Tôi được gặp GS Nguyễn Văn Chiển
lần đầu tiên vào năm 1950. Khi đó ông đến thăm bố tôi tại Thái Nguyên
giữa những ngày kháng chiến sôi động nhất. Ông chỉ có một chiếc ba lô
nhỏ nhưng trong đó có cả một chiếc kính hiển vi.
Khi đó gia đình chúng tôi phải dùng một loại dây leo, theo kinh
nghiệm dân gian giập nát ra rồi đánh nước cho trong mới có thể dùng được
(hồi đó lấy đâu ra phèn chua!). Tôi rất ngạc nhiên khi thấy Thầy rất chú
ý và lập tức quan sát các bộ phận của cây này, lại còn dùng lưỡi dao cạo
cắt thành lớp mỏng rồi soi dưới kính hiển vi và vẽ lại cấu tạo hiển vi
của tiêu bản này vào sổ tay của Thày. Đấy có lẽ là hình ảnh đầu tiên về
nghiên cứu khoa học mà tôi nhận thức được khi mới 12 tuổi. Năm 1951, cả
gia đình Thày và gia đình Bố tôi được chuyển sang Khu học xá Nam Ninh để
hai ông tham gia đào tạo biết bao các thế hệ nhà giáo và nhà khoa học
nước ta. Hòa bình lập lại Thày chuyển về Hà Nội là tôi lại vinh dự là
lớp sinh viên Đại học đầu tiên của Thày sau ngày hòa bình lập lại.
Năm nay nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Thày đã có biết bao nhiêu
bài báo ca ngợi các thành tích lớn lao của Thày trong giáo dục và trong
khoa học.
.jpg) |
GS. Nguyễn Văn Chiển cùng học trò, đồng nghiệp. |
Nhà báo Thúy Hằng viết: Thầy Chiển là con út trong một gia đình trung
nông ở thôn Ngọc Nội, xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Năm
1919, cậu bé Chiển ra đời, cũng là năm thực dân Pháp bắt đầu công cuộc
khai hóa thuộc địa lần thứ hai ở Việt Nam. 6 tuổi Chiển bắt đầu học chữ
Nho. 9 tuổi, sang trường làng bên học chữ quốc ngữ. Hết cấp sơ học, cậu
phải ra tận Phú Thụy, cách nhà 15km để trọ học, vì cả Nam phần Bắc Ninh
lúc đó chỉ có duy nhất một trường tiểu học kiêm bị: tức có đủ 6 lớp học
đồng ấu, dự bị, sơ đẳng: lớp nhì I, lớp nhì II, lớp nhất. Học xong
Trường Phú Thụy, Chiển phải đi xa hơn nữa, tới Hà Nội, thi vào học
Trường Bưởi nổi tiếng. Ở đấy anh đã được học những thầy nổi tiếng như
Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn,... Chăm chỉ, lành hiền và cần mẫn,
Chiển mang theo cả niềm ước vọng của mẹ cha mong cho con được ăn học nên
người. Có những năm quá khó khăn, bố mất, rồi hai năm liền (1935 - 1936)
quê nhà bị vỡ đê, người mẹ tảo tần hàng tháng vẫn thường gánh gạo, mỡ và
tương ra Hà Nội nuôi cho con ăn học cũng ngậm ngùi nước mắt bảo rằng
“Nhà không còn hạt thóc nào cho con đi học nữa”, Chiển tưởng như đã phải
nghỉ học. Nhưng sự chăm chỉ và niềm khát khao học tập của Chiển cuối
cùng cũng đã được đền đáp. Ngay lúc khó khăn nhất ấy, nhờ học giỏi anh
đã được cấp học bổng toàn phần, được xếp vào ở nội trú trong trường và
toàn tâm toàn ý vào việc học. Năm 1941, sau 7 năm học ở Trường Bưởi,
chàng trai “nhà quê” ấy đã đỗ đầu kỳ thi tú tài toàn xứ Đông Dương. Ông
viết: “Tháng 9 năm 1941, tôi ghi tên đăng ký học chứng chỉ Toán đại
cương ở Trường đại học Khoa học mới mở. Việc lựa chọn này không có khó
khăn gì, sau khi đã lướt qua các trường khác. Y ư? Phải học 7 năm, quá
dài trong khi mẹ tôi đã già, cần ra trường sớm để phụng dưỡng mẹ. Học
Dược ư? Một nghề có thể cho phép mình sống độc lập không phụ thuộc vào
ai, nhưng quy định là ngay năm đầu phải ký quỹ 120 đồng (bằng giá 10 xe
đạp Te-rô thời đó) thực tập ở các hiệu bào chế thuốc. Món tiền lớn quá
lấy đâu ra? Vào luật để ra làm quan bóp dân, thối nát quá tôi loại bỏ từ
lâu. May có Trường Khoa học mới mở ra, phù hợp với sở thích của mình cho
nên vào Trường Khoa học là đúng.” Thầy Chiển đã giải thích như vậy, giản
dị và không ồn ào về sự lựa chọn thuở ban đầu ấy. Thầy đã đến với Địa
chất, và đó gần như là sự “se duyên” của số phận. Trong công việc này,
thầy tìm thấy niềm vui, được cống hiến, được khám phá. Và cuộc đời đã
được nhận từ thầy thật nhiều điều, “người anh cả của ngành Địa chất Việt
Nam”.
