Những bài cùng tác giả
Công nghiệp khai thác mỏ là ngành kinh tế bao gồm công tác
thăm dò địa chất, khai đào đất đá lấy quặng và tinh lọc quặng để
có sản phẩm tinh chế dùng trong các ngành kinh tế khác. Vì là
đầu mối của mọi ngành công nghiệp, ngành khai thác mỏ giữ một
vai trò kinh tế xã hội chủ yếu. Tài nguyên khoáng sản ở nước ta
chưa được khai thác đúng mức và đúng cách. Chúng ta đang cần một
đội ngũ kỹ sư mỏ hùng mạnh để khai triển ngành này một cách tối
ưu và theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Muốn trở thành kỹ sư mỏ thì phải bắt đầu học những kiến thức
cơ bản về khoa học, kỹ thuật, quản trị và kinh tế[1].
Bài này chỉ là bài khai giảng cho một khoá cử nhân hay thạc sĩ
kỹ sư mỏ chúng tôi viết để giới thiệu với thanh niên Việt
Nam sự nghiệp và khó khăn của
ngành khai thác mỏ.
Chúng tôi sẽ trình bày những phương pháp khai thác mỏ, kinh
tế khai thác mỏ và phương pháp nghiên cứu khả thi một dự án khai
thác mỏ. Chúng tôi sẽ kết thúc bằng phân tích tình huống (case
study) khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên. Bài này dựa trên những
gì chúng tôi ghi chép thời còn đi học ở trường Ecole des Mines
de Paris và kinh nghiệm về tư vấn chiến lược công nghiệp. Chúng
tôi đã cập nhật những thông tin số liệu về kinh tế kỹ thuật từ
những tài liệu lưu trữ ở thư viện trường học cũ của chúng tôi,
trên mạng Internet và nhờ chỉ dẫn của một số Việt kiều chuyên về
sử học, môi trường thiên nhiên học và kinh tế học[2].
Phần I:
Những phương pháp khai thác mỏ
Đưa quặng ở dưới mặt đất đến trạng thái một kim loại hay một
khoáng sản làm thương phẩm trung gian có ích cho công nghiệp đi
qua bốn khâu: (a) đào mỏ, (b) xử lý đất đá có quặng, (c) phân
loại khoáng vật, (d) tinh chế sản phẩm. Mỗi khâu làm tăng thêm
giá trị của khoáng vật và xâm phạm thêm môi trường thiên nhiên.
Những phương pháp đào mỏ
Nếu cắt lớp đất dưới chân ta thì sẽ thấy những lớp đất chồng
chất lên nhau như là một miếng thịt ba chỉ: dưới một lớp đất mùn
cây liên tiếp có một số lớp đất đá. Mỗi lớp đất đá có thể dày từ
vài centimet đến vài trăm mét hay nghìn mét. Trong số lớp đất đá
đó có thể có những lớp chứa những khoáng vật có lợi ích kinh tế.
Một lớp đất đá như vậy chỉ được khai thác nếu đủ dày, có hàm
lượng quặng đủ cao và nằm không quá sâu dưới mặt đất.
Người ta có hai cách khai thác một khu mỏ: lộ thiên và đào
hầm. Những hình trong bài này chỉ có tính chất minh họa vì trong
những nhóm phương pháp khai thác đó còn có nhiều kiểu cách quy
hoạch: đào từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên, đào hầm từ
sườn núi hay đào giếng từ mặt đất, khai thác chỗ nào trước chỗ
nào sau,… Để chọn phương án quy hoạch tối ưu người ta dựa trên
những thông tin thăm dò địa chất và dùng những phép tính vận trù
(operations research) phức tạp[3].
Đào mỏ là một hoạt động ô nhiễm môi trường thiên nhiên và
nguy hiểm.
Dù quy hoạch khai thác thế nào chăng nữa đào mỏ là đụng đến
"long mạch", nghĩa đến hệ thống nước tự nhiên. Nếu nước chảy
trên mặt đất thì có thể dự báo luồng nước sẽ chảy về hướng mới
nào. Nhưng khó ai có thể biết những luồng nước ngầm ở đâu và
đoán trước được nước sẽ chảy đi đâu. Ngoài ra, những tảng đá bị
đập vỡ sinh ra những diện tích trao đổi hóa học và sinh học mới
giữa nước và khoáng vật. Khó ai biết hệ thống nước tự nhiên sẽ
có đặc tính hóa học và sinh học mới như thế nào.
Điều biết chắc là, sau khi một mỏ ngưng hoạt động thì cảnh
quan, môi trường thiên nhiên sinh thái và đời sống kinh tế xã
hội địa phương sẽ hoàn toàn khác hẳn xưa. Đó là một điều tốt hay
xấu tùy ở tình huống cá biệt của quy hoạch khai thác mỏ và
phương pháp hoàn thổ sau khi mỏ ngưng hoạt động.
Đào mỏ lộ thiên
Nếu lớp đất đá có quặng ở gần mặt đất hay ở dưới những lớp
đất đá
không có
quặng không dày lắm thì người
ta dùng phương pháp đào mỏ lộ thiên: cạo những lớp đất đá vô
quặng ở trên lớp có quặng rồi lấy đất đá có quặng để xử lý trích
quặng (hình 1 và 2). Đây là phương pháp thông dụng nhất.

Hình 1 – Phương pháp cạo
núi

Hình 2 – Phương pháp đào
rãnh
Đào mỏ lộ thiên sinh ra nhiều bụi.
Để giảm thiểu bất tiện đó thì người ta rào
công trường bởi một hàng bụi cây dày đặc và công nhân phải đeo
mặt nạ phòng bụi. Nhưng đeo mặt nạ thì cũng vẫn hít một lượng
bụi lớn. Những hạt bụi dính vào hốc phổi làm cho những tế bào ở
đó chết đi. Đó là bệnh silicosis mà, thời Pháp thuộc, dân quê
đồng bằng Bắc Bộ tưởng nhầm là bệnh lao khi đi làm phu ở các mỏ
than Quảng Ninh và bị mắc bệnh này. Dù với hàng rào cây đó hay
không, những vùng lân cận vẫn có bụi. Bụi bay trên trời và bám
vào nhà cửa, quần áo, bàn ghế, xe cộ… Bụi bám vào cây cỏ làm cho
thảo vật bạc mầu và héo. Con người và súc vật thở một không khí
nhiễm bụi và cũng mắc bệnh silicosis. Bụi xâm nhập vào chuỗi
thực phẩm vì rau quả bị nhiễm, gia súc bị nhiễm vì thở khí có
bụi và ăn cây cỏ bị nhiễm. Có công nhân mỏ về hưu vì mất sức lao
động chỉ còn có một nửa lá phổi để sống!
Ở những mỏ lộ thiên cảnh quan bị con người
thay đổi trầm trọng:
- dân địa phương phải dọn đi sinh sống ở
nơi khác,
- cây cối bị đốn để giải phóng địa bàn cho
công trường khai đào,
- một lượng lớn đất bị khai đào và chất
đống ở nơi khác.
Những phương pháp giảm thiểu những hậu quả
xấu đó:
- lưu trữ riêng đất mùn cây để sau này có
thể dùng để phủ lại những diện tích đã bị cạo trọc và trồng
lại cây đã bị đốn khi khu mỏ sẽ ngưng hoạt động,
- lưu trữ đất
đá không có quặng để sau này có thể đắp lại những nơi
đã bị khai đào,
- sau khi khai thác hết khu mỏ thì cải tạo
cảnh quan như cũ, phục hồi những sinh hoạt lâm nghiệp nông
nghiệp và, nếu có thể, phục hồi môi trường thiên nhiên sinh
thái hay tạo ra một môi trường thiên nhiên sinh thái khác
hài hòa với thiên nhiên.
Dù sao thì cũng không thể đắp lại được hết
tất cả những nơi đã bị khai đào. Quá lắm thì những chỗ trũng còn
lại có thể dùng làm hồ nuôi cá hay làm khu du lịch nghỉ dưỡng.
Đất đá bị đập vỡ không còn trạng thái đặc cứng xưa nên rừng sẽ
không mọc lại như xưa và đồng ruộng phải được canh tác theo lối
khác. Những dòng sông cũng như dòng nước ngầm cũng sẽ không chảy
như xưa nữa.
Đào mỏ hầm
Nếu lớp đất có quặng ở sâu dưới mặt đất thì
người ta dùng phương pháp đào hầm để bớt phải đào và vận chuyển
nhiều đất đá không có quặng
(hình 3).
Với phương pháp này, người ta đào hai cái
giếng ở hai đầu khu mỏ. Một giếng dùng để thổi gió thông hơi hầm
và một giếng dùng để thoát gió.
Dưới mặt đất, người ta đào một mạng đường hầm liên kết hai giếng
này. Hai giếng và mạng đường hầm cũng dùng để người lên xuống đi
lại và để vận chuyển khí cụ, vật liệu và đất đá.

Hình 3 – Phương pháp đào
hầm
So với những phương pháp lộ thiên, phương
pháp đào hầm xâm phạm môi trường thiên nhiên trên mặt đất ít hơn
vì ngoài đất của giếng và những đường hầm giao liên, người ta
chỉ đào và vận chuyển ra ngoài đất đá có quặng thôi. Nhờ đất mùn
cây ở nguyên tại chỗ, cảnh quan thiên nhiên bị xúc phạm ít hơn
và nếu bị xúc phạm thì phục hồi mau hơn. Nếu lớp
đất đá không có quặng ở trên
lớp đất đá có quặng rắn và dày thì cảnh quan ngoài trời không bị
ảnh hưởng gì đáng kể. Quá lắm thì những tường nhà có thể rạn
nứt.
Nhưng khi trần hầm sập thì mặt đất ở trên khu
mỏ có thể bị lún (hình 3b) làm nguy hại đến nhà cửa. Cả chục năm
sau khi khu mỏ đã được khai thác hết, trần hầm vẫn có thể tiếp
tục sập và nếu chưa sập thì vẫn còn khả năng một ngày nào đó sẽ
sập. Vì lý do an toàn diện tích đất ở trên một khu mỏ chỉ có thể
dùng để trồng rừng, làm ruộng và nuôi súc vật thôi.
Với phương pháp đào hầm thì bụi bị kìm hãm
trong hầm. Khói từ những công
cụ khai đào và khói từ những
chất nổ dùng để đập vỡ đất đá cũng bị kìm hãm trong hầm. Để giảm
thiểu những hậu quả xấu cho an toàn vệ sinh lao động người ta
phun nước gần nơi khai đào để cho bụi và khói mau lắng xuống
đất. Nhưng dù áp dụng những phương pháp này nồng độ bụi và khói
trong hầm vẫn cao hơn là ở ngoài trời nên tỷ lệ công nhân mỏ bị
silicosis và những bệnh của bộ hô hấp cao hơn là ở những mỏ lộ
thiên.
Môi trường thiên nhiên lao động trong hầm rất
nóng và ẩm. Khi xuống dưới lòng đất thì nhiệt độ tăng. Thêm vào
đó, những động cơ tỏa nhiệt mà nhiệt lượng không thể thoát đi
đâu được. Ở nhiệt độ cao, nước ngầm và nước mang từ bên ngoài
bốc hơi tạo ra một không khí có độ ẩm cao. Để công nhân có thể
thở và làm việc ở một nhiệt độ mà con người có thể chịu đựng
được, người ta thổi vào hầm gió đã được làm lạnh. Vì làm việc
nặng nhọc ở những nơi eo hẹp, nóng, ẩm và nguy hiểm hơn, tỷ lệ
công nhân bị tai nạn cao hơn là ở những mỏ lộ thiên. Đất đá rơi
từ trần hầm là nguồn tai nạn chính. Ở các hầm mỏ than lại còn có
nguy cơ khí methan nổ[4].
Những phương pháp xử lý đất
đá có quặng
Đất đá có quặng gồm bởi nhiều loại khoáng
vật. Để tách quặng khỏi những đất đá khác bao quanh, người ta
phải đập vỡ những cục đá có quặng. Những cục đá đó có thể được
lựa sơ bộ để loại những cục không có quặng.
Sau đó, người ta nghiền và sàng những cục đá
thành bột. Người ta nghiền đá nhuyễn tới một đường kính đủ nhỏ
đề mỗi hạt bột chỉ có duy nhất một loại khoáng vật. Trước khi
gửi đi nhà máy phân loại khoáng vật người ta kết tụ bột thành
những viên hay những khối để vận chuyển dễ dàng.
