Những bài cùng tác giả

Hình chụp từ vệ tinh GPS, lấy
bằng Google Earth
Nói đến Việt Bắc, ta lại liên tưởng đến vùng trung du rừng núi trùng điệp
trong những năm kháng chiến chống Pháp, với những trận đánh đi vào lịch sử
trong chiến dịch biên giới, đóng góp vào sự thảm bại sau cùng của Pháp ở
Việt Nam. Nhưng Việt Bắc cũng là địa danh cùng với con người tạo ra một bề
dày lịch sử đáng kể. Bài này viết ra với mục đích trình bày tổng quan về
lịch sử, tư tưởng và văn hoá của những cư dân Việt Bắc từ thời tiền sử (bao
gồm Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông) đến ngày nay, và sự liên hệ mật thiết
gắn liền với lịch sử văn hoá Việt Nam qua sự thăng trầm tư tưởng của các
triều đại và quan hệ ngoại giao và quân sự giữa Việt Nam và Trung quốc...
Bài chỉ tóm tắt một vài khía cạnh về con người, lịch sử và văn hoá Việt Bắc
ảnh hưởng mật thiết tạo thành con người và lịch sử dân tộc.
Cư dân Việt Bắc đóng vai trò chủ yếu trong lịch sử Việt - Trung và chính vận
mệnh của họ qua lịch sử đã hình thành địa hình biên giới hai nước. Lịch sử
của họ phản ảnh chính sách và tư tưởng của chính quyền hai nước từ thời tự
chủ đến ngày nay. Và trước đó nữa, dân cư Việt Bắc là một bộ phận chính
thành lập dân tộc và đất nước Âu Việt, tranh đấu với Bắc triều Hán Hoa dành
độc lập để lại một di sản cho con cháu người Việt ngày nay.
I - CON NGƯỜI
Vùng Việt Bắc là nơi cư ngụ chính của các dân tộc Tày-Nùng, thuộc dòng ngôn
ngữ Thái, dân tộc Dao, và các nhóm thiểu số khác. Người Tày (trước đây trong
sử của các nhà cựu nho, họ được gọi là Thổ) và người Nùng, cùng tiếng nói và
văn hoá, chỉ khác là người Tày gần với người Việt hơn trong khi người Nùng
chịu ảnh hưởng văn hoá Trung quốc. Người Tày-Nùng sống chủ yếu ở Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Thái ở Việt Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và Vân Nam ở Trung
Quốc. Ở Quảng Tây, họ là người dân tộc có dân số lớn nhất, và được gọi là
dân tộc Zhuang.
Người Tày-Nùng và Lạc Việt là nhánh phương Nam của chủng tộc người Bách Việt
mà thư tịch cổ Trung quốc có nói nhiều đến. Ngôn ngữ Việt là kết hợp của gốc
cổ Mon-Khmer từ phương Nam thuộc hệ ngôn ngữ Austro-Asiatic và tiến hóa cùng
với thành phần Tày - Nùng của hệ Thái ngữ.
Người dân tộc Tày - Nùng (Zhuang) là những dân cư có tiếng trong truyền
thống dũng mãnh trong quân sự. Trong suốt lịch sử từ đời Tần, khi người Hán
Hoa bắt đầu Nam tiến chinh phạt vùng Lĩnh Nam, đến sau này, người Nùng
(Zhuang) đã đề kháng liên tục, tránh khỏi đồng hoá, nhưng đã không thành lập
thành một quốc gia tự chủ được như người Lạc Việt ở vùng đồng bằng phía nam
của Việt Nam ngày nay. Người Nùng đã được dùng trong quân đội của các triều
đại Trung quốc, Việt Nam và đóng những vai trò quan trọng trong các trận
chiến biên giới Việt - Trung cho đến ngày nay.
Qua nhiều thời kỳ trong lịch sử, cũng có rất nhiều người Việt lên vùng núi
sống, hoà nhập và đã hoàn toàn trở thành Tày hoá qua vài thế hệ. Đấy là các
gia đình quan chức được bổ nhiệm, các vua chúa thua chạy với tàn quân lên ẩn
chờ cơ hội, các di dân vì loạn lạc nghèo đói. Họ Mạc đã lên Cao Bằng từ năm
1592 khi triều đình Lê - Trịnh chiếm được kinh đô Thăng Long sau bao năm nội
chiến Bắc Triều - Nam Triều. Nhà Mạc trú ẩn và tồn tại đến mấy đời vua trước
khi bị mất hẳn. Sự giao lưu văn hoá giữa hai dân tộc Tày - Việt đã để lại
nhiều nét sâu đậm trong văn hoá Tày ở Việt Bắc. Nếu ta lên Cao Bằng ngày nay
"Ngày nay điền giã một vùng rộng lớn, lấy thị xã Cao Bằng làm tâm điểm, với
bán kính 15 - 20 km, chúng ta sẽ bắt gặp những "mảnh vụn" của những đợt di
dân ấy. Một hiện tượng lạ đối với các nhà ngôn ngữ học và dân tộc học là ở
một số xã của vùng bán kính nói trên, hàng nghìn người Tày nhưng lại không
nói sõi tiếng Tày mà hầu như chỉ sử dụng tiếng Kinh. Nổi bật hơn cả là vùng
mà dân địa phương gọi là "Chợ Cao Bình", thuộc xã Hoàng Tung, huyện Hoà An,
tỉnh Cao Bằng (cách thị xã Cao Bằng chừng 6km). Dân cư vùng này có khoảng
2000 người, tuy họ là dân tộc Tày nhưng chỉ biết tiếng Kinh, không biết
tiếng Tày. Người địa phương gọi người Tày vùng này là dân "Mãn Đan" (có
nghĩa Tày không ra Tày, mà Kinh cũng không ra Kinh). Ở cách đó không xa,
người Tày ở vùng nước Hai thì lại hoàn toàn nói thạo tiếng Tày. Bên cạnh
tính bảo lưu ngôn ngữ quê gốc miền xuôi, người Tày ở chợ Cao Bình vẫn giữ
thói quen làm nhà đất và trồng luỹ tre xung quanh nơi nhà ở và xung quanh
bản làng. Ngoài ra về sinh hoạt ăn uống, ma chay cưới xin... họ vẫn giữ
những phong tục như người Kinh đồng bằng Bắc bộ.
Những người Tày ở vùng "Chợ Cao Bình" nói trên, qua điều tra, chúng tôi được
biết họ hầu hết là dân di cư vùng Hải Dương, Kinh Bắc chuyển cư lên đây. Một
số dòng họ còn giữ gia phả cho biết đó là con cháu số quan lại triều Mạc,
không chịu đầu hàng nhà Lê, lên Cao Bằng tiếp tục phục vụ cho họ Mạc.
(Nguyễn Minh Tường, Nhà Mạc sau năm 1592, trong Mạc Đăng Dung và vương triều
Mạc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trang 113 - 136)
Qua quá trình di cư lên Cao Bằng, một số tín ngưỡng, tôn giáo, văn hoá cũng
được du nhập vào địa phương. Trên Cao Bằng, khá nhiều đình chùa hiện nay đã
cho thấy được xây dựng thời nhà Mạc.
II - LỊCH SỬ
(1) Thời tiền sử
Phía Nam sông
Dương Tử và vùng gọi là Lĩnh Nam, theo sử liệu Trung Hoa là nơi cư ngụ của
các giống dân gọi chung là Bách Việt. Ngày nay chúng ta đã biết rõ là giống
dân bách Việt đã đóng góp lớn trong sự thành lập của nền văn minh Trung Hoa
bắt đầu từ đời Thương. Nguồn gốc của dân Bách Việt và văn minh của họ ra sao
từ thời kỳ đá mới (7,000 đến 1200BC) tới thời đại đồ đồng, nhất là ở khu vực
từ Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông hiện nay đến đồng bằng Bắc Việt Nam ?. Ta
hãy tóm tắt sơ lược những gì đã được biết hiện nay.
