (Taiwania
cryptomerioides) hiếm trên thế giới mà trước đây chỉ được biết có ở Đài
Loan, Vân Nam ở vùng biên giới Miến Điện-Trung Quốc, được khám phá ở tỉnh
Lào Cai, Hoàng Liên Sơn năm 2001. Loài này hiện nay được xếp vào hạng có
nguy cơ tuyệt chủng và nằm trong Sách Đỏ Việt Nam
Cả ba
loài thực vật quý hiếm ở vùng núi này đã được tổ chức
Bảo tồn động thực vật quốc tế
(Fauna & Flora International, FFI)
coi là ba loài chính (flagship species) tượng trưng cho sự khuyến khích bảo
tồn rừng và đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Trong các
thập niên gần đây nhiều loài động vật và thực vật mới đã được khám phá ở
Việt Nam dọc trong các rừng sâu hẻo lánh dọc theo dãy Trường Sơn, cho thấy
vùng này có sự đa dạng sinh học rất cao và nhiều loài đặc hữu. Nhưng ngày
nay nhiều nơi rừng và các loài động thực vật đang bị đe dọa ngay cả trong
những vùng được coi là vườn quốc gia hay rừng bảo hộ. Cuộc sống của người
dân tộc bản địa cũng bị thay đổi, văn hóa có nguy cơ biến mất nhất là vùng
Tây Nguyên do sức ép dân số di dân từ các nơi khác đến khai thác lập nghiệp.
Ngay cả họ cũng bị áp lực của thị trường săn các thú rừng, gỗ quý hiếm cho
các lái buôn động vật hoang dã và lái buôn gỗ khi mà xưa kia theo truyền
thống họ không bao giờ khai thác thiên nhiên quá mức.
Tôi mong
rằng tất cả mọi chúng ta trong xã hội Việt Nam ý thức và bảo vệ môi trường
sống của sự đa dạng sinh học chứa đựng trong rừng mà hiện nay đang bị đe dọa
trầm trọng bởi con người đi đến khắp nơi để săn bắt, phá hủy ngay cả ở những
vùng hẻo lánh nhất còn lại trên đất nước.
Tham khảo
(1)
R. Stone (2009), Tree Rings Tell of Angkor’s Dying Days, Science, Vol. 323,
20 Feb. 2009, pp. 999.
(2)
A. Nelson (2009), The secret life of ancient trees, Christian Science
Monitor / November 10, 2009.
(3)
T.
Brodribb, T. Field (2008), Evolutionary significance of a flat-leaved Pinus
in Vietnamese rainforest, New Phytologist, Volume 178 Issue 1, Pages 201 –
209, 7 Jan 2008,
http://www3.interscience.wiley.com/cgi-bin/fulltext/119394701/PDFSTART.
(4)
The
needle and the damage done (2008),
http://www.utas.edu.au/events/Unitas/2008%20editions/Unitas321-July08.pdf
(5)
Masaki Sano, Brendan M. Buckley, Tatsuo Sweda (2009), Tree-ring based
hydroclimate reconstruction over northern Vietnam from Fokienia hodginsii:
eighteenth century mega-drought and tropical Pacific influence, J. of
Climate Dynamics, Volume 33, Numbers 2-3 / August, 2009, pp.
331-340.
(6)
A. Farjon, P. Thomas, Nguyen Duc To Luu (2004), Conifer conservation in
Vietnam: three potential flagship species, Oryx (2004), 38:3:257-265
Cambridge University Press
(7)
Nguyen Phi Truyen, T. Osborn (2006), Report on the trade and utilisation of
Fokienia hodginsii in Lao Cai and Son La provinces, northern Vietnam, http://www.globaltrees.org/downloads/Fokienia%20trade%20and%20use%20final%20report.pdf
(8)
B. Buckley , K. Anchukaitis, et al. (2009), Southeast Asian tree rings and
mega-droughts of the past millennium, in An International PAGES Workshop on
Climate Variability in the Greater Mekong River Basin: Paleo proxies
instrumental data and Model projections, DaLat 16-18 Feb. 2009,
http://bidoupnuiba.gov.vn/details_us.aspx?id=807&mod=9
(9)
R. D'Arrigo, R. Wilson et al. (2006), The reconstructed Indonesian warm
pool sea surface temperatures from tree rings and corals: Linkages to Asian
monsoon drought and El Niño–Southern Oscillation, Paleoceanography, 21,
PA3005, doi:10.1029/2005PA001256.
(10)
Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà,
http://bidoupnuiba.gov.vn/xemgioithieu_cq_us.aspx?id=1
(11)
Pingzhong Zhang, Hai Cheng, et al., A
test of climate, sun, and culture relationships from an 1810-year Chinese
cave record,
Science 322 (November 7, 2008).
(12)
R. Stone, Angkor, why an ancient
civilization collapsed, National Geographic, July 2009, pp. 32-54.
(13)
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Viện khoa học Xã
hội, Nxb Khoa học xã hội, 1993.
(14)
D. Evans,
C. Pottier, R. Fletcher et al, A comprehensive archaeological map of the
world’s largest preindustrial settlement complex at Angkor, Cambodia, PNAS,
Sẹp 4 2007, Vol. 104, no. 36, pp. 14277-14282.
http://www.pnas.org/content/104/36/14277.full.pdf
(15)
H. Dalfes,
G. Kukla, H. Weiss (ed.), Third Millennium BC Climate Change and Old World
Collapse: Its Impacts on the Old World Social Systems (NATO Series I, Global
Environmental Change), Springer-Verlag Telos (June 1997).
|