Quy trình nghiền và sàng đất đá tiêu thụ
nhiều năng lượng, rất ồn ào và sinh ra bụi. Làm việc thường
xuyên ở môi trường thiên nhiên ồn ào sẽ bị bệnh suy thính và có
thể bị điếc. Quy ra khối lượng đất đá được xử lý thì bụi sinh ra
ở khâu này dễ khống chế hơn ở khâu đào mỏ lộ thiên.
Để giảm thiểu những hậu quả xấu này,
- công nhân phải đeo mảnh che tai chống
tiếng động và mặt nạ chống bụi,
- những máy đập và những máy nghiền sàng
phải có bộ lọc bụi,
- công xưởng có những cỗ máy này cũng phải
có hệ thống thông gió trang bị bộ lọc bụi.
Tuy nhiên, dù có những thiết bị đó, những
vùng lân cận vẫn ồn ào, bụi bậm và tỷ lệ công nhân bị suy thính
và mắc bệnh silicosis vẫn cao hơn ở những ngành công nghiệp
khác.
Những phương pháp phân loại
khoáng vật
Hàm lượng quặng trong những viên bột có thể
rất ít, tỷ dụ vàng trong cát sỏi, nhưng có thể lên tới 70/80
phần trăm với trung bình là non 40 phần trăm. Người ta sàng lọc
những viên bột quặng bằng cách lợi dụng những khoáng vật có khả
năng hút nước, tỷ trọng, tĩnh điện tính, từ tính và/hay khả năng
bị hòa tan khác nhau.
Nước bám vào một viên bột làm cho tỷ trọng
trung bình của viên bột đó thay đổi. Sau khi nghiền đất đá có
quặng thành bột, đổ bột vào một thùng nước, khuấy hỗn hợp đó và
để lắng một hồi thì những viên bột tách ly tùy theo tỷ trọng
trung bình của chúng. Sau đó chỉ cần hút hỗn hợp nước và bột ở
tầng có quặng. Nếu nước không tách ly những khoáng vật khác nhau
một cách đủ rõ rệt thì có thể pha thêm vào nước một vài chất hóa
học như oxalic acid, xanthate hay dithiophosphate. Những chất
hóa học này có tác động thay đổi tỷ trọng của nước và tỷ số tẩm
ướt (dampening index) của nước với diện tích những hạt khoáng
vật.
Khi chạy một máy lắc, máy xoắn, hay máy ly
tâm thì những viên bột khoáng vật tách ly tùy theo tỷ trọng của
chúng. Khi đổ bột đất đá có quặng không dẫn điện vào một thùng
có điện tích thì những viên khoáng vật khác nhau sẽ tách ly tùy
tĩnh điện tính của chúng. Khi đổ bột đất đá có quặng trên một
xylanh đang quay đã được từ hóa thì những khoáng vật có từ tính
khác nhau sẽ tách ly tùy từ tính của chúng.
Tất cả những phương pháp phân loại khoáng vật
kể trên đều dùng nhiều nước. Sau khi lọc những viên bột quặng
vẫn còn ướt. Sau khâu tách ly, người ta sấy bột bằng cách thổi
khí nóng để cho bột ráo. Quy trình sấy này thải ra nhiều khí có
bụi có chứa chất hóa học và cũng tiêu thụ nhiều năng lượng. Với
công nghệ hiện đại, người ta đốt nhiên liệu không hoàn nguyên và
sinh ra dioxyd carbon, một khí có hiệu ứng nhà kính. Lượng khí
này đáng kể nhưng ít hơn nhiều so với lượng khí rất lớn sinh ra
từ những khí cụ đào mỏ, vận chuyển vật liệu và đập vỡ đất đá.
Dù không dùng phương pháp hòa tan khoáng vật,
người ta cũng thường thêm vào nước ít nhiều chất hóa học tạo ra
một dung dịch hóa học. Một số khoáng vật có thể hòa tan trong
dung dịch đó và một số khác lắng xuống đáy thùng phản ứng. Sau
khi lọc dung dịch để tuần hoàn, người ta đổ bùn trong một hồ
nhân tạo hay một chỗ trũng chờ cho chất lỏng vẫn còn bám vào
những vật liệu rắn bốc hơi. Sự có mặt của hồ chứa là một nguy cơ
cho sức khỏe và môi trường vì nước
đọng trong ao tù là nơi sinh sản của những côn trùng.
Chất lỏng với những chất hoá học độc hại trong hồ có thể chảy ra
ngoài vòng kiềm chế của nhà máy, gây lụt và ô nhiễm hóa học
những vùng lân cận nếu:
- hồ chứa không đủ lớn để chứa tất cả nước
mưa lũ,
- đê đập hồ chứa bị vỡ vì đã không được
thiết kế kỹ và được xây dựng kiên cố,
- lòng hồ chứa không được lát bằng một lớp
không thấm bền vững để cho bùn thấm vào lòng đất.
Một khi ô nhiễm như vậy rồi thì đất sẽ trở
nên vô sinh không còn cây cỏ nào mọc ở đó nữa và nếu có thảo vật
mọc được thì cây cỏ bị nhiễm độc, sinh vật ăn cây cỏ đó cũng sẽ
bị nhiễm và, theo chuỗi thực phẩm, con người cũng bị nhiễm lây.
Sau khi khu mỏ ngưng hoạt động những hóa chất
và vật liệu nguy hiểm khác vẫn còn ở dưới lòng hồ thể hiện một
đe dọa về y tế. Sau khi khô thì những vật liệu đó sẽ thành bụi
và có thể bị gió thổi đi xa. Để chống lại rủi ro này, sau khi hồ
cạn thì người ta phủ mặt hồ với một tấm vải nhựa và lấp ở trên
một lớp đất đá.
Những phương pháp tinh chế
sản phẩm
Một khoáng vật có thể tự nhiên ở trạng thái
nguyên chất ròng như là carbon (kim cương), lưu huỳnh, vàng,
đồng, platinium,… Sau khi tinh luyện, những khoáng vật đó có thể
được dùng ngay làm nguyên liệu cho công nghiệp. Đại đa số khoáng
vật khác ở trạng thái hỗn hợp các phân tử silicate, carbonate,
sulfate, halide, oxyd, sulfid, phosphate hay hữu cơ. Những kim
loại thường ở trạng thái oxyd và sulfid. Một số nhỏ ở trạng thái
chlorid.
Tùy khoáng vật và tùy điều kiện kinh tế địa
phương, người ta tinh chế sản phẩm theo một chuỗi quy trình xử
lý hỏa luyện (pyrometallurgy), thuỷ luyện (hydrometallurgy) và
điện luyện (electrometallurgy).
Nói chung về ô nhiễm môi trường thiên nhiên
thì:
- phương pháp hỏa luyện sinh ra nhiều bụi
trộn với sulfur dioxyd và carbon dioxyd, hai khí có hiệu ứng
nhà kính,
- phương pháp thuỷ luyện ô nhiễm khí quyển
ít hơn nhưng đặt vấn đề xử lý nước thải tương tự như ở khâu
phân loại khoáng vật,
- phương pháp điện luyện tiêu thụ rất
nhiều điện và quy tụ những phiền phức của hai phương pháp
trên nhưng ít hơn so với khối lượng được xử lý.
Sau khi tinh chế cơ bản như kể ở trên thì có
kim loại ở trạng thái bột, chất xốp hay tảng vẫn còn chứa nhiều
chất bẩn. Để đạt những tiêu chuẩn về độ tinh chế theo đòi hỏi
của công nghiệp người ta dùng nhiều phương pháp tinh chế vật lý
và hóa học khác. Sau khi đạt được độ tinh chế đó, người ta cũng
có thể trộn những kim loại khác nhau để có những hợp kim có đặc
tính cơ học và hóa học theo đòi hỏi của công nghiệp. Sau những
khâu xử lý cuối cùng đó thì công ty khoáng sản có thể đưa ra thị
trường những thương phẩm trung gian dưới đủ mọi hình dáng: những
cuộn dây, những tấm tôn, những tấm mỏng hay dày, những thanh dài
và những thỏi.
Hạ tầng hậu cần và công
nghiệp phụ trợ
Một dự án khai thác mỏ cần nhiều hạ tầng hậu
cần và công nghiệp phụ trợ.
Chi phí vận tải trong dây chuyền khai thác
mỏ, xử lý đất đá, phân loại quặng và tinh chế sản phẩm lớn so
với giá trị của thương phẩm vì:
- nơi khai thác mỏ và nơi chế biến quặng
hay khoáng sản cách xa nhau,
- quặng, khoáng vật, dù đã được phân loại,
và sản phẩm, dù đã được tinh luyện, là những sản phẩm quy ra
trọng lượng và khối lượng có giá trị thương mại rất thấp.
Để giảm thiểu chi phí vận tải, người ta cố
gắng tìm cách xử lý đất đá ngay tại nơi khai thác mỏ, phân loại
khoáng vật gần nơi khai thác mỏ và tinh chế sản phẩm ở ngay bên
cạnh nhà máy phân loại khoáng vật. Tỷ dụ những tổ hợp gang thép
đã được thành lập tại Lorraine, bên Pháp, hay Ruhrgebiet, bên
Đức, những vùng khi xưa có những mỏ sắt và mỏ than. Cũng để giảm
thiểu chi phí vận tải người ta ưu tiên dùng những phương tiện rẻ
nhất khi phải xuất khẩu quặng hay khoáng vật: đường sắt từ khu
mỏ đến hải cảng gần nhất rồi đường thuỷ đến nơi nhận. Tỷ dụ, ở
Mauritania, người ta xây 650 km đường sắt để cho mỗi ngày một
đoàn tầu gồm ba đầu tầu và 200 toa tầu chở được 24.000 tấn
quặng sắt từ mỏ Kedia d'Idjil đến cảng Casado. Ở nước nhập khẩu,
người ta tìm cách đặt những nhà máy chế biến ở bến cảng tiếp
nhận những quặng hay khoáng vật. Vì thế mà người ta lập khu gang
thép ở hải cảng Fos, đầm Etang de Berre, miền Nam nước Pháp, để
chế biến thép từ quặng sắt chở từ Mauritania và Nam Mỹ đến. Cũng
vì thế mà xung quanh Etang de Berre có tới ba nhà máy lọc dầu,
một trạm cuối tiếp nhận khí tự nhiên từ cảng Skida, bên Algeria,
một nhà máy nhiệt điện lớn và vô số nhà máy hoá chất tiêu thụ
phụ phẩm của các nhà máy kia.
Hệ thống hậu cần này đơn giản:
- bên nước xuất khẩu thì có một đường sắt,
một ống dầu hay một ống khi tự nhiên nối liền khu mỏ với một
hải cảng,
- bên nước nhập khẩu cũng lại có một đường
sắt, một ống dầu hay một ống khí tự nhiên nối liền hải cảng
với khu công nghiệp chế biến,
- và ở giữa là một đội tầu chuyên môn chở
hàng rời với những kho bãi và thùng chứa.
Nhưng vì trọng lượng và khối lượng phải vận
chuyển lớn, hệ thống hậu cần này phải có công suất lớn hơn nhiều
hệ thống hậu cần của những ngành sản xuất khác.
Như viết ở những phần trên, ngành khai thác
mỏ cần đến hoá chất và nhiều năng lượng. Năng lượng trong ngành
khai thác mỏ thường là điện và năng lượng hoá thạch. Vậy khi
thiết kế một dự án khai thác mỏ thì phải tính thêm những cơ sở
sản xuất những hoá chất và năng lượng đó. Tỷ dụ, trong chuỗi xử
lý bauxite thành nhôm thì có một khâu cần đến hydroxyd natrium
nên một nhà máy điện phân bauxite thành nhôm phải được kèm thêm
một nhà máy hoá chất này.
Trong quy trình xử lý, hoá chất thường được
tuần hoàn, tức là dùng lại.
Nhưng nhu cầu về hoá chất vẫn còn lớn để thay thế những lượng bị
thất lạc trong quy trình tuần hoàn hay trong những quy trình chế
biến khác. Nếu không có nguồn hoá học tại chỗ thì phải nhập từ
xa đến.