Meacham (10) cho ta thấy là biển Nam Hải tiến lên nhanh vào khoảng 4 000 BC,
làm ngập lụt các vùng bờ biển có khi đến cả tám dặm sâu vào đất liền và sự
kiện này đã làm ta mất đi các dấu vết khảo cổ của văn hoá thời kỳ trung đại
đá mới, văn hoá này có tính cách gần môi trường biển (tuy vậy ta vẫn tìm
thấy được một số di chỉ của văn hoá này ở Việt Nam, văn hoá Quỳnh Văn). Vì
thế ở các vùng núi sâu trong lục điạ, ta sẽ dễ tìm thấy di tích của thời sơ
khai đá mới hơn.
Hai địa điểm khảo cổ thời sơ khai đá mới biết nhiều đến ở Quảng Tây là Bái
Lương động (Bailian Dong) gần Lưu Châu và Zhenpi Yan gần Quế Lâm (Guilin).
Động Bái Lương được các người tiền sử cuối thời đá cũ đến đầu thời đá mới cư
trú (8). Các đồ đá được xác định bằng Carbon 14 là vào khoảng từ 30 000 đến
7 500BC. Địa điểm Zhenpi Yan được xác định vào khoảng 10 000BC. Có hơn 400
mộ được coi là của tổ tiên người Nùng - Zhuang được phát hiện ở vùng này.
Trong mộ các xác người được chôn ở vị trí nằm co, một kiểu chôn rất hiếm ở
Trung Hoa nhưng rất nhiều và phổ thông ở Việt Nam. Như các mộ trong các hang
Đắng, Mộc Long tìm thấy ở rừng Cúc Phương, thuộc văn hoá Hoà Bình, người
chết chôn nằm co, bôi thổ hoàng đỏ và có các công cụ đá. Điều này chứng tỏ
là cư dân ở vùng này có nguồn gốc phương Nam và rất gần với văn hoá Hoà Bình
(9000 đến 5600BC) và Bắc Sơn (8300 đến 5900) ở Việt Nam.
Từ văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn đã tiến tới đồ đá mài với đặc điểm rìu
mài gọi là rìu Bắc Sơn, các đồ gốm, trang sức vỏ sò
được tìm thấy nhiều ở
các hang, di chỉ vùng Lạng Sơn, như hang Làng Cườm, Bó Lúm, Bó Nam... Ở
Quảng Tây, cũng tìm thấy được di chỉ của văn hoá Bắc Sơn vùng Nam Ninh, dọc
các sông Ung, Zua, You với các vỏ trang sức, đồ gốm, đất màu hoàng thổ, đồ
đá với loại rìu văn hoá Bắc Sơn.
So sánh với các di chỉ như Hemudu ở vịnh Hàng Châu, tỉnh Triết Giang và các
di chỉ bắc Quảng Đông, thì các di chỉ vùng biển xa phía nam sông Dương Tử,
vùng đông nam (Phúc Kiến, Quảng Đông) và tây nam (Quảng Tây, Vân Nam) có
liên hệ gần gũi với các di chỉ ở Việt Nam.
Qua thời kỳ đá mới, vào khoảng thời nhà Thương , một di chỉ phía nam sông
Dương Tử đáng chú ý là Wucheng ở Giang Tây (Jiangxi), quận Thanh Giang nơi
sau này là lãnh thổ của nước Việt miền Triết Giang, cạnh nước Chu. Di chỉ
này gần sông Tống (Song), dễ dàng thông thương với các lãnh thổ Việt ở vùng
Lĩnh Nam (Quảng Tây và Quảng Đông). Tại đây, tìm thấy nhiều chữ viết được
tìm thấy trên các mảnh gốm, đồ đồng, rất khác với chữ viết ở phía bắc, cho
thấy một ngôn ngữ và văn hoá hoàn toàn khác và độc lập với văn hoá trung tâm
phía bắc (8). Đây là chữ viết cổ nhất của ngôn ngữ Việt cổ. Tư liệu sử của
thời Chiến quốc cho thấy từ ngữ, văn phạm khác với tiếng Hán xưa. Có vài tác
giả cho rằng tiếng nói xưa của người Việt là thuộc Thái ngữ, gần với tiếng
nói của cư dân miền Lĩnh Nam, mà hậu duệ hiện nay là người Nùng - Zhuang ở
biên giới Việt-Trung ngày nay, và người Việt ở đồng bằng sông Hồng.
Cả hai thuộc vào họ Bách Việt mà ta có thể xếp vào nhóm Lạc Việt (Luo Yue) ở
đông nam Quảng Tây và bắc Việt Nam và Tây Âu (Xi Ou) ở miền Quế Giang và Tây
Giang của Quảng Tây. Và chính tại các vùng này từ Lĩnh Nam, Vân Nam và bắc
Việt Nam mà ta tìm thấy trống đồng nhiều nhất, một văn hoá trống đồng rực rỡ
mà ta gọi là văn hoá Đông Sơn toả ra từ Bắc Việt Nam. Các hình vẽ người,
thú, thuyền, trống... nổi tiếng trên vách đá ở biên giới Việt - Trung, dọc
sông Zuo, Quảng Tây mang đậm nét hình trên trống đồng Đông Sơn của người Lạc
Việt. Cũng như các vật tổ của người Nùng - Zhuang như cóc, ếch đều có thể
hiện trên trống đồng.
(2) An Dương Vương và Tây Âu của Tày - Nùng
Hiện nay, chúng ta đã rõ về An Dương Vương Thục Phán từ Tây Âu chinh phục
nước Văn Lang của người Lạc Việt đời các vua Hùng. Tây Âu là một nhánh của
Lạc Việt ở miền núi trung du, hay gọi là Âu Việt. Người Âu Việt đây chính là
người Tày cổ. Theo truyền thuyết "Cẩu chủa cheng vùa" (chín chúa tranh vua)
của đồng bào Tày ở Cao Bằng thì Thục Phán là con của Thục Chế thủ lãnh vùng
Nam Cương ở Cao Bằng, Quảng Tây gồm 9 xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương,
Thục Phán hãy còn ít tuổi lên thay vua cha vừa mất. Các chúa Mường kéo quân
về đòi chia và nhường vua. Tuy ít tuổi, nhưng thông minh, Thục Phán đã bày
ra các cuộc thi, đua sức đua tài và hẹn ai thắng sẽ nhường vua cho. Ông dùng
mưu kế làm cho họ mất nhiều công sức mà không ai thắng cuộc. Cuối cùng các
chúa phải qui phục Thục Phán. Khi Nam Cương cường thịnh lúc Văn Lang suy
yếu, Thục Phán đã đánh chiếm và tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa,
gần Hà Nội (1)(3)
Đây là một truyền thuyết dân gian ở Cao bằng, được Lê Sơn viết thành trường
ca hơn ngàn câu viết bằng tiếng Tày. Lã Văn Lô (1)(3) dịch ra bằng tiếng
Việt năm 1963 và đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Theo Phan Huy Lê
(3), vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một số tác giả người Pháp khi
viết về lịch sử người Tày, có nhắc đến truyền thuyết này, nhưng không công
bố tư liệu.
(3) Nùng Trí Cao với Nam Thiên quốc và Nam Việt
Cách đây vài năm (1998), ở Quảng Tây một số các hội người Nùng-Zhuang đã
quyên góp và tổ chức một buổi lễ khánh thành tượng kỷ niệm người anh hùng
của dân tộc họ, Nùng Trí Cao (chữ Hán: 儂智高; 1025-1055). Trong buổi lễ, trong số hiện diện của các
khách mời, có vài đại diện của chính quyền địa phương ở Nam Ninh (Quảng
Tây). Trong một bài của nhà nghiên cứu lịch sử về Nùng Trí Cao, giáo sư
Anderson nói rằng trong buổi lễ, các viên chức ở Quảng Tây , mặc dầu cổ võ
văn hoá dân tộc địa phương nhưng cũng thố lộ tỏ vẻ lo ngại về vấn đề Nùng
Trí Cao vì sợ có khuynh hướng ly khai của người Nùng - Zhuang.