Sau khi chúng tôi tốt nghiệp đại học Thầy chọn một người bạn tôi –
anh Tống Duy Thanh và nhiệt tình bồi dưỡng để chẳng bao lâu sau anh đã
trở thành Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, chuyên gia đầu ngành về Cổ sinh -
Địa tầng học.
Thành tựu về giáo dục và về khoa học của Thầy không sao kể xiết, nhất
là việc chủ trì các Chương trình Nhà nước về khoa học, việc đảm nhiệm
các chức vụ quan trọng như Hiệu trưởng Trường Sư phạm Trung cấp Trung
ương, Tổng thư ký Ban Tu thư (soạn sách giáo dục phổ thông), Phó Giám
đốc Nha Giáo dục phổ thông, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam…
Ở bất kỳ công việc nào ông đều có tư duy rất độc lập và thiết tha với
sự nghiệp xây dựng nền khoa học nước nhà. Nói về nhân cách của ông chỉ
cần đến thăm căn hộ ông đang ở tại khu tập thể Đại học Bách khoa Hà Nội.
Một Giáo sư đầu ngành, một Nhà giáo nhân dân mà ở chung với vợ con trong
một căn hộ khó có thể tưởng tượng nổi về mức độ chật hẹp và đơn sơ vào
loại nhất thủ đô. Chúng tôi đến thăm Thầy chỉ có thể ngồi xuống sàn nhà
xung quanh Thầy. Giá Thầy có lời đề nghị thì chắc chẳng ai nỡ để Thầy
sống khổ như vậy. Nhưng Thầy chỉ cười và nói với chúng tôi: Còn biết bao
thầy giáo trong nước còn khổ hơn mình nhiều. Thầy không bao giờ nói về
công việc của mình, kể cả việc thầy được lưu danh bằng những giống loài
cổ sinh mới được cả thế giới biết đến như giống Vanchienolepis Tong-Dzuy
et Janvier, các loài Squameofavosites Vanchien Tong-Dzuy, Plethorhyncha
Chieni Zuong et Rzóns... mà chỉ băn khoăn về tương lai khoa học và giáo
dục nước nhà. Dù tuổi rất cao nhưng Thầy luôn phát biểu một cách điềm
tĩnh và sâu sắc về những vấn đề rất quan trọng mà Thầy thấy không thể
nào chấp nhận được.
Về khoa học Thầy viết: “Khác với chương trình khoa học Tây Nguyên,
chương trình xây dựng Tập bản đồ Quốc gia (còn gọi là chương trình
48-03) được ghi vào Nghị quyết 37NQ của Bộ Chính trị hẳn hoi, thế mà sau
khi xuất bản vào năm 1996, nó không được sử dụng để bố trí các dự án sản
xuất một cách hợp lý nhất. Thậm chí Viện Nghiên cứu Địa chính đề nghị
điện tử hóa Tập Bản đồ Quốc gia để bố trí các dự án sản xuất công nông
nghiệp và giao thông vận tải hợp lý nhất cũng không được xét duyệt. Tập
Bản đồ Quốc gia được giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005 hiện nay chỉ là
một vật trang trí nằm trong các thư viện. Các nhà hoạch định chính sách,
nhất là quyết định phân bố lực lượng sản xuất một cách hợp lý nhất trên
lãnh thổ, cũng chẳng mấy ai quan tâm đến tập Atlat quốc gia! Hiển nhiên
nó lại biến thành một vật trang trí tương tự cái lò phản ứng hạt nhân Đà
Lạt. Hy vọng trong thời gian tới, các dự án phát triển, nhất là các dự
án trọng điểm của đất nước, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học không còn bị trở thành vật trang trí.” (18/5/2009).