Năng lượng hoá thạch và hoá chất có thể mang
từ xa đến những nhà máy xử lý khoáng sản. Nhưng điện thì phải
sản xuất tại chỗ. Nếu không có điện với giá rẻ thì chỉ có cách
là chở quặng đến một nơi khác có giá điện rẻ. Vào thập niên
1960, người ta xây một nhà máy luyện nhôm ở Mourenx, miền Tây
Nam nước Pháp, để lợi dụng nguồn điện sản xuất từ một mỏ khí tự
nhiên gần đó. Sau khi nguồn khí tự nhiên đó cạn nhà máy điện
ngưng hoạt động. Người ta xây lại một nhà máy luyện nhôm lớn hơn
tại Dunkerque, miền Bắc nước Pháp, và xây một nhà máy điện hạt
nhân để cung cấp điện cho nhà máy luyện nhôm. Người ta xây hai
nhà máy này ở bờ biển và xây thêm một hải cảng riêng để bớt phải
vận chuyển bauxite được mang đến bằng tầu thuỷ.
Cung cấp những hoá chất và năng lượng đó sinh
ra ô nhiễm. Hai nguồn ô nhiễm quan trọng này cộng với những
nguồn ô nhiễm chúng tôi kế ở những phần trên làm cho ngành khai
thác mỏ là ngành công nghiệp ô nhiễm nhiều nhất quy ra giá trị
của sản phẩm cuối cùng.
Khai thác mỏ là ngành công nghiệp cần đến
nhiều hạ tầng hậu cần với công suất cao và những nguồn năng
lượng dồi dào, đặc biệt là điện. Đào mỏ xâm phạm nặng đến môi
trường thiên nhiên. Lao động trong ngành khai thác mỏ nguy hiểm
và có thể mắc nhiều bệnh trong đó bệnh silicosis là chính. Đời
sống của dân xung quanh cũng bị ảnh hưởng bởi bụi, khói và tiếng
động do công trường và những nhà máy sinh ra.
Các kỹ sư mọi ngành chuyên môn đều có nhiệm
vụ chế tạo những sản phẩm kinh tế quốc dân cần đến mà cùng lúc
vẫn phải bảo đảm an toàn lao động, an toàn vệ sinh y tế của
người dân và toàn vẹn môi trường thiên nhiên. Nhưng, từ thời
tiền sử khi nhân loại bắt đầu khai thác mỏ cho tới nay, an toàn,
vệ sinh, y tế và môi trường thiên nhiên vẫn là những vấn đề lớn
mà những người khai thác mỏ phải đương đầu.
Phần II: Kinh tế ngành khai thác mỏ
Trong phần trước chúng tôi đã trình bày những
khía cạnh kỹ thuật, an toàn, vệ sinh, y tế và môi trường thiên
nhiên của ngành mỏ. Những vấn đề đó ảnh hưởng đến kinh tế và
chiến lược kinh doanh của ngành.
Trong phần này chúng tôi xin trình bày tình
hình kinh tế ngành khai thác mỏ trên thế giới, đặc biệt ở những
nước nghèo xuất khẩu khoáng sản và ở Việt Nam.
Kinh tế mỏ thế giới
Những đặc điểm của ngành khai thác mỏ
Đặc điểm quan trọng của ngành khai thác mỏ là
giá vật phẩm biến đổi ở một phạm vi lớn. Tỷ dụ từ giữa năm 2008
đến cuối năm 2008, giá trung bình mỗi quý của nhôm niêm yết trên
sàn LME (London Metal Exchange) mất một phần ba, giá
đồng mất một nửa, giá chì và
giá kền bị giảm hai phần ba,...
(bảng 1)
[5].
Ngày 16 tháng năm 2007 một tấn kền trị giá 54.200 USD và
một năm rưỡi sau, ngày 24 tháng mười 2008, chỉ còn có 8.810 USD[6].
Bảng 1.
Biến chuyển giá kim loại trung bình từng quý niêm yết trong
năm 2008

Đặc điểm thứ hai là, khi xưa, ngành khai thác mỏ cần nhiều
nhân công. Xí nghiệp khai thác mỏ chỉ mua thể lực chứ không cần
đến tri thức của người lao động. Bây giờ thì ngành này được cơ
giới hóa. Xí nghiệp khai thác mỏ cần đến một số nhỏ nhân công mà
họ đào tạo để vận hành và bảo trì những phương tiện khai đào,
vận chuyển và xử lý đất đá.
Đặc điểm thứ ba là:
- Sau khi phân loại đất đá thì chỉ có một chủng loại sản
phẩm gọi là quặng.
- Nhiều quặng chứa nhiều khoáng vật có giá trị kinh tế
khác nhau đều có giá trị kinh tế. Gần như tất cả các quặng
đó đều có sắt ở trạng thái sulfid. Sau khi phân loại quặng
thì có thể có một, hai hay ba khoáng vật khác nhau. Tỷ dụ
quặng kền thường cũng là quặng cobalt hay trong cùng một
loại quặng có thể có bốn kim loại như là đồng, kẽm, chì và
bạc.
- Sau khi được tinh chế thì mỗi khoáng vật sẽ được biến
chế thành kim loại dưới nhiều chủng loại hợp kim và được đúc
và cán thành nhiều dạng khác nhau: những thỏi lớn hay nhỏ,
những tấm dày hay mỏng, những thanh có mặt cắt khác nhau,
những chất đốt với đủ loại chỉ số octane và chất phụ gia.
- Từ mỗi dạng đó có thể sản xuất vô số sản phẩm trung gian
và sản phẩm cuối cùng. Số những sản phẩm này chỉ có trí sáng
tạo của con người hạn chế.
Trên phương diện kinh doanh có ba phương pháp để khắc phục
khó khăn tiêu biểu của ngành khai thác mỏ:
- Vật giá niêm yết biến đổi mau và mạnh và nhu cầu đầu tư
vào những phương tiện sản xuất tốn kém, ngành khai thác mỏ
cần nhiều vốn cố định và vốn lưu hành.
- Càng đi sâu vào những khâu biến chế thì càng có nhiều
chủng loại sản phẩm. Dó đó, kinh doanh càng gần sản phẩm
cuối cùng bao nhiêu thì hoạt động và tình hình tài chính
càng ổn định bấy nhiêu.
- Hoạt động ở nhiều nước khác nhau thì biến động chính trị
ở một nước sẽ tương đối sinh ra ít hậu quả xấu hơn cho tập
đoàn.
Những tập đoàn khai thác mỏ quốc tế
Vì những đặc điểm kể trên những xí nghiệp khai thác mỏ nhỏ
hoặc đã phá sản hoặc đã sáp nhập với nhau để thành những tập
đoàn khổng lồ. Những tập đoàn đó có xu hướng tích phân hóa theo
chiều dọc (vertical integration) từ khâu khai thác mỏ đến khâu
tinh chế quặng thành nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác và
trở nên những tập đoàn khoáng sản chứ không còn là những xí
nghiệp chỉ khai thác mỏ nữa. Họ có chi nhánh hoạt động ở khắp
các nước. Những cổ phiếu của họ được niêm yết ở tất cả những thị
trường chứng khoán quan trọng trên thế giới. Vì thế người ta chỉ
có thể xác định nước đặt trụ sở chứ không thể nói đến quốc tịch
của một tập đoàn được.
Ba tập đoàn khoáng sản có vốn niêm yết lớn nhất thể giới là
BHP Billiton, Rio Tinto và Anglo American.
BHP Billiton là tập đoàn khoáng sản và kim loại lớn nhất thế
giới. Trụ sở đặt tại Melbourne, Australia. Năm
2001 tập đoàn được thành lập do sáp nhập công ty BHP (Broken
Hill Proprietary, thành lập năm 1885) và công ty Billiton (thành
lập năm 1860). Tập đoàn tác động trên thị trường sắt, kim cương,
than, dầu khí, nhôm, đồng, kền và uranium.
Rio Tinto là kết quả của sự sáp nhập năm 1962
của công ty Rio Tinto (thành lập năm 1873) và công ty
Consolidated Zinc Corporation (thành lập năm 1905). Trụ sở đặt
tại hai nơi: một ở London, Anh Quốc, và một ở Melbourne,
Australia. Tập đoàn tác động trên thị trường nhôm, đồng, kim
cương, than, uranium, vàng, khoáng chất công nghiệp (borax,
titan, muối, đá tan) và quặng sắt. Mấy năm gần đây, tập đoàn này
đã mua lại nhiều công ty nhôm nên nợ quá nhiều. Để có thể trả
nợ, hội đồng quản trị tập đoàn đã phải chấp nhận công ty nhôm
Trung Quốc Chinalco góp 19,5 tỷ USD tiền mặt để tăng phần cổ
đông từ 9% lên 18%. Khi chúng tôi đang viết những dòng này, hai
công ty đang chờ cổ đông của hai bên chuẩn y thỏa thuận này.
Anglo American được thành lập năm 1917. Trụ sở đặt tại
London, Anh Quốc. Tập đoàn tác động trên thị trường platin, kim
cương, kim loại mầu, kim loại đen, than và những khoáng sản công
nghiệp khác. Với những khó khăn kinh tế hiện nay, Anglo American
dự định sa thải 19.000 nhân viên để giảm chi phí điều hành 2 tỷ
USD mỗi năm.
Năm 2007, kết quả điều hành của ba tập đoàn này có thể coi
trên bảng 2. Điều đáng chú ý là tỷ số lãi trên doanh số rất cao.
Như vậy có nghĩa là phần để lại cho địa phương hay quốc gia chủ
nhà không có là bao. Nhưng, với suy thoái kinh tế ở các nước
công nghiệp, những lãi đó có nguy cơ biến thành lỗ trong những
năm tới.
Bảng 2.
Kết quả kinh doanh của ba tập đoàn khoáng sản lớn nhất
|
Số nhân viên |
Doanh số
(tỷ USD) |
Lãi
(tỷ USD) |
Tỷ số
lãi/doanh số
(%) |
BHP
Billiton |
36.000 |
59,5 |
15,4 |
25,9 |
Rio
Tinto |
32.000 |
33,5 |
7,7 |
23,0 |
Anglo American |
209.000 |
25,5 |
8,2 |
32,2 |
(Nguồn:
BHP Billiton, Rio Tinto và Anglo American) |
Tác động của Trung Quốc
Để thỏa mãn nhu cầu sản vật (commodities) và nhờ khối ngoại
tệ thặng dư lớn, Trung Quốc đang sử
dụng nhiều biện pháp nhằm kiểm soát những nguồn tài
nguyên tự nhiên của thế giới.
Đối với những nước nghèo Trung
Quốc phân phát Tài trợ Trực tiếp Chính thức (ODA,
Official Direct Assistance) với điều kiện duy nhất là phải cắt
đứt mọi liên hệ ngoại giao với Đài Loan. Trung Quốc xây hạ tầng
cơ sở cho những nước đó để đổi lấy quyền gửi người Hoa sang khai
thác mỏ và dầu khí mang về nước. Ngoài ra Trung Quốc không dòm
ngó gì đến bản chất trong sạch và dân chủ của chính quyền các
nước nhận trợ cấp[7].
Mô hình hợp tác quốc tế đó tương tự như là mô hình khai thác
thuộc địa. Những khoáng sản và dầu khí được mang về chế biến
tiếp ở Trung Quốc. Phần giá trị gia tăng do những nước được
hưởng tài trợ không có là bao nhiêu so với phần của các xí
nghiệp ở Trung Quốc. Nhờ nhập khẩu ồ ạt quặng bauxite và quặng
sắt Trung Quốc đã trở thành nước xuất siêu về nhôm và kim loại
đen[8].
Khi thấy làm ăn lỗ lã ở đất người, vài doanh nhân người Hoa ăn
quỵt thuế và lương công nhân của nước chủ nhà chạy trốn về nước.
Tỷ dụ gần đây dư luận quốc tế xôn xao chuyện bốn chục chủ nhân
lò luyện đồng người Hoa bên Cộng hòa Dân chủ Congo (Congo Cựu
Bỉ) bỗng dưng biến đi đâu mất mà không để lại địa chỉ liên lạc.