Trong lịch sử, Nùng Trí Cao suýt nữa thành công chiến thắng nhà Tống trong
một trận đánh quyết định (Đèo Côn Lôn gần Ung Châu nay là Nam Ninh) thành
lập một nước gồm Quảng Tây, Quảng Đông, một phần Vân Nam và vài vùng Bắc
Việt Nam. Theo nhà sử học Barlow (8) và Huang thì đây là trận đánh có ý
nghĩa quyết định của lịch sử người Nùng - Zhuang, cũng như trận đánh lịch sử
Hastings đối với người Anh và Waterloo đối với Pháp. Nếu vận mệnh chiến
trường thay đổi, thì có thể đã có một nước Nùng - Zhuang ở giữa Việt Nam và
Trung quốc, và chắc sẽ có liên hệ chặc chẽ với nước Thái và Lào hiện nay,
cùng họ Thái ngữ với họ.
Năm 1039, Nùng
Tồn Phúc, thủ lãnh châu Thảng Do chiếm các châu của các thủ lãnh lân cận và
xưng vua là Chiêu Thánh hoàng đế, đặt tên nước là Trường Sinh, không nộp
cống xưng thần với Đại Cồ Việt. Vua Lý Thái Tông thân chinh đi dẹp đánh, bắt
sống Tồn Phúc giết, chỉ có vợ là A Nùng và con là Nùng Thí
Cao lúc đó 14 tuổi trốn thoát.
Trí Cao sau này cùng mẹ từ động Lôi Hỏa trở lại châu Thảng Do, chịu thần
phục Đại Cồ Việt và nhà Tống. Sau này muốn độc lập, tự đổi châu thành nước
Đại Lịch (còn gọi là Đại Lí quốc, liên hệ với nước Đại Lí gốc Thái ở Vân
Nam, trước kia gọi là Nam Chiếu). Lý Thái Tông bỏ qua sự tình và phong cho
Trí Cao vài vùng điạ phận chung quanh với chức Thái Bảo, nhưng Cao chỉ muốn
độc lập. Nhà Lý mang quân đánh, bắt sống được Trí Cao mang về kinh sư. Vua
thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha
tội, cho giữ châu Quảng Nguyên như cũ, lại phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa,
Bình An, Bà và châu Tư Lang (nay là Trùng Khánh, Cao Bằng) nữa (ĐVSKTT).
Chính sự cư xử này của Thái Tông Phật Mã đã làm Trí Cao nhớ mãi. Thật sự
hành động của Thái Tông là muốn có vùng biên giới ràng buộc với Đại Cồ Việt
và là lá chắn độn hữu hiệu với Trung quốc nhà Tống. Một chính sách khôn khéo
và mềm dẻo.
Nùng Trí Cao từ bấy giờ nhắm vào đất Ung châu và các điểm yếu ở Quảng Tây.
Trí Cao mơ ước kết hợp tất cả dân Nùng-Zhuang ở Quảng Tây, Quảng Châu và bắc
Cao Bằng và vì thế đổi tên nước từ Đại Lý quốc sang Nam Thiên quốc. Ông dời
từ Long Châu đến An đệ châu vào sâu trong Quảng Tây (8). Qua sự tiếp xúc và
liên hệ với các thương gia từ Quảng châu lên vùng này mua vàng, ông biết
được giá trị kinh tế của vùng mình cứ lãnh và vị trí quan trọng của cảng
chiến lược Quảng châu đê thành lập một thủ phủ cho một nước.
Với sự cố vấn
của mẹ là A Nùng và các thương gia Quảng châu theo ông, ông
tiến đánh thành Ung châu, đây là hành động tuyên chiến với nhà Tống. Bài
hịch của Trí Cao tuyên ngôn độc lập và sự sống còn của người Nùng - Zhuang,
không khác chi chí khí của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt hay Trần Hưng Đạo :
"Tài sản của cả cuộc đời đã bị đốt hết trong các ngọn lửa của Trời. Không có
đường nào để chúng ta sống cả. Chúng ta sẽ chiếm lấy Ung châu, lấy Quảng
châu làm căn cứ kinh đô và tuyên bố độc lập với các đời vua sau này của
chúng ta. Nếu không làm điều này, thì dân tộc chúng ta sẽ chết." (8)
Sự nghi sợ xưa nay của nhà Tống đối với người Nùng - Zhuang đã trở thành sự
thật, quân Trí Cao chiếm nhanh chóng các đồn luỹ nhà Tống qua các vùng hành
quân, Ung châu lọt vào tay ông dễ dàng. Ông kế lấy Hưng châu (Heng zhou) và
các thành phố lân cận, tiếp theo là Ngô châu (Wuzhou) ở bên sông biên giới
với Quảng Đông. Chẳng bao lâu ông tiến đến Quảng châu và vây thành này. Cả
miền nam nước Tống nguy kịch, quân Tống cố thủ trong trận vây hãm 57 ngày
trước khi Trí Cao rút quân.
Nhà Tống bỏ hết
sức lực và tài nguyên vào việc đánh Trí Cao và Nam Thiên quốc. Nhà Tống treo
giải thưởng bắt, giết Trí Cao với 3 000 quan, 2 000 bộ vải và chức quan lớn,
A Nùng với 3 000 quan và chức quan nhỏ, 2 thương gia
cố vấn với 1 000 quan và chức vị. Nhà Tống coi bà mẹ nguy hiểm hơn các cố
vấn, do sự hiểu biết về vị thế phụ nữ trong xã hội Nùng - Zhuang, so với nam
phụ hệ của Hán Hoa (8).
Từ Quảng châu, Trí Cao tiến lên phía bắc đánh bại các cánh quân tiếp viện
của nhà Tống, sau đó trở lại nam và về Quảng Tây. Tại đây ông dưỡng quân và
làm các chiến thuyền sửa soạn đánh Quảng châu lần nữa và cương quyết lập một
nước độc lập với tên hiệu là Nam Việt tại thủ phủ Quảng châu. Từ Việt đã cho
thấy vẫn còn khêu gợi và hấp dẫn của các giống dân vùng Lĩnh Nam mà Nùng -
Zhuang là một nhánh Bách Việt.
Triều đình nhà Tống gởi quân đến đánh Ung châu nhưng các tướng lãnh bị Trí
Cao đánh bại và giết cả. Cuối cùng vua Tống gởi tướng Địch Thanh (Di Quing),
đã chinh chiến 25 trận trong 4 năm đánh Tây Hạ. Địch Thanh là tướng đã đi từ
chức binh sĩ trong quân đội lên được chức tướng qua những chiến công, chiến
lược ông đạt được. Khi còn là binh sĩ, ông đã từng bị xâm hình vào mặt để
khỏi phải đào ngũ trong chiến trường (8). Sau này vì thế ông thường mang mặt
nạ làm bằng bạc để che sự thẹn khi xưa.
Với một tướng tài, nhà Tống giao hết cho ông các binh lính và 32 tướng lãnh
chỉ đạo đánh Trí Cao. Địch Thanh mang thêm kỵ binh của bộ lạc người Phan Lưu
(Fan-luo) ở Tây Bắc Trung quốc xuống đánh. Theo sử liệu thì "những kỵ binh
này có thể đi lên và xuống núi như đi trên đất bằng" (8).
Biết được sự quyết tâm sống còn của nhà Tống với Trí Cao và Nam Thiên quốc,
Lý Thái Tông đánh tiếng ngoại giao gợi ý xin giúp quân Tống với 20 000 quân.
Lúc đầu, tướng vùng Quế châu chấp nhận sự viện trợ này. Nhưng sau đó vua
Tống hỏi Địch Thanh vấn đề này thì Địch Thanh khuyên bác bỏ vì không lẽ lại
nhờ quân Việt và sau này người Việt có thể ở lại không về (8). Theo tôi thì
đây chỉ là chiến thuật ngoại giao của Lý Thái Tông vì ta biết sau này khi
Trí Cao thua, ông đã gởi viện binh giúp Trí Cao.