Về giáo dục Thầy viết: “Tôi nghĩ rằng ông Bộ trưởng giáo dục hiện nay
không thiếu tâm, thiếu tầm nhưng do phải kiêm nhiệm một chức vị quan
trọng hơn, và hẳn thường xuyên bận vào những sự vụ khác nên không thể
toàn tâm toàn ý cho ngành giáo dục, thậm chí chưa chắc có nhiều thời
gian để suy nghĩ thấu đáo về bản chiến lược này. Do vậy trong chiến lược
mới đề ra những giải pháp thiếu tính khả thi, chẳng hạn như làm sao có
được những giáo sư đại học Việt Nam có trình độ cao để thực hiện được
việc xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt chất lượng quốc tế vào năm
2015 (tức 6 năm nữa). Nhất là với kế hoạch đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn
tiến sĩ, thì tôi thấy chính những người xây dựng bản chiến lược này cũng
lại mắc bệnh thành tích, bệnh chạy theo số lượng. Hoa Kỳ hiện nay là
nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, năm nào cũng có các nhà
khoa học nhận giải thưởng Nobel. Giả thử ông gửi sang Mỹ 1 vạn cử nhân
nhờ họ đào tạo thành những người tài cho đất nước, thì những em nào chịu
khó chăm chỉ học tập có thể thành người tài thật. Còn nếu ông đặt hàng
hãy đào tạo cho tôi 1 vạn tiến sĩ trong 5 năm thì đến hạn họ sẵn sàng
trả cho ta đủ 1 vạn người có bằng tiến sĩ, nhưng tiếc thay bằng thì
thật, còn người có bằng chưa chắc đã thật. Tình trạng cũng tương tự như
trước đây ta nhờ Liên Xô đào tạo cho kĩ sư và cử nhân: đến hạn các thầy
Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ, thậm chí làm hộ luận án để cháu nào về nước
cũng có bằng đại học mà không viết nổi một câu tiếng Nga, thậm chí một
bài tiếng Việt. Đối với một bệnh mạn tính kéo dài hàng mấy chục năm của
ngành giáo dục Việt Nam, thì không thể có một phương thuốc tiên dứt bệnh
ngay được, lại không thể liệt kê trải mành mành 11 giải pháp, trên thực
tế chỉ là 11 việc trong kế hoạch dài hạn của ngành giáo dục. Suy nghĩ
kĩ, tôi thấy khâu quan trọng nhất, khâu đột phá có thể tác động đến toàn
ngành giáo dục, không ai khác chính là người thầy. Bởi vì suy cho cùng
thì người trực tiếp lên lớp, soạn bài giảng, cải tiến phương pháp sư
phạp, cải tiến chương trình, biên soạn sách giáo khoa cũng là người
thầy, một mình ông Bộ trưởng Giáo dục dù giỏi đến đâu cũng không làm
được. Muốn vậy phải khôi phục truyền thống tôn sư trọng đạo của toàn xã
hội đối với người thầy. Cần coi người thầy là một trí thức có nhiệm vụ
cao quý, là người tác động đến tâm hồn và trí tuệ của lớp trẻ, tạo điều
kiện vật chất và tinh thần để họ không bắt học sinh học thêm, hoặc nhận
quà biếu của phụ huynh, mà có thì giờ để đọc sách học thêm trau dồi đạo
đức, nghề nghiệp, và không nên xếp họ vào thang cuối cùng của xã hội
(công, nông, binh, trí). Ngày nay, sự yếu kém của nền giáo dục quốc dân
không chỉ giới hạn ở nhà trường. Nó đã ảnh hưởng đến đạo đức của toàn xã
hội với những tiêu cực lớn nhỏ nhan nhản trên báo chí hằng ngày. Một cơ
trưởng lái máy bay hẳn đã học xong bậc đại học, lại cùng với mấy lưu học
sinh tham gia vào các vụ ăn cắp vặt ở Nhật Bản, thật là một quốc sỉ cho
một dân tộc anh hùng! Bởi vì mỗi trẻ em được cha mẹ dạy tốt rồi, đến
trường cũng được dạy tốt, vẫn có thể bị ảnh hưởng tai hại của xã hội mà
trở nên hư đốn. Vấn đề to lớn và quá khó khăn này, chắc chỉ khi những vị
lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước có quan tâm thì may ra mới giải
quyết được” (2/1/2009)
Những lời phát biểu tâm huyết của Thầy chưa được trả lời thì Thầy đã
vội vã đi xa vào hồi 11 giờ 40 ngày 21/7/2009 vừa qua. Vẫn biết sinh tử
là quy luật của muôn đời nhưng sao Thầy vội đi nhanh quá trước khi thấy
các kiến nghị tâm huyết của Thầy được trở thành hiện thực. Tấm gương yêu
nước, nhiệt tình cống hiến cho khoa hoc, giáo dục và một nhân cách cao
đẹp của Thầy sẽ sống mãi trong các thế hệ học trò của Thầy và những
người được biết đến Thầy. Cầu mong hương hồn Thầy yên nghỉ chốn vĩnh
hằng |