Đối với những nước giầu, Trung Quốc tìm cách có chân trong
hội đồng quản trị những tập đoàn khoáng sản quốc tế. Phương pháp
thứ nhất là họ vơ vét những cổ phiếu niêm yết trên các sàn giao
dịch chứng khoán quốc tế. Phương pháp thứ hai là họ bỏ vốn vào
những tập đoàn khoáng sản gặp khó khăn tài chính phải tìm thêm
vốn mới. Từ một năm nay, ngoài chuyện Chinalco đầu tư 19,5 tỷ
USD vào
vốn của Rio Tinto đã kế trên, chúng tôi ghi nhận ít nhất những
chuyện sau đây từ những phương tiện truyền thông chuyên môn về
khai thác mỏ:
- China Minmetals muốn đầu tư 1,7 tỷ USD vào vốn của công
ty kẽm Oz Minerals có trụ sở ở Australia,
- Hunan Valin Iron & Ore mua cổ phần trị giá 0,77 tỷ USD
của tập đoàn Australia chuyên về xuất khẩu quặng sắt,
- China National Petroleum Corp. mua với giá 0,39 tỷ USD
công ty Verenex Energy có trụ sở đặt tại Calgary, Canada,
- China Petroleum & Oil Corp. hùn với China Development
Bank đầu tư 10 tỷ USD vào Petrobas, một công ty dầu quốc
doanh Brazil, để đổi lấy quyền được mua của công ty này
160.000 thùng dầu mỗi ngày trong 20 năm,
- Chính quyền Bắc Kinh đồng ý cho Rosneft, một công ty dầu
Nga, vay 15 tỷ USD và Transneft, công ty đặt đường ống tải
dầu lớn nhất của Nga, vay 10 tỷ USD, để đổi lấy quyền được
mua của các công ty này 300.000 thùng dầu mỗi ngày cũng
trong 20 năm.
Nhiều nước bắt đầu nghi ngờ bản chất thân thiện của chính
sách đầu tư và hợp tác kinh tế Trung Quốc. Chính phủ Australia
và chính phủ Hoa kỳ đang tìm cách ngăn cản những công ty Trung
Quốc tham gia vào vốn những tập đoàn có trụ sở đặt tại nước họ.
Chính phủ Brazil cũng bắt đầu quan tâm đến việc này[9].
Cả tới ở Việt Nam, dự án khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên chung
với Trung Quốc đang đang gây tranh cãi trong giới gần gũi với
chính quyền. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phải lên tiếng[10].
Kinh tế khai
thác mỏ những nước xuất khẩu khoáng sản
Quan trọng kinh tế mỏ ở những nước nghèo
Nhiều người tưởng rằng các nước giầu chiếm đoạt tài nguyên
khoáng sản các nước nghèo để phát triển công nghiệp của họ. Điều
đó không đúng mấy. Năm 2005 những nước giầu (chủ yếu những nước
Bắc Mỹ) sản xuất 29% quặng sắt, 43% đồng, 28% vàng, 30% kền, 36%
kẽm và 36% bauxite. Họ không cần đến khoáng sản của những nước
nghèo để phát triển kinh tế của họ.
Về trữ lượng tài nguyên thì những nước giầu có khả năng tài
chính và kỹ thuật để thăm dò địa chất lãnh thổ họ. Hàng năm, 80%
vốn đầu tư thăm dò địa chất mỏ tập trung vào chỉ có bốn nước
Canada, Hoa kỳ, Australia và Nam Phi, bốn nước giầu xuất khẩu
khoáng sản. Vì thế, hai phần ba trữ lượng khoáng sản có giá trị
thương mại nằm ở lãnh thổ những nước giầu. Hầu hết trữ lượng của
các nước nghèo đã được phát hiện từ thời những nước đó là thuộc
địa của những nước giầu. Khi họ giành được độc lập thì họ không
có khả năng nhân lực, vật chất và tài chính để tìm kiếm thêm.
Những nước nghèo (thu nhập đầu người dưới 1.000 USD mỗi năm)
chỉ đóng góp chừng một phần tư vào tổng lượng khoáng sản ngoài
khoáng sản năng lượng của thế giới. Nhưng có một số nước nghèo
chỉ có tài nguyên khoáng sản để xuất khẩu. Trên bảng 3, chúng
tôi xin nêu một số thí dụ[11].
Bảng 3. Tỷ
số kim ngạch xuất khẩu khoáng sản một số quốc gia và vùng
lãnh thổ
Quốc gia và
vùng lãnh thổ |
Khoáng sản
xuất khẩu
chủ yếu |
Sản lượng
2006
(1.000 tấn) |
%
sản lượng
thế giới |
%
kim ngạch
xuất khẩu
(a) |
Niger |
Uranium |
3,43 |
7,4 |
40 |
Jamaica |
Bauxite |
14.865 |
7,7 |
55 |
Guinea |
Bauxite |
18.140 |
9,4 |
57 |
Zambia |
Đồng |
502 |
3,3 |
70 |
Papua New Guinea |
Đồng |
194 |
1,3 |
81 |
New
Caledonia |
Nickel |
103 |
6,7 |
94 |
Mauritania |
Sắt |
11.155 |
0,6 |
95 |
(nguồn:
BGS và USGS)
(a)
Tỷ số, bao gồm tất cả các loại khoáng sản gom từ nhiều
nguồn.
(b) Tất cả những khoáng sản xuất khẩu. |
Sự tùy thuộc vào xuất khẩu khoáng sản đến độ đó không cho
phép những nước nghèo kế hoạch hóa phát triển kinh tế dù ở ngắn
hạn được. Để bảo đảm nguồn tài chính gần như là duy nhất đó,
những nước đó phải có một chính thể chuyên chế ngăn cản mọi rối
ren xã hội. Một chính thể chuyên chế sinh ra tham nhũng, giai
cấp cầm quyền chiếm đoạt tài sản của dân và công lao của người
lao động. Giai cấp này có thể thông đồng với những công ty khai
thác mỏ siêu quốc gia để khai thác tài nguyên tự nhiên. Nước đã
nghèo mỗi năm lại càng nghèo hơn.
Bệnh Hoà Lan
So với các nước nghèo khác, các nước nghèo sống chủ yếu nhờ
tài nguyên khoáng sản[12]:
- có tỷ số nợ quốc tế trên sản lượng quốc nội cao hơn,
- khả năng đa dạng hóa xuất khẩu rất kém hơn,
- tăng trưởng sản xuất lương thực thấp hơn (từ 1970 đến
1976 tăng trưởng là 2,6% mỗi năm thay vì 3,4%),
- nhập khẩu lương thực nhiều hơn,
- tỷ số trẻ em được đi học thấp hơn.
Những nhận xét trên thể hiện của bệnh Hòa Lan. Theo Corden và
Neary[13]
khi thu nhập nhờ tài nguyên tự nhiên trở nên quan trọng thì vốn
đầu tư sẽ ưu tiên đổ vào ngành khai thác tài nguyên đó làm cho
các ngành kinh tế khác suy thoái vì thiếu vốn phát triển. Hiện
tượng này được gọi là bệnh Hòa Lan (Dutch Disease). Hai tác giả
này khám phá ra bệnh Hòa Lan khi nghiên cứu phát triển công
nghiệp Hòa Lan sau khi nước này bắt đâu khai thác mỏ khí tự
nhiên của nước họ: những nguồn tài chính ưu tiên chảy vào ngành
khí tự nhiên vì lúc đó ngành này sinh lợi nhiều hơn là các ngành
khác. Để tránh bệnh Hòa Lan, người ta rút lãi thặng dư của ngành
khai thác tài nguyên tự nhiên để bỏ vào một quỹ phát triển những
ngành kinh tế khác hay để dùng khi tài nguyên đó cạn hết. Một
nước nghèo không có khả năng tích tụ vốn như thế nên mắc bệnh
Hòa Lan và không thể ngóc đầu lên được nữa khi tài nguyên tự
nhiên không còn nữa.
Tình trạng của những nước đó bi đát đến nỗi trong giới chuyên
gia khai thác mỏ người ta thường nói "Tài nguyên khoáng sản
là một tai họa cho các nước nghèo". Thí dụ thảm thương nhất
là Cộng hoà Nauru.
Năm 1968, khi Australia trao độc lập thì tương lai đảo quốc
này sáng lạn. Nauru có 13 770 dân sống trên một hòn đảo rộng
21,7 kilômét vuông. Thực ra đảo Nauru là một quả núi phosphat,
một khoáng sản dùng làm phân bón cho nông nghiệp. Nhờ tài nguyên
đó, năm được độc lập, thu nhập mỗi người Nauru lớn gấp ba lần
thu nhập của người Hoa Kỳ, chỉ thua có người Koweit. Vào thời
cao điểm, năm 1990, đảo xuất khẩu 1,7 triệu tấn phosphat. Nhưng
kinh tế chỉ dựa vào nguồn tài nguyên duy nhất này. Dân và chính
quyền đảo không khai triển ngành kinh tế nào khác, tiêu xài
phung phí mà không nghĩ tới tương lai. Năm 2003 thì nguồn
phosphat cạn hết. Để có ngoại tệ, chính phủ Nauru đã phải sai
dân mót tận thu những tụ quặng còn lại và nhặt sỏi đá ở bờ biển
làm hàng xuất khẩu, thiết lập ngoại giao với Đài Loan đổi lấy
viện trợ, cho Australia thuê mặt bằng quản thúc những người nhập
cư bất hợp pháp, bán sổ thông hành nhà nước, cho phép mở ngân
hàng có mục đích rửa tiền bất lương,...
Nạn khoáng tặc
Một nước nghèo mà không có một nhà nước pháp quyền thì có
thêm nạn khoáng tặc.
Nhận thấy chính quyền và các công ty ngoại quốc khai thác tài
nguyên thì dân nghèo cũng tìm cách nhặt mót ở quy mô nhỏ. Ở
Nigeria người ta đục ống dẫn dầu để ăn cắp nhiên liệu. Ở nhiều
nước, những toán năm sáu đến một trăm người khai đào trái phép
những mỏ nhỏ, ăn cắp quặng và bán lậu quặng sang những nước láng
giềng. Vì làm ăn trên quy mô nhỏ, an toàn lao động không được
bảo đảm, môi trường thiên nhiên không được tôn trọng. Ở Trung
Quốc, tuần lễ nào cũng có một tai nạn mỏ. Ở lưu vực sông Amazon,
đặc biệt ở Guyana, những sông bị nhiễm bởi thủy ngân do những
khoáng thuế cho Nhà nước hợp pháp. Quen làm ăn ngoài vòng pháp
luật, chúng tụ tập thành băng đảng, nhờ lính đánh thuê bảo vệ
nguồn lợi tức cho chúng, gây rối ren và không chấp hành lệnh của
Nhà nước hợp pháp. Những băng đảng đó có thể liên kết với nhau
để trở thành những đoàn quân đánh mướn tư dưới sự chỉ huy của
một sứ quân. Mọi người còn nhớ đến chiến tranh Biafra bên
Nigeria hay biết đến những rối ren bên Cộng hòa Dân chủ Congo
(nguyên Congo thuộc Bỉ) từ khi nước này độc lập. Năm 2006, ở
Bolivia có trận ẩu đả giữa thợ mỏ tranh giành quyền khai thác một
mỏ thiếc. Trận ẩu đả này gây ra 16 người chết và 60 người bị
thương. Tổng thống Morales phải gửi 700 quân nhân đến dẹp yên[14].
Có khi có sứ quân khoáng tặc có khả năng đe dọa chính quyền
trung ương như ở Tchad, Rwanda, Venezuela hay Bolivia. Trong
lịch sử cận đại, nhân vật nổi tiếng nhất là Mobutu Sese Seko
Kuku Ngbendu wa Za Banga. Mobutu khi xưa là một sứ quân Katanga,
đã ám sát bộ trưởng Patrice Lumbumba và lật đổ Joseph Kasa Vubu,
vị tổng thống đầu tiên của nước Congo độc lập. Mobutu nắm quyền
chuyên chính và khai thác tài nguyên Congo làm sở hữu riêng từ
1965 đến 1997, năm hắn bị Laurent Désiré Kabila, một sứ quân
khác, lật đổ.
Việt Nam cũng có nạn khoáng tặc. Theo báo chí trong nước,
khoáng tặc lộng hành ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Ninh Thuận và Lâm
Đồng[15].
Có khi chúng đương đầu bằng khí giới với lực lượng biên phòng[16].
Một Bí thư Tỉnh ủy và thân nhân của vị này bị đe dọa ám sát[17].
Trong sử sách nước ta, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có
ghi thời vua Lê Hiển Tông, chúa Trịnh Doanh, "người nhà Thanh"
sang khai thác mỏ ở những tỉnh thượng du phía Bắc gây biến loạn.