Địch Thanh biết là ưu diểm của quân Nùng - Zhuang là di dộng nhanh chóng
trên vùng núi. Đất bằng chung quanh thành phố Ung châu (nay là Nam Ninh) nơi
Trí Cao trú đóng được tách với các đất bằng ở phía bắc và đông bởi các dãy
núi cao và đèo Côn Lôn là con đường duy nhất mà quân lính có thể di động
nhanh chóng. Địch Thanh trong đêm tối đã mang quân đi bộ 25 km liền âm thầm
đánh đồn cao ở đèo Côn Lôn. Mất đèo chiến lược Côn Lôn là một tổn thất thảm
hoạ của quân Nùng - Zhuang. Nếu quân Nùng - Zhuang đánh quân Hán khi họ mới
tiến lên đèo thì từ trên cao quân Trí Cao vói thế di động chắc chắn sẽ đánh
bại Địch Thanh. Trí Cao giờ đây chỉ còn có hai chọn lựa, một là giữ thành
Ung châu hoặc là đánh dàn quân hai bên trực tiếp ở đất đồng bằng chung quanh
Ung châu.
Trí Cao chọn phương thức thứ hai đối diện trực tiếp với Địch Thanh trong
trận đánh lịch sử giành độc lập cuối cùng của dân tộc Nùng-Zhuang. Đó là
tháng một năm 1054.
"Quân Nùng - Zhuang tấn công với y phục dân tộc rực rỡ và theo hàng ngang cổ
điển gồm các nhóm 3 người. Một trong hai tướng Tống dưới quyền Địch Thanh tử
trận. Bức tường bộ bình theo hàng ngang của quân Nùng-Zhuang là một chiến
tuyến không ngắt đoạn. Nếu một lỗ hổng trên "bức tường" thì địch thủ có thể
lợi dụng để chọc thủng bằng kỵ binh và đánh áp từ đằng sau, và đằng trước
thì bộ binh và cung thủ đánh kẹp lại. Đây chính là điểm yếu mà tướng tài
Địch Thanh đã lợi dụng tìm chỗ hở này bằng cách thay đổi liên tục đội hình
dàn binh của quân Tống, để bắt buộc quân Trí Cao phải thay đổi đội hình theo
và do đó có sự rối loạn trong cách điều binh dàn trận. Quân của Địch Thanh
đã được huấn luyện và thay đổi đội hình nhanh chóng có kỷ luật đã làm quân
Nùng-Zhuang lúng túng và rối loạn lúc dàn đội hình. Khi thấy có một lỗ hở
của bức tường quân Nùng-Zhuang, Địch Thanh liền tung ra một đội quân bộ binh
đặc biệt chặt chém các khiên giáp của quân Nùng-Zhuang với rìu và gươm lớn.
Khi bức tường đã bị chọc thủng, kỵ binh người bộ lạc Phan Lưu ùa vào. Bị kẹp
giữa hai hướng tấn công sau và trước, quân Trí Cao vỡ và tháo chạy để lại 3
000 tử trận. Địch Thanh vào thành Ung, bắt và xử tử các tướng, quan lại của
Trí Cao và lấy đi số lượng lớn vàng bạc, ấn chiếu, ... Trí Cao, A Nùng và
tuỳ tùng bỏ chạy đi Vân Nam đến nước Đại Lý. A Nùng và các con Trí Cao không
lâu bị bắt bởi quân Hán và bị xử tử. Số phận Trí Cao không rõ. Tống sử chỉ
nói là Trí Cao chết ra sao không ai biết.
Cuộc chiến tranh lập nước (Nam Thiên quốc, Nam Việt) của
Nùng Trí Cao thất
bại. Lý do cơ bản là các nhóm Nùng-Zhuang chưa hoàn toàn đoàn kết, các thủ
lãnh họ Hoàng và họ Cen không gia nhập nhóm họ Nùng của Trí Cao. Lý do nữa
là người Hán và nhà Tống đã chia rẽ và ảnh hưởng nhiều ở các vùng người
Nùng-Zhuang, Hán tộc đã chiếm lấy gần 30% dân số và các động (làng) người
Nùng không giữ vững được truyền thống như đình làng ở Việt Nam. Đó là những
lý do mà tại sao người Việt sau khi có Hai Bà Trưng, Lý Nam đế, Lý Phật Tử
và sau cùng là Ngô Quyền. Trong khi, người Nùng-Zhuang chỉ có Nùng Trí Cao
và không còn ai nữa.
Khởi nghĩa của
Nùng Trí Cao cũng cho ta thấy tư tưởng Việt bản địa và chính
sách đứng đắn thích hợp của nhà Lý đối với dân tộc anh em gần huyết thống
với nhau (cũng như văn hoá hoà hợp cộng hưởng của dòng Bách Việt) đã thành
công giảm bớt sự đụng độ giữa Nùng-Kinh và sau đó cùng nhau chống lại, chặn
đứng sự xâm lăng nam tiến Hán Hoa. Điều này tương phản với tư tưởng và chính
sách cựu nho của Minh Mạng gây ra sự khởi nghĩa của Nông Văn Vân lãnh đạo
người Nùng và Việt chống nhà Nguyễn sau này.
Tư tưởng và chính sách ngoại giao của Lý Thái Tông qua sự đối xử và hành ứng
với sự khởi nghĩa của Nùng Trí Cao thật sự đã giúp cho Đại Việt tránh nhiều
đao binh và làm thất lợi cho thế nhà Tống phải đối diện với quân của Trí Cao
tiến đánh để được tự chủ ở Quảng Tây và Quảng Đông. Sự kiện trong thời đầu
mà nhà vua mộ đạo Phật Lý Thái Tông bắt và tha tội cho Trí Cao qua thương
cảm vì cha, anh đã bị giết trước kia, không phải là một sai lầm như các nhà
sử nho học cứng rắn đời Lê sau này chỉ trích, mà trái lại là một điểm son và
có giá trị chiến lược sau này. Trí Cao về sau đã vì thế mà dồn sức khởi
nghĩa chống Tống và du di với Đại Việt.
Theo Toàn thư thì trong những tháng cuối của Trí Cao đánh Tống, ông thảm
bại, tuyệt vọng nhưng nhớ đến và gởi tướng mình Lương Châu đến Thái Tông xin
cứu viện. Thái Tông xuống chiếu cho chỉ huy sứ là Vũ Nhị đem quân cứu viện
nhưng quá trễ.
Ta hãy nghe nhà nho học cứng rắn, Ngô Sĩ Liên, chỉ trích tư tưởng Phật giáo
của Lý Thái Tông là nhu nhược ngu muội, đã tha tội cho Nùng Chí Cao trong
lời bàn của ông về thời kỳ của Lý Thái Tông (tức Lý Phật Mã).
Trong Toàn thư Sử thần Ngô Sĩ Liên nói :
"Sử khen vua là người nhân triết thông tuệ, có đại
lược văn võ, lục nghệ không nghề gì không tinh tường. Vì có tài đức ấy, nên
có thể làm mọi việc, song câu nệ về lễ yến hưởng vua tôi, đương
lúc đau thương mà cũng vui chơi, khiến cho đạo chí
hiếu có thiếu sót. Mê hoặc bởi cái thuyết từ ái của Phật giáo mà tha tội cho
bề tôi phản nghịch thì lòng nhân ấy thành ra nhu nhược, đó là chỗ kém."
Chính cái nhân bản của Thái Tông mới thực sự là nòng cốt trị nước yên dân
cho Đại Việt, Ngô Sĩ Liên đã hoàn toàn nhầm lẫn sai chiến lược. Không phải
đánh giết trừng phạt là cách trị của vua anh minh. Trước đây, ngay cả khi
Thái Tông đánh Chiêm Thành và thắng trận trên chiến trường, khi thấy tướng
quân hăng say giết địch thủ, ông đã cảm khái xuống lệnh "Kẻ nào giết bậy
người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha".