Quan quân triều đình điều 17 cơ đội đi dẹp nhưng đi nửa đường
thì chạy về viện cớ là Trịnh Doanh băng hà[18].
Cho tới nay khoáng tặc ở Việt Nam chỉ là một phiền phức nhỏ có
thể dẹp yên dễ dàng khi nào chúng ta thanh toán được nạn tham
nhũng và thực thi nhà nước pháp quyền.
Kinh tế khai thác mỏ Việt Nam
Vấn đề quan trọng là vị trí ngành khai thác mỏ trong kinh tế
xã hội. Trên phương diện này, mặc dù là một nước hãy còn nghèo,
tình trạng nước ta không bi đát như những nước nghèo kể ở phần
trên. Tài nguyên khoáng sản của chúng ta rất đa dạng. Theo Bộ
Công thương, chúng ta gần 5.000 mỏ và điểm quặng với 60 loại
khoáng sản khác nhau. Bảng 4 cho thấy, ngoài quặng sắt và
bauxite, trữ lượng mỗi khoáng sản không có là bao nhiêu và những
tài nguyên đó vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng
và sức mạnh của kinh tế Việt Nam.
Bảng 4. Trữ lượng tài nguyên và sản lượng khoáng sản Việt Nam
|
Trữ lượng[19]
(1.000 tấn) |
Sản lượng
2006[20]
(1.000 tấn) |
Tăng trưởng
trung bình từ 2002 (%/năm) |
% sản lượng
thê giới |
Sắt |
663.000 |
510 |
4,3 |
0,08 |
Bauxite |
2.300.000 |
30 |
10,1 |
0,01 |
Thiếc |
83,6 |
3,5 |
18,1 |
1,09 |
Titan |
34.500 |
150,5 |
4,6 |
8,96 |
Vàng (a) |
35.000 |
2.500 |
5,6 |
0,13 |
Than |
6.600.000 |
38.900 |
21,6 |
0,63 |
Apatit |
1.669.000 |
1.122 |
11,2 |
0,87 |
(Nguồn: Bộ Công Thương và USGS)
(a) Trữ lượng và
sản lượng tính bằng kg) |
Việt Nam có hai tập đoàn khoáng sản:
- Tập đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) khai
thác những mỏ dầu và mỏ khí tự nhiên,
- Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), khai thác
những mỏ khoáng sản khác.
Tất cả vốn của hai tập đoàn này hoàn toàn trong tay của Nhà
nước. Tuy nhiên, những công ty con có thể liên doanh với các
công ty tư nhân Việt Nam hay ngoại quốc. Cả hai tập đoàn đều có
chức năng thăm dò tiềm năng trữ lượng và chế biến khoáng sản đến
dạng sản phẩm tinh chế các ngành kinh tế khác có thể dùng làm
nguyên liệu. Doanh số của cả hai đều chủ yếu ở trong ngành năng
lượng. Do đó hai tập đoàn này
cũng sản xuất điện làm phụ phẩm. Các ngành luyện kim, phân bón
và hóa chất khác dự kiến sẽ trưởng thành mạnh trong vài năm tới
với những dự án hàng tỷ USD đang khai triển hay đang nghiên cứu:
những dự án gang thép Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Vũng Áng (Khánh
Hòa), dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nhà máy phân đạm Cà
Mau,...
Ngoài việc tuân theo những quy định về kinh doanh, lao động
và bảo vệ môi trường thiên nhiên, những công ty khoáng sản cũng
phải tuân theo những văn bản pháp quy sau đây:
- Luật Khoáng sản (không có số) ngày 20 tháng 03 năm 1996
và Luật sửa đổi 46/2005/QH11, ngày 14 tháng 06 năm 2005, bổ
sung một số điều của Luật Khoáng sản.
- Nghị định 160/2005/NĐ CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 "Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản".
Mới đây, ngày 22 tháng 01 năm 2009, chính phủ ban hành Nghị
định số 07/2009/NĐ CP ngày "Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 160/2005/NĐ CP". Khi đang viết những dòng này
thì nghị định này chưa được đưa lên mạng Interrnet của Hệ thống
Văn bản Quy phạm Pháp luật. Theo Ông Lê Ái Thụ, Trưởng phòng
Pháp chế, Cục Địa chất khoáng sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường,
thì nghị định định rõ hơn một số quy định thi hành Luật Khoáng
sản nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước, bảo đảm khai thác
hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước[21].
Vì phải đặt gấp nền móng cho một nhà nước pháp quyền, những
văn bản pháp quy Việt Nam thường được bổ sung và sửa đổi liên
tục. Luật Khoáng sản ban hành năm 1996 đã được sửa đổi năm 2005.
Trước Nghị định 160/2005/NĐ CP (ban hành năm 2005) thì có Nghị
định 76/2000/NĐ CP (ban hành năm 2000) và sau đó là Nghị định
76/2000/NĐ CP (ban hành đầu năm nay). Chúng tôi khuyên những
doanh nhân nên theo dõi thường xuyên những biến đổi trên trạm
Internet "Hệ thống Văn bản Quy phạm Pháp luật" của chính
phủ[22].
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì từ mười năm nay công
nghiệp Việt Nam tăng trưởng đều đặn 14,5 phần trăm mỗi năm với
xu hướng tăng tốc (bảng 5). Nếu nhìn về chi tiết thì ngành khai
thác mỏ tăng trưởng ít hơn và có xu hướng giảm tốc. Ngoài ra tỷ
trọng ngành này trong toàn bộ các ngành công nghiệp chỉ chiếm có
6,5 phần trăm, đặc biệt ngành khai thác quặng kim loại cho tới
nay chỉ chiếm một phần không đáng kể. Ngành này có xu hướng tăng
tốc, nhưng nhịp tăng trưởng vẫn còn kém hơn tăng trưởng của tất
cả các ngành công nghiệp khác[23].
Bảng 5.
Công nghiệp Việt Nam
|
Sản
lượng năm 2007 |
Tăng
trưởng (%/năm) |
(tỷ VNĐ 1994) |
(%) |
1997 2007 |
2002 2007 |
Tổng
số công nghiệp |
570.771 |
100,0 |
14,5 |
15,6 |
Công
nghiệp khai thác |
36.903 |
6,5 |
7,0 |
3,9 |
Khai thác than |
7.632 |
1,3 |
12,3 |
17,4 |
Khai thác dầu thô và khí tự nhiên |
23.987 |
4,2 |
5,2 |
0,1 |
Khai thác quặng kim loại |
557 |
0,1 |
11,7 |
13,7 |
Khai thác đá và mỏ khác |
4.728 |
0,8 |
10,4 |
8,8 |
Công
nghiệp chế biến |
501.301 |
87,8 |
15,4 |
17,1 |
Sản
xuất và phân phối điện, khí đốt và nước |
32.567 |
5,7 |
13,5 |
12,9 |
(Tính từ
số liệu của TCTK) |
Theo những số liệu nêu
trên, cho tới nay công nghiệp đã tăng trưởng mạnh mặc dù ngành
khai thác mỏ vẫn còn yếu. Dù dầu hỏa đã đem đến một nguồn tài
chính đáng kể cho ngân sách nhà nước nhưng nói chung số liệu
trên cho thấy công nghiệp Việt Nam không cần đến ngành này để
tiếp tục phát triển. Quá lắm
là chúng ta dựa vào tài nguyên tiềm tàng về quặng bauxite và
quặng sắt để tăng tốc một chút nhịp phát triển kinh tế.
Tóm lại, nhìn về khía cạnh kinh tế
ngành khai thác mỏ thì:
(a) ngành này đã bị các tập đoàn
siêu quốc gia chi phối, đặc biệt những tập đoàn Trung Quốc vừa
lớn vừa có khả năng tài chính và quyết tâm thống trị thị
trường sản vật thế giới,
(b) những nước nghèo chọn xuất
khẩu khoáng sản đã để cho những ngành kinh tế khác suy thoái,
mắc bệnh Hòa Lan đến nỗi không còn khả năng nhóc đầu lên được
nữa.
Việt Nam đang ở giai đoạn không
còn là một nước nghèo mà vẫn chưa phải là một nước giầu, có một
chút tài nguyên khoáng sản chưa được khai thác đúng tiềm năng mà
kinh tế vẫn phát triển mạnh. Chọn khai triển ngành khai thác mỏ
để tăng tốc phát triển kinh tế là một quyết định chiến lược có
thể dẫn nước ta mau chóng lên hàng một cường quốc công nghiệp
như Canada hay Australia nhưng cũng rất có thể vĩnh viễn biến
nước ta thành một nước nhược tiểu.
Phần III:
Nghiên cứu khả thi một dự án đầu tư lớn
Trong phần I, chúng tôi đã trình bày những khía cạnh kỹ thuật
và bảo vệ an toàn, vệ sinh, y tế và môi trường thiên nhiên của
ngành mỏ. Trong phần II, chúng tôi đã trình bày tình hình kinh
tế ngành khai thác trên thế giới.
Số những dự án đầu tư ở nước ta có
thể tính tới là vô tận. Chúng ta không thể thực hiện ngay
lập tức tất cả được và vấn đề đặt ra cho chúng ta là[24]:
- tại sao chúng ta lại thực hiện một dự án khai thác mỏ mà
không thực hiện một dự án công nghiệp, nông nghiệp hay dịch
vụ khác?
- tại sao chúng ta lại khai thác mỏ bauxite thay vì khai
thác mỏ một loại quặng khác ?
- tại sao lại khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên thay vì
khai thác một mỏ bauxite ở nơi khác, nước khác?
- tại sao lại khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên bây giờ mà
không khai thác vào một thời điểm khác?
- tại sao lại khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên với đối tác
này mà không khai thác với một đói tác khác?
- tại sao …?
Để có thể trả lời những câu hỏi thuộc loại này chúng tôi sẽ
trình bày phương pháp luận nghiên cứu khả thi chung cho mọi dự
án, dù có phải là dự án khai thác mỏ hay không. Sau đó chúng tôi
sẽ kết thúc với tình huống mỏ bauxite và công nghiệp nhôm để cho
thấy phương pháp luận để tìm giải đáp cho những vấn đề công
nghiệp của ngành nhôm cũng chung cho mọi ngành công nông nghiệp.
Nghiên cứu khả thi phía xí nghiệp đầu tư
Nghiên cứu khả thi một dự án khai thác mỏ gồm nghiên cứu
thiết kế kỹ thuật và nghiên cứu lợi nhuận tài chính. Nghiên cứu
kỹ thuật tùy ở tình huống cá biệt của dự án. Còn nghiên cứu lợi
nhuận tài chính thì mỗi tập đoàn khoáng sản có một trình tự tiêu
chuẩn nhưng những trình tự của tất cả các tập đoàn trên thế giới
đều dựa trên lưu lượng tài chính. Lưu lượng tài chính là hiệu số
của tổng tất cả những thu nhập trừ
tổng tất cả những chi tiêu.
Nghiên cứu chi tiết một dự án lớn huy động nhiều chuyên gia
trong một thời gian lâu, có khi tới hai ba năm, và rất tốn kém,
khoảng 0,5 đến 2 phần trăm giá trị của dự án và một dự án thì
tính bằng tỷ USD. Để tránh tiến hành vô ích, công trình nghiên
cứu đó người ta chia công trình nghiên cứu khả thi một dự án
khai thác mỏ làm ba giai đoạn: ước lượng tầm vóc của khu mỏ
(preliminary studies hay là scoping studies), nghiên cứu khả thi
sơ bộ (pre feasibility studies) và nghiên cứu khả thi chi tiết.
Sau mỗi giai đoạn có quyết định nghiên cứu tiếp hay không (go no
go decision).
Quyết định này chủ yếu tuỳ ở tỷ số lợi nhuận dự báo: ban giám
đốc xí nghiệp sẽ tiếp tục nghiên cứu khai triển dự án nếu tỷ số
lợi nhuận đủ cao so với những dự án khác. Thực ra thì ai cũng
biết rằng những dự báo bao giờ cũng sai vì chỉ có thể tính được
trong một độ chính xác (accuracy)
nào đó. Nhưng, mặc dù chính xác đến
đâu, quyết định nghiên cứu tiếp hay không và thực hiện dự
án hay không đều do ban giám đốc xí nghiệp tin tưởng tỷ số lợi
nhuận dự báo sẽ bền vững hay không.
Ước lượng tầm vóc là định giá ban đầu của nguồn khoáng vật và
vốn đầu tư cần thiết. Mục đích là quyết định có nên thăm dò địa
chất thêm để thiết lập một phương án khai thác hay không. Ước
lượng này dựa trên những mỏ tương tự đang được khai thác trên
thế giới. Tỷ số lợi nhuận (rate of
return) không chính xác mấy, sai số khoảng chừng 40/50 phần
trăm.
Nghiên cứu khả thi sơ bộ, còn gọi là nghiên cứu tiền khả thi,
đi thêm vào chi tiết dựa trên nghiên cứu thiết kế những hạng mục
lớn của dự án. Mục đích là có nên tiếp tục nghiên cứu chi tiết
hơn hay không. Tỷ số lợi nhuận ở giai
đoạn này chính xác khoảng 20/30 phần trăm.
Nghiên cứu khả thi chi tiết nghiên cứu phương án khai thác
khu mỏ và tất cả những hạng mục của dự án nếu dự án được đưa vào
thực hiện và dẫn tới quyết định thực hiện hay không thực hiên dự
án. Tỷ số lợi nhuận chính xác tới
10/15 phần trăm. Một dự án khai thác mỏ thường kéo dài
hàng chục năm, thậm chí hơn nửa thế kỷ. Khoảng cách thời gian
này đủ dài để có thể điều chỉnh dự án khi có thông tin
chính xác và chi tiết hơn hay
khi điều kiện kinh tế thay đổi. Vậy
độ chính xác này đủ để làm cơ sở quyết định thực hiện dự
án hay không.
Phương pháp tính tỷ số lợi nhuận một dự án khai thác mỏ không
khác gì phương pháp tính cho những dự án khác: từ lộ trình đầu
tư và khai thác người ta dùng những phép tính toán học tài chính
để suy ra lưu lượng tài chính (financial
flow) theo thời gian, tích tụ
lưu lượng tài chính theo thời gian (value of financial flows
accumulated over time) và tỷ số lợi nhuận từ lưu lượng tài chính
của mỗi giai đoạn dự án. Dùng tích tụ lưu lượng tài chính thì
công việc tính toán bớt công phu và kết quả tính toán chính xác
hơn một cách đáng kể.
Hàm số tích tụ lưu lượng tài chính theo thời gian, biểu diễn
lộ trình đầu tư và khai thác. Hàm số này là một thành phần quan
trọng của báo cáo nghiên cứu khả thi. Hàm số được biểu thị bằng
một đường cong tương tự như đường cong ABCDE của hình 4. Trên
hoạ đồ hình 4, hoành độ là thời gian, tung độ là tích tụ lưu
lượng tài chính và đường cong ABCDE, biểu thị biến thiên của hàm
số lộ trình. Trong bài này chúng tôi gọi tắt hàm số tích luỹ lưu
lượng tài chính theo thời gian là hàm số lộ trình và đường biểu
thị của hàm số đó là đường biểu thị lộ trình

Hình 4.
Lộ trình đầu tư và khai thác
Đường cung AB thể hiện giai đoạn đầu tư.
Những hạng mục đang được lắp đặt, mỏ chưa đạt công suất thiết
kế, xí nghiệp chi nhiều hơn là thu. Ở điểm B, hoành độ TB, tung
độ V, chi và thu cân bằng nhau. Tung độ V là vốn ban đầu của dự
án. Giới chuyên gia gọi V là "vé vào cửa" của dự án vì phải có
vốn tối thiểu V thì mới thực hiện được dự án.
Đường cung BC thể hiện giai đoạn hoàn vốn của
dự án. Những hạng mục đã được lắp đặt hết hay gần hết, mỏ đã đạt
hay bắt đầu đạt công suất thiết kế. Nhờ sản xuất đã khởi đầu, xí
nghiệp chi ít hơn là thu. Điểm hoành độ C gọi là thời hạn hoàn
vốn (pay back time), nghĩa là lúc chủ đầu tư đã thu lại hết
những khoản tài chính chi ra để thực hiện dự án. Thời hạn vốn là
một điểm rất quan trọng: khi cần so sánh sơ bộ những dự án với
nhau, dự án nào có thời hạn hoàn vốn ngắn nhất là dự án hay
nhất.
Đường cung CD thể hiện giai đoạn sinh lợi của
dự án. Những hạng mục đã được lắp đặt hết hay gần hết. Xí nghiệp
chỉ có chi phí vận hành. Đạo hàm của hàm số lộ trình giảm theo
thời gian tới thời điểm TD. Lúc đó tích tụ lưu lượng tài chính
đạt tối đa biểu thị bởi điểm D vì:
- lúc ban đầu xí nghiệp chi ít về bảo trì,
- sau đó chi phí bảo trì tăng vì những
thiết bị trở nên cũ cần được xửa chữa hay thay thế, ngoài ra
xí nghiệp phải phòng chống ô nhiễm môi trường thiên nhiên
mỗi ngày mỗi nhiều hơn,
- rút cục, khi trữ lượng mỏ gần cạn, ngoài
việc bảo trì và thay thế thiết bị và phòng chống ô nhiễm, xí
nghiệp phải bắt đầu hoàn thổ để sửa soạn ngưng hoạt động.
Đường cung DE thể hiện giai đoạn cuối cùng
của hoạt động khai thác mỏ khi trữ lượng khoáng sản bắt đầu cạn
hay đã cạn. Thu hoạch của xí nghiệp kém hơn là chi phí hoàn thổ
nên tích tụ lưu lượng tài chính giảm. Hoành độ T thể hiện thời
điểm xí nghiệp trả lại mặt bằng đã được tái thiết. Tung độ L thể
hiện tổng số lãi của xí nghiệp sinh ra từ hoạt động khai thác
mỏ. Để đối phó tình trạng đó xí nghiệp khai thác mỏ thường lập
sẵn một tài khoản tích tụ một phần của lề khai thác mỏ khi hãy
còn ở giai đoạn lưu lượng tài chính tăng.
So với phương pháp tính tỷ số lợi nhuận từ
những lưu lượng tài chính mỗi giai đoạn của dự án thì phương
pháp tính từ tích tụ lưu lượng tài chính chỉ cần đến những trị
số V, L, TB, C, TD và T nên san trơn những biến đổi ngắn hạn của
giá khoáng sản niêm yết trên thị trường quốc tế và, suy ra, tỷ
số lợi nhuận được tính một cách thực tế hơn
và chính xác hơn.
Nghiên cứu khả thi phía
nước chủ nhà
Mục đích của nước chủ nhà là chọn dự án tốt
nhất trong số những dự án các xí nghiệp đầu tư trình. Một dự án
tốt là một dự án thỏa mãn hai điều kiện: "tuân theo toàn bộ pháp
quy nước chủ nhà" và "công minh hai bên đều có lợi". Đối với một
quốc gia như Việt Nam muốn trở thành một cường quốc công nghệ
tiên tiến thì có thêm điều kiện thứ ba là "đóng góp vào tiến bộ
công nghệ nước chủ nhà".
Để xét một cách khách quan, nước chủ nhà cần
có những trình tự viết sẵn về phương pháp nghiên cứu khả thi và
bảng kiểm tra (check list) kê sẵn những điểm cần phải xét mà xí
nghiệp đầu tư phải tuân theo. Để đảm bảo công trình nghiên cứu
hồ sơ có chất lượng, những trình tự và danh sách này phải được
viết trước khi nghiên cứu một dự án và phải được áp dụng chung
cho tất cả các dự án xin đầu tư vào tất cả các ngành công nghiệp
cũng như nông lâm nghiệp. Lãnh đạo bộ phận nghiên cứu khả thi
phải quan tâm đến việc các cấp dưới áp dụng chung cho tất cả
những dự án và thường xuyên kiểm tra điều này đã được tuân theo.
Tốt nhất là Bộ Công nghiệp và Bộ Kế hoạch và
Đầu tư viết chung một Sổ tay Bảo đảm Chất lượng của công tác
nghiên cứu hồ sơ xin đầu tư. Chúng tôi đề nghị Sổ tay viết theo
tiêu chuẩn ISO 9001 và viết một Sổ tay cho những dự án phải
trình lên chính phủ và một Sổ tay cho những dự án địa phương có
thể xét được.
Tuân theo toàn bộ pháp quy của nước chủ
nhà
Điều kiện "tuân theo toàn bộ pháp quy nước
chủ nhà" là một điều hiển nhiên đối với một quốc gia có nhà nước
pháp quyền. Công việc đầu tiên của ban nghiên cứu hồ sơ xin phép
khai thác mỏ của nước chủ nhà, mà trong bài này chúng tôi gọi
tắt là ban nghiên cứu, là kiểm tra xem tất cả những điều mô tả
dự án có thích ứng với bộ pháp quy nhà nước không.
Phương pháp giản dị nhất là ban nghiên cứu đã
có sẵn một bảng kiểm tra chung cho tất cả những dự án lớn. Bảng
đó liệt kê tất cả những đòi hỏi ghi trong bộ pháp quy nhà nước
và đã được thiết lập trước khi bắt đầu nghiên cứu hồ sơ cuả tất
cả các xí nghiệp đầu tư. Đối với ngành mỏ ở Việt Nam bộ pháp quy
nhà nước bao gồm luật kinh doanh, luật lao động, luật bảo vệ môi
trường và luật khoáng sản cùng với các nghị định hướng dẫn thi
hành.
Hồ sơ phải có trình tự kiểm tra thực hiện
những cam kết vả quy định xử lý mọi tình huống xí nghiệp đầu tư
không tôn trọng những cam kết sau khi xí nghiệp đầu tư được cấp
phép đầu tư. Mọi thiếu sót hay không rõ phải được giải quyết
thoả đáng. Khi nghiên cứu hồ sơ, tốt nhất là những người trách
nhiệm phần này không gặp mặt đại diện xí nghiệp đầu tư và chỉ
trao đổi với họ bằng công hàm. Tại các nước, vấn đề công chức
rất nhạy cảm thì danh tính người này không được công bố và tất
cả những nhân viên thuộc bộ phận này đều được chỉ định trên các
văn kiện là "người phụ trách hồ sơ XYZ".
Để tiến hành phần nghiên cứu này ban nghiên
cứu phải có những người am hiểu các phiên bản mới nhất về pháp
quy và phương cách kinh doanh quốc tế.
Công minh hai bên đều có lợi
Một dự án không công minh hai bên đều có lợi
sẽ không thể thực hiện được hay sẽ chấm dứt trước kỳ hạn nếu đã
bắt đầu thực hiện. Nếu bên nước chủ nhà không nhượng bộ để xí
nghiệp đầu tư có một dự án với tỷ số lợi nhuận đủ cao thì xí
nghiệp đó sẽ chọn đầu tư vào một dự án khác ở một nước khác.
Ngược lại, nước chủ nhà cũng có khả năng thương lượng với một
đối tác khác vì không có lý do gì lại để cho một xí nghiệp chiếm
phần lớn lợi nhuận của dự án.
Hàm số lộ trình là công cụ hữu hiệu để ban
nghiên cứu xét xem dự án hội đủ hai điều kiện kể trên và xí
nghiệp đầu tư có khai đúng thực tế hay không.
Để dùng công cụ này thì ban nghiên cứu cũng
phải tự lập một hàm số lộ trình như chính mình là xí nghiệp đầu
tư và dựa trên những cam kết đầu tư và khai thác của xí nghiệp
đầu tư. Sau đó ban nghiên cứu so sánh hàm số lộ trình của ban
nghiên cứu với hàm số của xí nghiệp đầu tư (hình 5).

Hình 5.
So sánh lộ trình đầu tư và khai thác
Tỷ dụ hàm số lộ trình của ban nghiên cứu hồ
sơ nước chủ nhà được biểu thị bởi đường biểu thị I của hình 5.
Nếu trên họa đồ các đường biểu thị lộ trình của hai bên gần
giống nhau thì ban nghiên cứu hồ sơ nước chủ nhà có thể tiếp tục
nghiên cứu thêm. Nhưng nếu đường biểu thị của xí nghiệp đầu tư
khác với đường biểu thị của ban nghiên cứu thì có thể có một
trong hai tình huống biểu hiện bằng hai đường biểu thị II và
III. Khác biệt biểu hiện một hồ sơ không thực tế. Chuẩn y một hồ
sơ không thực tế sẽ dẫn tới một dự án ngưng trước thời hạn vì xí
nghiệp đầu tư sẽ không thể hay không muốn thực hiện những gì đã
cam kết trong hồ sơ.