Vị trí của Trí Cao trong lịch sử người Nùng-Zhuang đã rõ. Nhưng còn đối với
Trung quốc và Việt Nam thì sao ?. Trong thời gian cách mạng văn hoá, giữa
thập niên 1960s, có sự tranh đấu về quan niệm mãnh liệt ở tỉnh Quảng Tây tự
trị. Quan niệm của cánh tả là xem tất cả là cùng một đại gia đình người Hoa
vô sản, và nghi ngờ kết án những gì mà họ cho là nhớ tới các anh hùng "thiểu
số". Quan điểm hiện nay của Trung quốc là Nùng Trí Cao là một anh hùng thiểu
số chống chế độ phong kiến. Trong những thập niên 1980s khi Trung quốc và
Việt Nam còn đối nghịch thì Việt Nam đôi khi nhận Trí Cao là một người con
của đất Việt (8), trong khi những thời kỳ trước đó còn hoà hoãn và thân
thiện cho Trí Cao là một cá thể nhiều tính chất Trung quốc hơn. Trong sử
liệu Trung quốc cũng thường cho là cuộc khởi nghĩa của Trí Cao là một biến
cố trong các sự quan hệ giữa Trung quốc và Việt Nam.
Quan niệm cổ điển của Trung quốc cho rằng tất cả các xã hội tiến lên từ xã
hội bộ lạc đến xã hội nô lệ và sau đó đến xã hội phong kiến. Theo quan điểm
này, xã hội người Nùng-Zhuang là xã hội nô lệ trước thời nhà Tống, vì thế họ
không thể và chưa có được một nhà nước. Ho chỉ được mang vào tiến trình xã
hội phong kiến khi có sự nối chặt và liên hệ với xã hội Hán Hoa sau này (8).
Theo tôi thì quan niệm này thực sự là một hình thức của quan điểm trọng Hán
khinh Man mà người Hoa Hán thường coi các dân tộc phương Nam.
Giáo sư Hoàng Tiên Phan (Huang Xienfan) ở Quảng Tây, một giáo sư Nùng nổi
tiếng về lịch sử người Nùng-Zhuang, đã lý luận rất thuyết phục khi cho rằng
quan điểm trên hoàn toàn không đúng với xã hội người Nùng-Zhuang. Ông cho
rằng những sự kiện và các trường hợp trong sự xâm lăng của nhà Tần vào năm
221BC xuống Lĩnh Nam xâm chiếm các nước Đông Âu, Tây Âu, Mân Việt và Nam
Việt chứng tỏ ở thời điểm đó người Nùng-Zhuang đã thành lập một vương quốc
nhà nước độc lập rồi (xin xem thêm, bài của F. Morton trong hội nghị Berkely
về nguồn gốc văn minh Trung Hoa (9)). Chính quan điểm này của ông mà ông đã
bị kết án từ năm 1957 là một người Nùng-Zhuang tách li khỏi "tổ quốc Trung
Hoa" (8). Chỉ sau này trước khi ông mất, ông mới được hồi phục.
(4) Về sự việc cắt đất cho nhà Minh của họ Mạc
Trong một số sách sử, sự kiện nhà Mạc qua Mạc Đăng Dung dâng đất cho nhà
Minh là một trong vài lý do mà qua các triều đại sau này (ngay cả cho đến
cách đây không lâu) đã lên án gay gắt. Nhưng sự thật thì không đúng vậy và
lý do chính là sự thù hận và thiên vị của các người chiến thắng viết sử về
sau đối với một triều đại mà họ gọi là "Nguỵ triều" trong lịch sử Việt Nam.
Sự bảo lưu của tư tưởng này kéo dài từ Lê - Trịnh đến nhà Nguyễn, qua các
sách sử từ "Đại Việt thông sử" của Lê Quí Đôn, "Đại Việt sử ký toàn thư" của
Ngô Sĩ Liên cho đến sử quán nhà Nguyễn đối xử với "nghịch thần" và "nguỵ
quyền". Với những lăng kính như vậy, các sự kiện đều bị thiên vị và mang
tính chất cảm năng hơn là sự kiện trung thật theo lý trí. Ngày nay qua các
nghiên cứu và không còn vướng với gánh nặng ý thức hệ của lịch sử, chúng ta
được biết vấn đề hoàn toàn khác với kết luận của sử cũ.
Đặc biệt là vấn đề "dâng đất", chỉ có hai quyển sử viết và kết tội về việc
này : Đại Việt Sử ký Toàn thư và Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim. Ngay
cả các sách của Lê Quý Đôn và của sử quán nhà Nguyễn thiên vị chống "nguỵ
triều" cũng không viết đến các đất dâng (Lê Quý Đôn) hay dè dặt và nghi ngờ
là sự dâng đất là không đúng sự thật (Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam
nhất thống chí, Lịch triều hiến chương). Các sách của sử quán nhà Nguyễn
thường dẫn lại các thư tịch Trung quốc và vì thế hoài nghi sự dâng cắt đất
trong Toàn thư.
Theo "Đại Việt Sử ký Toàn thư" (Toàn thư) thì "Năm Mậu Tý (1528) : Đăng Dung
sợ nhà Minh đem quân hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu
Quy, Thuận và hai hình người bằng vàng và bạc, cùng là châu báu, của lạ, vật
lạ. Vua Minh thu nhận. Từ ấy Nam Bắc lại sai thống sứ đi lại". Giáo sư Đào
Duy Anh, khi hiệu đính bản dịch Toàn thư đã chú thích việc này là "Hai châu
Quy, Thuận thì nhà Tống đã chiếm từ đời nhà Lý nước ta rồi". Vả lại "Minh
sử" không hề chép chuyện này. Hai châu Quy Hoá và Thuận An, do hai thủ lãnh
Nùng Chí Hội, Nùng Tôn Đản đời Lý quy phục nhà Tống và nộp cho họ, về sau
trở thành hai châu Quy Thuận (Quy Dịn theo tiếng Tày-Nùng-Zhuang) thuộc tỉnh
Quảng Tây (7).
Toàn thư lại viết : "Năm Canh Tý (1540), mùa đông
tháng 11, Mạc Đăng Dung ... đến bò rạp ở mạc phủ nước Minh, rập đầu quỳ
hàng, dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai, quân dân, quan chức trong
nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An
Lương, La Phù của Châu Vĩnh An trấn Yên Quảng cho xin nội thuộc, lệ vào Khâm
Châụ"
(Nguyễn Đức Hiệp chú thích : từ động, tiếng Tày-Nùng-Zhuang có nghĩa là ấp,
làng. Tiếng Việt cổ cũng có nghĩa tương tự như vậy).
Việc "xin hàng" này "Minh sử" quyển 32 có chép (7), nhưng không hề chép việc
cắt đất mà chỉ viết vào năm Gia Tĩnh 20(1541), Mao Bá Ôn về triều tâu là Mạc
Đăng Dung "đã trả lại đất 4 động đã xâm chiếm, xin nội phụ xưng thần". Theo
như vậy thì nhà Mạc chỉ trả lại đất xâm lấn, chứ không cắt đất cho nhà Minh.
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn đã không nói gì đến việc nhà Mạc dâng các
động cho nhà Minh. Việc này ông có giải thích tai sao trong Kiến Văn tiểu
lục: "Đọc Thù vực chu tư lục của Nghiêm Tòng Giản đời Minh biết được đầu
cuối việc nhà Mạc hàng nhà Minh". Lê Quý Đôn là người học rộng tham khảo và
đọc rất nhiều sách Trung quốc.
Theo thư tịch Trung quốc như Khâm Châu chí và An Nam chí, ta xác định là đây
là những đất (động) "của" nhà Minh trước đó do các trưởng động người Nùng
không chịu thần phục nhà Minh, đã đến xin nhập vào đất Việt Nam thời nhà Lê
và họ Mạc, sau đó trả lại. Khâm Châu chí chép : "Bảy động Chiêm Lãng, Thì
La, Tư Lặc, Liễu Cát, Cổ Sâm, Tư Lẫm, La Phù nguyên là đất ba quận Thì La,
Chiêm Lãng, Như Tích đời Tuyên Đức nhà Minh, bọn Hoàng Kim Quảng, trưởng
động Tư Lẫm làm phản, chiếm cứ Tư Lẫm, La Phù, Liễu Cát, Cổ Sâm nhân đấy uy
hiếp cả động Tư Lặc cùng tuần ty kênh Phật đào gồm chín thôn, dăng dài hơn
hai trăm dặm để phụ về nước An Nam. Họ Lê phong cho các chức Kinh lược sứ,
Kinh lược đồng tri và Thiêm sự mà vẫn nối đời giữ đất và thuộc vào châu Vạn
Ninh..."