Hai trường hợp có thể xảy ra:
(a) Đường biểu thị
II. So với đường biểu thị I của ban nghiên cứu, đường biểu thị
của xí nghiệp đầu tư giống như đường biểu thị II và so với tính
toán của ban nghiên cứu có ít nhất một số hiện tượng sau đây:
- vốn đầu tư V ít
hơn,
- thời gian hoàn
vốn C ngắn hơn,
- đạo hàm ở các đường
cung BC và CD lớn hơn,
- không có đường
cung DE hay đường cung đó nhỏ hơn,
- lãi thể hiện bởi
tích tụ tài chính L lớn hơn,
- suy ra, tỷ số lợi
nhuận của dự án cao hơn.
Rất có thể xí nghiệp đầu
tư khai man so với hồ sơ trình ban nghiên cứu: thiết bị cũ, công
nghệ lạc hậu và/hay không dự trù đủ chi phí bảo vệ an toàn vệ
sinh, y tế và môi trường thiên nhiên và chi phí hoàn thổ theo
pháp quy của nước chủ nhà.
(b) Đường biểu thị III.
So với đường biểu thị I của ban nghiên cứu, đường biểu thị của
xí nghiệp đầu tư giống như đường biểu thị III và so với tính
toán của ban nghiên cứu có ít nhất một số hiện tượng sau đây:
- vốn đầu tư V nhiều
hơn,
- thời gian hoàn vốn C lâu hơn,
- đạo hàm ở các đường cung BC và CD nhỏ
hơn,
- đạo hàm của đường cung DE lớn hơn,
- lãi thể hiện bởi tích tụ tài chính L nhỏ
hơn,
- suy ra, tỷ số lợi nhuận của dự án thấp
hơn.
Xí nghiệp đầu tư có thể đã tô điểm một hồ sơ
không thực tế bằng cách thổi phồng vốn đầu tư, thời gian hoàn
vốn, chi phí bảo vệ an toàn vệ sinh, y tế và môi trường thiên
nhiên và chi phí hoàn thổ. Mục đích là cho thấy đã "tuân theo
toàn bộ pháp quy của nước chủ nhà" và có khi đã tự đặt những quy
định khắt khe hơn quy định nước chủ nhà để được thiện cảm của
ban nghiên cứu và/hay để có cớ xin thêm ưu đãi.
Để thực hiện phần nghiên cứu này ban nghiên
cứu phải có những người am hiểu ngành thiết kế công nghiệp, luôn
luôn trau dồi kiến thức về các ngành công nghiệp và có kỹ năng
thương lượng với doanh nhân ngoại quốc.
Đóng góp vào tiến bộ công nghệ nước chủ
nhà
Điều kiện "đóng góp vào tiến bộ công nghệ
nước chủ nhà" rất quan trọng cho một nước đang nhôi lên muốn trở
thành cường quốc công nghệ tiên tiến:
- xí nghiệp sẽ chuyển cho nước chủ nhà
những bí quyết tay nghề (know how) nào và những bí quyết đó
có thể dùng vào những ngành khác nào,
- xí nghiệp đầu tư sẽ tham gia vào đào tạo
bao nhiêu tay nghề ở trình độ nào và những tay nghề đó có
thể dùng vào những ngành khác nào.
Điểm thứ nhất có thể nói tắt là nước chủ nhà
muốn được chuyển giao công nghệ tân tiến nhất, rẻ tiền nhất và
bảo vệ hữu hiệu nhất an toàn vệ sinh, y tế và môi trường thiên
nhiên. Như mọi vấn đề kỹ thuật, ba điều kiện mâu thuẫn với nhau.
Mỗi bên đòi hỏi và nhượng bộ gì tuỳ ở cán cân thương lượng
(bargaining power):
- nước chủ nhà cần gì, thiếu gì, có thể
trả bao nhiêu và có bí quyết tay nghề nào để trao đổi,
- xí nghiệp đầu tư sẵn sàng nhượng bộ đến
đâu so với những dự án tương tự có thể thực hiện ở nước
khác.
Về điểm thứ hai thì mỗi chuyên gia về chiến
lược công nghiệp có chỉ tiêu riêng do người đó sáng chế. Chúng
tôi xin đề nghị dùng chỉ tiêu chỉ số HL (học lực) do chúng tôi
lập:
HL=(6.TH+10.CS+12.PT+15.CN+17.CH)÷(NQ+N0+TH+CS+PT+CN+CH)
Trong đó:
NQ=số nhân viên không có quốc tịch nước chủ nhà, không kể
bằng cấp và trinh độ học vấn
N0=số nhân viên không có bằng cấp
TH=số nhân viên có trình độ tiểu học
CS=số nhân viên có trình độ trung học cơ sở
PT=số nhân viên có trình độ trung học phổ thông (bằng tú
tài)
CN=số nhân viên có trình độ cử nhân
CH=số nhân viên có trình độ thạc sĩ hay hơn
Những nhân số trong phương thức là số năm học tối thiểu để
đạt trình độ học vấn tương ứng.
Nếu xí nghiệp chỉ dùng người ngoại quốc và những người không
có bằng cấp thì chỉ số HL sẽ bằng số không vì không đóng góp gì
cho tiến bộ công nghệ nước chủ nhà. Nếu xí nghiệp chỉ dùng người
nước chủ nhà có trình độ thạc sĩ hay hơn nữa thì chỉ số HL sẽ
đạt tối đa 17 điểm, số năm học tối thiểu để đạt trình độ thạc
sĩ.
Công nghệ liên quan đến khoa học kỹ thuật, kinh tế, ngoại
giao và quốc phòng. Những người thương lượng về chuyển giao công
nghệ phải nắm vững chính sách Nhà Nước về bốn khía cạnh này.
Trên nguyên tắc, người phụ trách chỉ có quyền thương lượng với
xí nghiệp đầu tư một số giải pháp hai bên có thể chấp nhận được.
Sau đó người trách nhiệm viết báo cáo trình bày những điểm thuận
lợi và điểm bất lợi của mỗi giải pháp. Báo cáo được đệ lên chính
phủ để xin quyết định.
Bauxite và công nghiệp nhôm
Những gì chúng tôi viết ở những phần trên về ngành khai thác
mỏ nói chung đều có thể áp
dụng cho ngành khai thác mỏ bauxite và công nghiệp nhôm.
Chế biến bauxite thành nhôm
Nguyên tử nhôm (Al) chiếm 8,1% vỏ quả đất, nhiều hạng ba trên
địa cầu sau nguyên tử oxy (O) và silic (Si). Đất đá có quặng
nhôm gọi là bauxite, sinh ra từ sự phân hoá đất đá khi khí hậu
luân phiên khô và ẩm. Một tụ quặng bauxite đáng được khai thác
chứa 40 đến 60% alumin, nghĩa là oxyd aluminium Al2O3.
Những khoáng vật khác chứa trong quặng bauxite là oxyd sắt, oxyd
silic và oxyd titan[25].
Nhôm tự nhiên trong quặng ở ba dạng khoáng vật:
- boehmite, mono hydrat alumin Al2O3(H2O),
ở các nước có khí hậu kiểu Địa
Trung Hải như
Pháp, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ,…
- gibbstite, tri hydrat alumin Al2O3(H2O)3,
ở các nước nhiệt đới như
Guinea, Nam Mỹ, Ấn Độ, Australia,...
- và diaspore, một dạng mono hydrat và tri hydrat, ở các
nước vùng Caribbean.
Đa số những mỏ bauxite ở gần mặt đất và được khai thác lộ
thiên. Sau khi được hiệu chỉnh trong suốt thế kỷ thứ XIX, công
nghệ chế biến nhôm từ bauxite thành nhôm bây giờ đã ổn định
(hình 6).

Hình 6 Quy trình chế biến nhôm
từ bauxite
So với những phương pháp biến chế quặng thành
kim loại khác, những khâu khai thác mỏ, xử lý đất đá và tinh
luyện kim loại không có gì đặc biệt về kỹ thuật cũng như về bảo
vệ an toàn vệ sinh, y tế và môi trường thiên nhiên.
Phân loại khoáng vật theo quy trình Bayer,
tên người sáng chế quy trình này. Quy trình diễn biến như sau:
(a) hoà tan hydrat alumin của bauxite trong
một dung dịch hydroxyd natri NaOH ở nhiệt độ 200/250 C để tạo
ra aluminat natri NaAlO2,
(b) lọc những dung dịch để loại bùn đỏ chứa
những chất bẩn, chủ yếu gồm bởi những oxyd chứa trong quặng
bauxite,
(c) chờ cho dung dịch nguội để cho aluminat
natri trở lại dạng hydrat alumin và kết tủa,
(d) lọc một lần nữa để hoàn nguyên hydroxyd
natri,
(e) nung hydrat alumin để có alumin Al2O3.
Hình 7 Quy
trình Bayer chế biến alumin từ bauxite
Phần lớn alumin, khoảng 90%, dùng để sản xuất
nhôm. Nhưng vì alumin là một vật liệu rắn và chịu lửa nên cũng
được dùng để sản xuất vật chịu lửa và chất mài. Một phần nhỏ
dùng để sản xuất kem đánh răng và đèn huỳnh quang.
Oxyd sắt và oxyd silic là phế liệu của quy
trình Bayer thải ra dưới dạng bùn nổi tiếng được gọi là bùn đỏ.
Bùn đỏ đặt vấn đề môi trường vì hydrat natri vẫn còn bám vào
những hạt oxyd sắt oxyd silic. Nếu không thì hai khoáng vật này
chỉ đặt vấn đề thẩm mỹ rất ấn tượng. Người ta có thể sấy bùn cho
khô để làm phụ gia béton cho ngành cầu đường. Nhưng phương pháp
này tiêu thụ rất nhiều năng lượng tốn kém hơn là giá trị những
chất phụ gia béton khác. Ngoài ra tiêu thụ năng lượng thì sinh
ra bụi và khí có hiệu ứng nhà kính. Đâu vào đó và với trình độ
công nghệ hiện nay, phương pháp loại bùn đỏ là bơm xuống một hố
sâu dưới đáy biển hay đổ vào một hồ nhân tạo hay một chỗ trũng.
Người ta khử oxy của alumin bằng phương pháp
điện phân Heroult Hall, tên hai người sáng chế ra phương pháp
này. Alumin chảy lỏng ở nhiệt độ 2.200 C. Để giảm nhiệt độ chảy
lỏng xuống còn 950/1.000 C người ta trộn alumin với cryolith Na3AlF6
và một phần fluorid nhôm AlF3. Dưới điện thế 4 volt
và 350.000 ampere, alumin được khử oxy và nhôm chảy lỏng được
hút ra ngoài thùng điện phân và đúc thành thỏi thương phẩm
(hình 8).

Hình 8 Thùng điện phân nhôm (dựa theo Wikipedia)
Cryolith có nguyên tử fluor và những điện
cực làm bằng carbon. Ở nhiệt độ cao trong lò điện phân hai vật
này bốc hơi. Người ta dùng một mũ chụp thu hồi chúng và dùng
lại. Nhưng cũng có một phần thoát ra khí quyển gây ô nhiễm môi
trường thiên nhiên. Fluorit rất độc hại cho con người và những
sinh vật khác. Carbon và khí oxy trong khí quyển biến thành oxyd
carbon, một khí có hiệu ứng nhà kính.
Kinh tế ngành công nghiệp nhôm
Nhôm dùng riêng là một kim loại nhẹ, mềm và
dễ gẫy. Nhưng hợp kim với những kim loại khác làm tăng đặc tính
cơ học của nhôm:
- đồng làm tăng độ rắn nhưng làm giảm tính
chống rỉ,
- magnésium, mangan hay hỗn hợp mangan silic
làm tăng sức bền,
- silic làm giảm nhiệt độ nóng chảy và làm
tăng tính lỏng.
Hợp kim nhôm kẽm là một vật liệu siêu bền.
Ngoài ra nhôm dẫn điện và dẫn nhiệt rất tốt. Nhờ những đặc tính
vật lý đó nhôm là kim loại thông dụng nhất sau sắt. Nhôm và hợp
kim nhôm dùng để chế tạo động cơ, thiết bị vận tải, bao bì,
khung nhà cửa, thiết bị gia dụng,… Những sợ cáp nhôm đang thay
thế đồng làm dây tải điện. Nhôm tinh khiết ở độ 99,998% hay hơn
nữa được dùng trong ngành điện tử thay thế mỏ hàn bằng bạc và để
sản xuất đĩa CD và DVD.
Nhôm lại có một đặc tính quan trọng nữa là dễ
hoàn nguyên. Trung bình 20% nhôm dùng trên thế giới là nhôm thứ
sinh. Ở Âu Châu tỷ lệ nhôm thứ sinh dùng trong công nghiệp là
50% vào năm 1980 và bây giờ là hơn 70%. Sản xuất nhôm thứ sinh
tiêu thụ có một phần mười năng lượng so với sản xuất nhôm sơ
đẳng từ bauxite.
Để sản xuất một tấn alumin cần đến 3
tấn bauxite. Để bù thất thoát
hydroxyd natri trong quy trình
hoàn nguyên, phải có một nhà máy sản xuất vật liệu này từ muối.
Để sản xuất một tấn nhôm cần đến
hai tấn alumin, một nửa tấn carbon và
15.000 kWh điện. Vì nhu cầu điện rất lớn mà điện thì khó tải
được đi xa, nếu nơi sản
xuất alumin không có đủ điện thì phải xây thêm một nhà máy điện
hay chở alumin đến những nơi có điện.
Với những thông số
kỹ thuật nêu ở phần trên:
- hiển nhiên là phải sản xuất nhôm tại khu
mỏ để giảm chi phí vận chuyển phế liệu,
- vì giá cước vận tải bây giời rất rẻ xu
hướng là nếu nơi sản xuất alumin không có đủ điện thì chở
alumin đến những nơi có nguồn điện dồi dào và rẻ,
- nếu phải sản xuất nhôm ở nơi khác thì ít
ra cũng phải chế biến tại chỗ bauxite thành ra alumin và gửi
alumin thay vì gửi bauxite.
Những điều này thể hiện trên bảng 6.
Bảng 6
Sản lượng bauxite, alumin và nhôm
|
Sản
lượng năm 2007
(1.000 t) |
Bauxite |
Alumin |
Nhôm |
Trung
Quốc |
30.000 |
19.500 |
12.600 |
Nga |
6.400 |
3.300 |
3.955 |
Canada |
|
1.220 |
3.083 |
Hoa Kỳ |
? |
3.900 |
2.554 |
Australia |
62.428 |
18.844 |
1.960 |
Brazil |
22.100 |
6.890 |
1.610 |
Na Uy |
|
|
1.304 |
Ấn Độ |
19.221 |
2.900 |
1.223 |
Nam Phi |
|
|
899 |
Tiểu
Vương Quốc Á Rập Thống Nhất |
|
|
890 |
(Tính từ
số liệu của USGS) |
Trong số mười nước sản xuất nhiều nhôm nhất thì có:
- ba nước dẫn đầu, Trung Quốc, Nga và Canada, đều nhập
siêu về bauxite và alumin,
- bốn nước, Canada, Na Uy, Nam Phi và các Tiểu Vương Quốc
Ả Rập Thống Nhất, không có bauxite (Hoa Kỳ không công bố sản
lượng bauxite nhưng chúng tôi nghĩ nước này cũng có một
chút),
- trừ Trung Quốc, tất cả những nước nêu trên đều là những
nước công nghiệp, giầu và có nguồn điện rẻ,
- hai nước, Australia và Brazil, chế biến tại nước họ gần
hết sản lượng bauxite thành alumin trước khi xuất khẩu alumin
(hai nước này không phải là hai nước nghèo, nếu họ xuất khẩu
alumin chỉ là tại vì họ ít dân nên thiếu nhân lực).
Trên phương diện kinh tế, sản lượng nhôm tăng trung bình 6%
mỗi năm từ 2003 đến 2007. Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhôm
nhất thế giới và sản lượng tăng gần 17% mỗi năm, gần ba lần tăng
trưởng trung bình của thế giới. Nhiều người giảng
nghĩa tăng trưởng này
của Trung Quốc là nước này muốn trở thành một quốc gia
công xưởng của thế giới nên cần đến nhiều nguyên liệu kim loại,
trong số đó có nhôm (bảng 7). Nhưng điều khó hiểu là thay vì
nhập khẩu alumin để giảm chi phí vận tải thì Trung Quốc lại nhập
bauxite. Điều đáng lo ngại cho ngành công nghiệp nhôm thế giới là
sản lượng alumin Trung Quốc tăng đến 23% mỗi năm và sản lượng
bauxite thì chỉ tăng có 17%, chứng tỏ Trung Quốc tìm cách vơ vét
tất cả bauxite chào bán trên thị trường quốc tế. Phải chăng đây
là một chiến lược thống trị thị trường của mọi sản vật mà nhiều
nước công nghiệp cáo buộc Trung Quốc?
Bảng 7.
Sản lượng bauxite, alumin và nhôm của thế giới và của Trung
Quốc (1.000 t/năm)
|
2003 |
2004 |
2005 |
2006 |
2007 |
(%/năm) |
Thế
giới |
Bauxite |
153
000 |
164
000 |
179
000 |
190
000 |
199
000 |
5,3 |
Alumin |
58
100 |
61
300 |
64
000 |
70
900 |
76
100 |
5,4 |
Nhôm |
28
000 |
29
900 |
31
900 |
33
900 |
37
900 |
6,1 |
Trung
Quốc |
Bauxite |
13.000 |
17.000 |
22.000 |
27.000 |
30.000 |
16,7 |
Alumin |
6.110 |
6.990 |
8.610 |
13.700 |
19.500 |
23,2 |
Nhôm |
5.450 |
6.670 |
7.800 |
9.360 |
12.600 |
16,8 |
(Tính từ
số liệu của USGS) |
Một vấn đề có thể được giải đáp bằng nhiều
cách lợi ích ngang nhau và giải đáp sẽ được chọn là giải đáp
sinh ra ít bất tiện nhất. Một
người chỉ có một giải pháp cho một vấn đề là một người đã tìm
được một giải pháp lười không muốn nghiên cứu những giải pháp
khác, hay là một người đã học được một giải pháp nhưng không có
đủ kiến thức để nhận thấy những giải pháp khác.
Do đó, một quyết định là kết quả của sự so
sánh giữa nhiều khả năng: quyết định đầu tư vào ngành này hay
ngành khác, đầu tư vào dự án này hay dự án khác. Nếu không muốn
thiên vị khi chọn thì phải có một phương pháp duy nhất để nghiên
cứu mỗi đối tượng và phải so sánh những chỉ tiêu chung cho tất
cả những đối tượng. Chỉ tiêu để quyết định đó là tỷ số lợi nhuận
tiềm tàng.
Cũng như thế, những phương pháp khai thác mỏ
bauxite, phân loại alumin và tinh chế tinh luyện nhôm chỉ khác
những phương pháp khai thác mỏ quặng khác, khoáng vật khác và
kim loại khác ở một vài chi tiết do phải làm cho những phương
pháp đó thích ứng với cấu tạo hóa học vật lý của quặng.
Kết luận
Mọi nghề đều có vinh quang và khó khăn của
nó. Khó khăn của nghề kỹ sư mỏ là phải có tầm nhìn xa vượt hẳn
đời nghề của mình, có khi còn vượt hẳn đời sống của cá nhân
mình. Khó khăn nữa là không những phải lo cho xí nghiệp, mà còn
phải lo cho người dân địa phương và môi trường thiên nhiên.
Những khó khăn đó cũng là vinh quang của nghề kỹ sư mỏ vì nghề
đó giữ vai trò định hướng tương lai kinh tế xã hội của một nước.
Trên phương diện khoa học kỹ thuật, ngành mỏ
vẫn còn tiêu thụ nhiều năng lượng so với năng lượng liên kết của
những phân tử cấu tạo đất đá và quặng. Đây là một đất vẫn còn
trống với nhiều cơ hội để một kỹ sư có hoài bảo khám phá một đột
phá công nghệ.
Xin nêu thí dụ công nghiệp nhôm. Lúc khởi đầu
sản xuất nhôm cần đến rất nhiều năng lượng nên kim loại nhôm đắt
và được coi là báu vật. Sau yến tiệc, Hoàng đế Pháp Napoleon III
quen biếu quan khách bộ dao nĩa bằng nhôm họ đã dùng để ăn. Năm
1884, người ta dùng nhôm thay vì vàng để bọc ngói Tòa Tưởng Niệm
Washington. Nhờ những những Karl Josef Bayer (1847 1904), Paul
Louis Toussaint Héroult (1863 1914), Charles Martin Hall (1836
1914),… mà sản xuất nhôm tiêu thụ năng lượng ít hơn và ngày nay
nhôm là một kim loại thông dụng rẻ tiền. Hãng Bayer thì ai cũng
biết đến. Héroult đã thành lập hãng Pechiney một thời đã là số
một thế giới về nhôm. Hall đã thành lập Alcoa, bây giời là số
một thế giới về nhôm. Điều đáng chú ý là những vị này đã vào
lịch sử công nghiệp khi còn là nghiên cứu sinh trẻ chưa tới 25
tuổi đời.
Đặng Đình Cung
Kỹ sư tư vấn
Chú thích
[1]
Xin giới thiệu sau đây một số nơi đào tạo kỹ sư mỏ ở Pháp.
Về kinh tế, thăm dò và khai thác mỏ:
Ecole Nationale Supérieure des Mines de
Paris 60 boulevard Saint Michel, F 75006 Paris
Ecole Nationale Supérieure des Mines de Nancy Parc
Saurupt, CS 14234, F 54042 Nancy
Về xử lý quặng: tất cả những phân khoa
Hóa học Phân tích (Chimie Analytique) và Hóa học Công nghiệp
(Chimie Industrielle) các trường cao đẳng và đại học như là:
Ecole Nationale Supérieure des Mines de
Nancy Parc Saurupt, CS 14234, F 54042 Nancy
Ecole Supérieure Physique Chimie Industrielle Ville Paris
10 rue Vauquelin, F 75005 Paris
Université Paris 6 (Pierre et Marie Curie Jussieu) 4 place
Jussieu, F 75005 Paris
[2]
Xin đặc biệt giới thiệu với các sinh viên và chuyên gia
ngành khai thác mỏ: R.H. Richards, C.E. Locke, R.
Schuhmann: "Texbook of ore dressing", McGrawHill,
1940.
(Sách này cũ rồi nhưng vẫn còn tính cách thời sự).
B.A. Wills, T.J. Napier Munn: "Will's Mineral
Processing Technology", Elsivier, 2006.
J. Philbert, A. Vignes, Y. Brechet, P.
Combrade: "Métallurgie – Du Minerai au Materiau",
Dunod, 2002.
J. Coursier, R. Rouet, D. Bauer: "Métallurgie
extractive," Masson, 1986.
[3]
Nhiều sinh viên những trường khác hay đến các trường kỹ sư
mỏ để trau dồi thêm về toán học vì các trường này dạy môn
tác toán rất giỏi.
[7]
Gaye A.: " Chine Afrique: Le dragon et l'autruche Essai
d'analyse de l'évolution contrastée des relations sino
africaines: saint ou impie alliance du XXIe siècle ?",
L'Harmattan, 2006. Alden C: "China in Africa",
Zed Books Ltd, 2007.
[12]
Pierre Noël Giraud: Faiblesse et force des économies
minières, Le Monde Diplomatique, 1981.
Xin chú ý, nhận xét này cũ từ 1981. Chúng tôi không tìm thấy
tác giả đã cập nhật hay chưa.
[13]
Corden W. M., Neary J. P.: Booming Sector and De
Industrialisation in a Small Open Economy, The Economic
Journal, Vol. 92, No. 368 (Dec., 1982), p. 825 848.
[18]
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính biên 43, do
một nhà sử học Việt kiều giới thiệu.
[24] Về phương pháp "tại sao ?"
và những phương pháp tìm giải pháp khác, đề nghị độc giả
tham khảo
Shigeo Shingo: " Kaizen and the Art of Creative
Thinking ‑ The Scientific Thinking Mechanism", PCS
Inc., 2007.
[25]
Xin giới thiệu bộ sách rất đầy dủ về công nghiệp nhôm:
G.E. Tolten, D. Scott Mackenzie:
"Handbook of Aluminium"
Vol. 1: "Physical metallurgy and Processes"
Vol. 2: "Alloy Production and Materials
Manufacturing"
Marcel Decker Inc., 2003.
Đã đăng trên Thời Đại Mới
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org Đặng Đình Cung
|