Đại Nam nhất thống chí dưới triều Nguyễn cũng thừa nhận sự kiện trên và viết
thêm : "nhà Mạc xin nộp các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát.. thuộc
châu Tĩnh Yên, trấn Yên Quảng, nguyên thuộc về Khâm Châu". Lịch triều hiến
chương, phần Bang giao chí đã trích lời trong tờ biểu nhà Mạc dâng vua Minh
năm 1540 : "còn như việc quan thú Khâm Châu thuộc Quảng Đông tâu rằng bốn
động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích và Thiếp Lãng
là đất cũ của Khâm Châu, Quảng Đông, nếu quả thực như lời ấy thì đó lại là
cái lỗi mạo nhận của họ Lê trước, nay thần xin trao trả lại để thuộc về Khâm
Châu".
Xưa kia Nhà Tây Sơn cũng bị quốc sử quán nhà Nguyễn xuyên tạc khá nặng, vì
đối với họ Tây Sơn là một "nguỵ triều" cũng như nhà Mạc trước kia. Tuy vậy
giờ đây đa số người Việt hiện nay cho là nhà Tây Sơn là một triều đại chính
thống và anh hùng trong lịch sử Việt Nam, không phải là một "nguỵ triều"
nữa. Đó cũng là một phần do ảnh hưởng của cụ Trần Trọng Kim viết "Việt nam
sử lược" đã giải cho Nhà Nguyễn Tây Sơn khỏi phải lăng kính cực thiên vị của
các sách sử chính thống của nhà Nguyễn theo nguyên tác. Tuy vậy, cụ Trần
Trọng Kim đã không làm một việc làm tương tự, nghiên cứu kỹ hơn, đối với một
"nguỵ triều" xa hơn nữa trong lịch sử Việt nam : Nhà Mạc. Ông Lê văn Hoè
trong bài nghiên cứu đăng ở báo Thời Mới năm 1951 đã tranh luận về đánh giá
nhà Mạc sau khi Việt Nam Sử lược được xuất bản và cho thấy Trần Trọng Kim đã
sai và chưa công tâm khi đã nặng lời biếm nhục Mạc Đăng Dung một cách khắt
khe gay gắt.
Hiện nay đã có một số lượng khá lớn nghiên cứu và viết lại đúng hơn về nhà
Mạc kể cả các thành tựu về tư tưởng, văn hoá, văn học xứng đáng là một triều
đại chính thống và anh minh.
(5) Khởi nghĩa Nông Văn Vân và tư tưởng Minh Mạng
Ngược lại với tư tưởng nhà Lý và chính sách gắn liền bình đẳng với các dân
tộc miền núi. Chính sách tập quyền theo nho học cứng rắn của Minh Mạng theo
một mô hình truyền thống của Trung Hoa, không khoan nhượng với các sự khác
biệt, coi thường các mọi tộc kể cả "Tây dương", đóng cửa thương mại và đuổi
người ngoài, đã đưa chính quyền nhà Nguyễn đến sự đụng độ không tránh khỏi
về ý thức hệ và văn hoá với dân tộc miền Việt Bắc. Sau khi dẹp xong sự nổi
dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định miền Nam chống lại sự bất công độc đoán của
Minh Mạng, chính sách khắc nghiệt cứng rắn và coi thường miệt thị dân "Thổ"
(Tày và Nùng ngày nay) của Minh Mạng đã đưa đến sự nổi dậy của người
Tày-Nùng và người Kinh (Việt) ở Cao Bằng, Lạng Sơn dưới sự lãnh đạo của Nông
Văn Vân.
Một đoạn sau đây trong bài hịch của Nông Văn Vân phần nào nói lên lý do của
cuộc khởi nghĩa (5)
" Mười lăm năm đức chính có chi
Kho hình luật vẽ nên hùm có cánh
Ba mươi tỉnh nhân dân đều oán
Tiếng oan hào kêu dậy đất không lông.."
Bài hịch chĩa thẳng vào "15 năm đức chính" của Minh Mạng gây oán hờn cho
nhân dân của cả 30 tỉnh trong nước chứ không phải vì vài viên quan hèn kém ở
Cao - Lạng mà thôi. "Hùm có cánh" do chữ "hổ sinh dực"; ở đây có ý nhạo báng
"đức chính" và "hình luật" của Minh Mạng. "Đất không lông" do chữ "bất mao
chi địa", vừa có nghĩa là đất cằn cỏi trơ trụi, vừa có nghĩa làng xóm bị vơ
vét sạch do chính sách bóc lột, hà khắc.
Minh Mạng cũng đã đưa chiếu vừa dụ dỗ vừa đe dọa :
"Lũ chúng mày dẫu là người Thổ, nhưng đều là con đỏ của triều đình, từ
trước ăn nhờ đức hóa, hơn 40 năm yên vui biết là nhường nào. Nay bi giặc Vân
cám dỗ để nhọc quan quân tiến đánh, chúng mày cũng vì thế mà lìa vợ con, mất
gia sản, chúng mày có vui gì mà đi làm giặc... Theo triều đình thì thuận mà
lợi, theo giặc Vân thì nghịch mà hại... Nếu không nghe lời thì quân ta đến
nơi sẽ tàn sát không để sót, cửa nhà vợ con đều ra tro, hối cũng không kịp
nữa"
Bài học của cuộc khởi nghĩa Nông Văn Vân là ta phải trở lại với tinh thần
thích nghi và uyển chuyển của văn hoá Việt từ nghìn xưa, với dân gian, với
dân tộc có nhiều gắn bó mật thiết với văn hoá anh em của giống Bách Việt ở
trung du. Bác bỏ đi văn hoá ngoại lai Tống nho cứng ngắc, du nhập từ thiên
triều Trung quốc và áp dụng mù quáng bảo thủ khắp triều đình và đất nước.
Nhưng bài học trên đã hoàn toàn lọt ra ngoài sự hiểu biết ở Minh Mạng (và
các vua sau này cho đến khi Pháp đánh Việt Nam thì đã quá trễ) sau khi Minh
Mạng được tin báo Nông Văn Vân đã chết và loạn bị dẹp yên sau 2 năm khởi
nghĩa, đã mừng rỡ "truyền mở tiệc rượu mua vui, sai cung tần khoác tay
nhau làm kiệu rồi ngồi mà múa. Hô liền mấy tiếng : Cao Bằng yên rồi ! Cao
Bằng yên rồi !" (5). Nỗi vui mừng không kềm chế của Ming Mạng chứng tỏ
ông và cả triều đình hoàn toàn không hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược và tư
tưởng trong ý thức hệ của cuộc khởi nghĩa.
III VĂN HOÁ - GIAO LƯU VĂN HOÁ VIỆT - TÀY - NÙNG
Có nhiều điểm tương đồng về nguồn gốc và khiá cạnh giao lưu văn hoá
Việt-Tày-Nùng. Vì phạm vi, ở đây, tôi chỉ phân tích về một khía cạnh : quan
họ vì nó có nguồn gốc xa xưa, ngay đến tận thời kỳ lập nước, thời đại đồ
đồng qua họa hình, hoa văn và thư tịch cổ Trung hoa về người Bách Việt. Vì
thế, nếu nói nguồn gốc quan họ là do một viên quan đời Lê sáng chế ra như
Toan Oánh đã mô tả thì chưa phải có bằng chứng điền dã và dân tộc học rõ
ràng và chắc chắn là không đúng.
Thật sự tục hát quan họ đã có ít nhất là từ thời Lý-Trần và xưa hơn nữa từ
tục lệ cổ của dân tộc Việt ở Kinh Bắc và các dân tộc khác ở miền trung du.
Hát quan họ có liên hệ mật thiết với cách hát Lang, Lượn của dân tộc Tày. Và
có thể có sự liên hệ xa hơn nữa với lối hát giữa trai gái của dân tộc Châu
Ro ở Đồng Nai phía Nam. Hát quan họ cũng có sự đóng góp của công đồng tù
binh Chàm định cư ở Kinh Bắc thời Lý-Trần. Nói chung tất cả các lối hát có
nguồn gốc xa xưa ở tục lệ dân tộc là sự liên hệ trai gái , trao đổi tán nhau
trước khi đi đến quan hệ tình dục lẫn nhau hay trong tập thể. Không phải
tình cờ mà hội hát quan họ bắt đầu lúc đầu xuân khi vạn vật trổi mở, cây cối
phát sinh, đồng áng trù phú và con người nảy nở đi đến vui chơi và cơ hội
sinh sản (fertility rites). Tất cả các lối hát trai gái trên đều có nguồn
gốc chung ở các dân tộc xưa cổ Đông Nam Á ở bán đảo Đông Dương.
Tôi sẽ trình bày và đưa ra một vài dữ kiện cũng như các nhận xét từ các
nghiên cứu của nhiều nhà sử học, ngôn ngữ và dân tộc học từ trước và gần đây
để cho chúng ta thấy nhiều khía cạnh trong việc tìm hiểu về nguồn gốc hát
quan họ
Sở dĩ có nhiều thuyết về nguồn gốc quan họ là cũng là do nguồn gốc lối hát
này bắt nguồn từ xa xưa trong xã hội Việt ở Kinh Bắc, cái nôi của văn hoá
bản xứ Việt, và không ai biết nó bắt đầu từ khi nào.
Các nhà nho học đời Lê thường cố gắng hạ thấp giá trị của văn hoá dân dã
thay vào đấy bằng những giá trị của quan triều (cũng như điạ danh Nôm dân dã
đã bị "bác học" hoá và biến hết dấu vết). Kiểu như trên thì trong sử liệu
đầy rẫy cho nên ta phải cẩn thận và nhiều khi phải dựa vào điền dã, và nhiều
dấu vết khảo cổ, dân tộc học để bổ sung và tìm ra căn ngơ. Cho rằng nguồn
gốc quan họ là do một cá nhân quan triều đời Lê là khó tin. Cũng như các
giấc mơ của vua, chúa hay nhiều huyền thoại để giải thích tâm linh và hoạt
động văn hóa hay tín ngưỡng của người Việt. Đây cũng là hậu quả tự ti về văn
hoá bản xứ dân dã người Việt của các nho thần đời Lê. (Cũng vậy ta không thể
hiểu được chiến tranh Việt-Pháp hay Việt-Mỹ nếu chỉ đọc qua hay dựa vào một
vài sách hồi ký của vài nhà lãnh đạo hay tướng lãnh )
(1) Quan họ thuở ban đầu, Quan họ và các lối hát của các dân tộc
Nếu chúng ta bàn về Quan họ Bắc Ninh và trong vùng Kinh Bắc mà không nói về
sự liên hệ của lối hát này và các lối hát của các dân tộc giáp chung quanh
vùng Kinh Bắc thì là một thiếu sót lớn.
Đặc biệt là Quan Lang, Lượn và Phong Slư của người Tày và Nùng. Quan Lang là
lối hát giao duyên giữa đàng trai và gái trong lễ cưới trong khi Lượn và
Phong Slư là lối hát giao duyên trong các lễ hội, ngoài đồng, rừng đồi trong
công việc thường ngày.
" Trong nền dân ca Việt nam, dân ca quan họ Bắc Ninh là một loại dân ca
rất đẹp về mặt trữ tình, chủ yếu là tình yêu trai gái, điều này đã được các
nhà nghiên cứu nhận định thống nhất. Đọc và tìm hiểu Quan họ, chúng tôi thấy
ở loại dân ca ưu tú này có khá nhiều điểm gần gũi với
dân ca Tày, Nùng nói chung với lượn và phong slư nói riêng , gần gũi về "nội
dung đậm tính chất trữ tình", về thể cách xây dựng hình tượng, về đề tài
và cả về lối ca hát nữa. Sự gần gũi này chứng tỏ rằng lượn và phong slư đứng
về mặt dân ca mà nói có nhiều điểm rất đặc sắc, không kém Quan họ Bắc Ninh.
Hơn thế nữa, Phong slư còn có phần mang tính trữ tình đậm đặc hơn. Có thể
nói tất cả những cung bậc về tình cảm lứa đôi, về tình yêu vợ chồng, về
thiên nhiên xứ sở đã tập trung, cô đọng trong từng bài phong slư. Trong cái
rừng âm thanh về tình yêu đó, nổi bật lên một tiếng nói rất đạo đức, rất phù
hợp với quan niệm tình yêu của nhân dân lao động cần được phát huy trong
cuộc sống ngày nay, đó là tiếng nói của một tình yêu chung thuỷ sắt son,
chung thuỷ cả trong "kiếp sau" nữa. "
(Vi Hồng - Vài suy nghĩ về hát Quan Lang, Lượn, Phong Lư, Tạp chí Văn Học,
3/1976, trang 50-61, Viện Văn học, Uỷ ban KHXH)
Điều này chứng tỏ rằng, đứng về dân ca và dân tộc học, Quan họ Bắc Ninh
không thể do sự sáng tạo của một cá nhân nào ở thời Lê sau này. Nó đã có từ
thời nghìn xưa giữa các dân tộc Kinh ở Kinh Bắc giáp giới với miền trung du
của các dân tộc Tày, Nùng.
Thế còn lối Hát giao duyên trong dân ca Châu Ro (Đồng Nai) thì sao ?.
"Lối hát giao duyên (xim pút) được hình thành trên mối quan hệ luyến ái
giữa các lứa đôi trong cộng đồng. Người Châu Ro theo chế độ mẫu hệ, nhưng
không phải vì thế mà cử chỉ tỏ tình chỉ biểu lộ ở người con gái hoặc ở người
con gái trước. Qua các bài hát giao duyên ta biết được, thường là người con
trai phải "mở lời ong bướm" trước ..."
(Trần Quang Huy - Âm nhạc dân gian của người Châu Ro, Tạp Chí Khoa Học Xã
hội số 28-II-1996, trang 161-169, Viện KHXH Tp HCM)
(2) Quan họ có nguồn gốc xa xưa
Thực ra, cái tục chơi xuân trong các hội hè đầu năm như tục hát đối
Quan họ,
hát Dặm hay Trống Quân ở xã hội Việt Nam xưa, không phải thuộc riêng cho dân
tộc Việt Nam, mà là cổ tục chung cho tất cả dân tộc nông nghiệp miền Đông
Á...
Maspero chẳng hạn, đã nghiên cứu về hội đầu xuân ở Yên Bái hay Nghiã Lộ
"Ngày hội ấy mở vào tháng ba, tháng tư, trước khi có hạt mưa rào và bắt
đầu vào công việc đồng áng. Chỗ hội họp là động Thẩm Lệ, có tiếng là nơi
linh thiêng, ngày thường không ai dám lai vãng, sợ đông chạm đến quỷ thần.
Nhưng đến ngày hội thì trai thanh gái lịch tự do kéo nhau lũ lượt vào động
để hát đối, giao duyên... Bên trai thắp các ngọn đuốc lên, tay cầm đuốc đi
diễu qua trước mặt các cô nàng, cố soi vào tận mặt để xem mặt. Khi một chàng
đã tìm thấy ý trung nhân rồi, anh ta bèn đứng trước mặt nàng rồi cất tiếng
hát. Nghe anh chàng xướng, hát xong, nếu cô nàng ưng ý thì liền ngồi xụp
xuống đất để tỏ ý bằng lòng. Nếu sau khi đã xướng hát rồi, chờ mãi không
thấy nàng ngồi xuống, ấy là anh ta biết cô nàng không bằng lòng, chỉ còn
cách đi khỏi. Ở trường hợp chàng được nàng ưng ý ngồi xuống rồi thì chàng
liền tắt đuốc đi và cùng ngồi xuống bên cạnh nàng. Bây giờ hai bên vịn vai
nhau mà hát đối, câu hát trao tình, càng ngày càng thân mật. "
Nói về hội xuân trong động Thẩm Lệ ở Yên Bái, Nghĩa Lộ, ông Nguyễn Đăng Thục
và ông Henri Maspero trong "Les religions Chinoises" đã nói như sau :
"Những hội hè ấy, nếu thiếu thì mùa màng không tốt, lúa không mọc. Chính
vào lúc người ta vừa xua đuổi khí độc của mùa đông đi rồi mới có cuộc phối
hợp giữa thanh niên thiếu nữ. Sự phối hợp giữa họ với trời, có mục đích như
khích động sự phát triển dương xuân. Nhờ cái đà ấy mà mà cái vòng thời tiết
của năm mới, mới bắt đầu, mầu mỡ của đất đai mới bảo đảm. Cũng như tất cả
những cuộc lễ bái tôn giáo nước Tàu xưa và hội hè mùa xuân có một tính cách
tín ngưỡng rõ rệt, hội Thẩm Lệ này nhằm mục đích giúp cho điều lý vận hành
của vũ trụ và nhất là giúp cho mùa xuân mở đầu cho sự phát triển của nông
nghiệp."
Tóm lại tục hội hè đình đám mùa xuân ở Á Đông có cái điểm đặc biệt này là
người ta tháo khoán cho sự giao dịch nam nữ, khỏi phải tôn trọng cái nguyên
tắc khắc khổ của Khổng Nho "Nam nữ thụ thụ bất thân". Đây là cơ hội độc nhất
trong một năm để nam nữ tự do gặp gỡ... Ở nhân dân Việt Nam tục ấy còn sót
lại trước đây hai ba chục năm ở các hội hè đình đám mùa xuân như hội Lim
trên kia với tục hát Quan họ.
Ở nhân dân miền núi phía Nam nước Tàu cho đến Tây Tạng, Nhật Bản, người ta
đều thấy tục ấy rất thịnh hành. Tính cách chung của tục này là
(a) Những câu hát bắt nguồn ở sự hát đôi giữa bên nam bên nữ ;
(b) Những câu hát hoặc là đố lẫn nhau, hoặc tỏ tình với nhau
(c) Trong các hội hè ấy tình cảm bồng bột khác thường và đi đến tình dục,
kết cục là một dịp hôn phối
(d) Hát đối thường có giữa trai của một làng với gái ở một làng khác, theo
cái cổ lệ ngoại tộc kết hôn (exogamie) hay kết hôn tập thể.
(Nguyễn Đăng Thục - Lịch sử tư tưởng Việt nam, Tập 1, Nxb Tp HCM, 1992).
Ngay cả các tư liệu xưa của Trung quốc có nói đến tục lệ hát giữa trai gái
trong hội đám người Zhuang ở Quảng Tây dưới mắt của các sứ giả và các người
Hán Hoa. Theo đó có những cuộc thi đối hát giữa trai và gái hay hai nhóm
trai và gái, đôi khi dùng các bài hát cổ điển đã có, nhưng thường thì tranh
nhau với những bài tự chế khôn ngoan đối đáp qua lại coi ai hơn ai. Các bài
đối hát, theo tiêu chuẩn Hán, thì rất là tục tiểu, ướt át, và thường là sau
các cuộc thi là dẫn đến tình dục tập thể, mà các tác giả người Hán để ý và
bình luận rất nhiều.
IV TỔNG LUẬN
Việt Bắc và cư dân là một "nửa" phần tạo thành con người và đất nước Việt
Nam. Tầm quan trọng của vùng cũng tương tự như đất "tổ" Vĩnh Phú của vua
Hùng nước Văn Lang và Kinh Bắc ở đồng bằng về phương diện tâm linh và văn
hoá. Ngày nay ta thường chú trọng về phần tổ đấy mà sao lãng một phần tổ thứ
hai ở trung du có nguồn gốc sâu sa đã cống hiến tạo thành văn hoá, đất nước
Việt Nam. Có nhiều lý do tại sao như vậy, nhưng trong lịch sử nếu ta nghiên
cứu một cách khoa học và gạt bỏ các lăng kính ngoại nhập làm loãng đi tính
chất nguyên thuỷ cội nguồn Việt, chúng ta có thể tìm thấy được một phần
nguồn gốc của mình tại vùng chiến lược quan trọng này.
Một trong những lý do là tư tưởng triết lý Trung hoa đã ảnh hưởng và bắt rễ
trong tri thức từ lâu trong lịch sử Việt Nam ở vùng "kinh" đồng bằng, pha
loãng một phần cội nguồn nguyên thuỷ. "50" người con lên vùng núi trong
truyền thuyết tổ tiên đã phai dần trong trí nhớ và tư tưởng của văn hoá Việt
hiện đại. Nếu có nhớ thì chỉ là một hình thức quen theo thói quen trong lời
nói nhưng không có một sự gạch nối cụ thể linh cảm đến tư tưởng và tâm linh
xưa. Đó không phải là lỗi của ai vì đó là sự phát triển trong thiên nhiên
khi có sự xa cách về địa lý và môi trường theo các biến cố của lịch sử trong
sự tiến hoá của xã hội con người.
Tuy vậy chúng ta cũng nên tìm hiểu và nhận thức quá trình trên vì Việt Bắc
cũng đã và sẽ là tương lai của quan hệ ngoại giao Việt-Trung, một quan hệ
quan trọng nhất về phương diện văn hoá, kinh tế và cá thể của Việt Nam. Hiểu
được lịch sử con người, quá trình văn hoá và vai trò của Việt Bắc là chìa
khoá giúp ta một phần phát huy một bản chỉ đồ tư tưởng thiết lập các quan hệ
chiến lược với Trung quốc siêu cường sau này.
Tham khảo
(1) Lã Văn Lô - Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền
thuyết "Cẩu chủa cheng vùa" của đồng bào Tày, Nghiên cứu Lịch sử 5--51,
6-1963.
(2) Nguyễn Đăng Thục - Lịch sử tư tưởng Việt nam, Tập 1, Nxb Tp HCM,
1992
(3) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt
Nam, Tập 1, 1983.
(3) Vi Hồng - Vài suy nghĩ về hát Quan Lang, Lượn, Phong Lư, Tạp chí
Văn Học, 3/1976, trang 50-61, Viện Văn học, Uỷ ban KHXH
(4) Trần Quang Huy - Âm nhạc dân gian của người Châu Ro, Tạp Chí Khoa
Hoc. Xã hội số 28-II³1996, trang 161-169, Viện KHXH Tp HCM
(5) Nguyễn Phan Quang, Khởi nghĩa Nông Văn Vân ở Cao - Lạng, Nghiên
cứu lịch sử (4/199), tháng 7,8 1981, trang 37-51
(6) Nguyễn Minh Tường, Nhà Mạc sau năm 1592, trong Mạc Đăng Dung
và vương triều Mạc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trang 113 -136
(7) Trần Quốc Vượng, Mấy vấn đề về họ Mạc, trong Mạc Đăng Dung và
vương triều Mạc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trang 156-168.
(8)
Jeffrey Barlow, The Zhuang : Ethnogenesis, Pacific University,
http://mcel.pacificụedúas/resources/zhaung/zhuangintro.htm
(9) Moron, F., Tribe to State or State to Tribe in Ancient China,
trong "The origins of Chinese Civilization", Berkeley, University of
California Press 1983, trang 467-493.
(10) Meacham, W., Origins and development of the Yue Coatal Neolithic: A
micrososm of Cultural Change on Mainland of East Asia, trong sách "The
origins of Chinese Civilization", Berkeley, University of California
Press 1983, trang 156-158.
Link
-
An Dương Vương
-
Người Tày
-
Dân tộc thiểu số
-
Quan họ Bắc Ninh
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Đức Hiệp
|