Những bài cùng tác giả

Sông Cửu Long là con sông lớn và dài nhất Đông Nam Á (hơn 4,800 km), bắt
nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua trong lưu vực của các nước Trung
Quốc (Vân Nam), Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Vùng
thiên nhiên rộng lớn này bao gồm cả sáu nước, với diện tích lưu vực
khoảng 7950000 km2, và khoảng 60 triệu người thuộc nhiều dân tộc khác
nhau sống dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực sông,. Vì
thế sự quản lý tài nguyên và môi trường của toàn hệ thống sông Cửu Long
đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế giữa các nước trong vùng. Trồng lúa
và đánh thủy sản là hai hoạt động kinh tế lớn nhất tuỳ thuộc hoàn toàn
vào hệ sinh thái của sông Cửu Long. Theo tư liệu của Ủy ban Mekong
(Mekong River Commission) thì thành phần cung cấp lưu lượng sông Cửu
Long có 16% lượng nước là từ Trung quốc, 2% từ Miến Điện, 18% từ
Cambodia, 35% từ Lào, 18% từ Thái Lan và 11% từ Việt Nam.
Ngoài sự khẩn hoang, phá rừng, đào kinh rạch, thì các hoạt động khác của
con người có ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái sông Cửu Long là các công
trình xây các đập thủy điện, thay đổi dòng chảy của sông, phá ghềnh và
vét lòng sông. Các đập thủy điện đã được xây ở Lào, Thái Lan, Việt Nam
trong thập niên 1990 và mới đây ở Trung Quốc (Vân Nam). Hiện nay các
công trình xây đập thủy điện đã ngưng ở Thái Lan nhưng ở 3 nước Lào,
Việt Nam, Cambodia và nhất là Vân Nam, Trung quốc các công trình thủy
điện khổng lồ đang được tiếp tục xúc tiến xây.
Hiện nay Trung quốc đã đưa vào hoạt động ba đập thủy điện Mãn Loan
(1993), Đại Chiếu Sơn (2002) với công xuất 1500MW và 1350MW, đập Cảnh
Hồng (tháng 6, 2008) công xuất 1500MW và đang khởi công xây đập thủy
điện khổng lồ Tiếu Loan với công xuất 4200MW, đập này dự định sẽ hoàn
thành năm 2012 với kinh phí khoảng 3 tỉ Mỹ kim. Đây là đập lớn thứ hai ở
Trung quốc chỉ sau đập Tam Giác (Three Gorges) ở sông Dương Tử.
Trung quốc đã đưa ra bản tường trình về hệ quả của đập Tiếu Loan. Theo
đó thì hệ quả qua ảnh hưởng môi trường rất là nhỏ và không đáng kể (1).
Theo Trung quốc thì các đập trên thượng nguồn có lợi là chúng sẽ điều
hoà, điều tiết lưu lượng nước của sông Cửu Long. Mùa khô nước sẽ được xả
ra và hạ nguồn do đó sẽ không bị thiếu nước. Trong khi vào mùa mưa, nạn
lũ lụt sẽ được giảm đi. Thêm nữa lượng nước tăng trong mùa khô sẽ làm
giảm nước mặn lấn vào đồng bằng sông Cửu Long ở hạ nguồn (Việt Nam).
Sự thật trên cơ sở khoa học thì sự việc sẽ không giống những gì mà họ
tiên đoán. Khi phù sa bị mất đi qua các đập trên, thì sự xói mòn qua
thủy triều ở biển Đông sẽ làm tăng lượng nước mặn lấn vào đồng bằng sông
Cửu Long rất nhiều. Đây là kết quả qua các mô hình nghiên cứu thủy văn
của ông Eric Wolenski ở Viện Nghiên cứu Hải Dương Úc (Australian
Institute of Marine Sciences) (3).
Cũng theo Trung quốc thì chỉ có 13.5% lượng nước chảy ra sông Cửu Long ở
Việt Nam là từ Trung Quốc, nên ảnh hưởng của các đập ở Vân Nam không
đáng kể. Nhưng họ đã bỏ quên không đề cập rằng thượng nguồn ở Trung quốc
cung cấp hơn phân nửa số lượng phù sa ở hạ nguồn. Ảnh hưởng về môi sinh
vì thế sẽ rất lớn. Trung quốc công nhận là lượng phù sa giảm sẽ cắt đi
nguồn thức ăn sinh thái của các sinh vật và số lượng thủy sản cá sẽ giảm
nhiều, cũng như có nhiều loại cá có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Thật ra cũng chính chỉ có 13.5% số lượng nước sông Cửu Long là từ thượng
nguồn ở Trung Quốc thì sự điều hoà lượng nước qua các đập ở Vân Nam để
tránh lụt rất là hạn chế khi mà vũ lượng mưa ở các vùng hạ nguồn sông
Cửu Long vào mùa mưa rất là cao.
Theo Viện nghiên cứu động vật ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam, thì trong 127
loại cá sinh sống ở lưu vực sông Lạn Thương giang (nhánh sông Cửu Long ở
thượng nguồn, chỉ có 4 loại cá di chuyển từ hạ nguồn lên thượng nguồn để
sinh sản ở vùng dưới của đập Tiếu Loan. Vì thế ảnh hưởng của các đập lên
hệ sinh thái là không đáng kể. Nhưng đây chỉ là kết quả sơ khởi của sự
nghiên cứu thực hiện ở Vân Nam, Trung Quốc, không qua hệ thống điểm bài
(peer review) một cách độc lập và khoa học.
Hiện nay có vài công trình nghiên cứu có độ xác tin cao về những ảnh
hưởng sinh thái của các đập ở Vân Nam. Có thể nói là công trình nghiên
cứu của ông Tyson Roberts, ở Viện Nghiên cứu Nhiệt đới Smithsonian (Mỹ)
và của ông Eric Wolenski ở Viện Hải Dương học (Úc) về sinh thái sông Cửu
Long và các rừng ngập mặn ở các cửa sông là có giá trị và độ tin cậy
cao.
Trước đây công trình nghiên cứu của ông Tyson Roberts ở Viện Nghiên cứu
Nhiệt đới Smithsonian về hệ quả của đập Pak Moon ở Thái Lan trên một chi
nhánh của sông Cửu Long đã cho thấy một hệ quả rất là tai hại trên các
loài cá ở sông Pak Moon và Cửu Long sau khi đập được xây xong (4). Lượng
cá sút giảm hơn 80%. Hơn nữa một loài cá trê lớn đặc biệt ở Lào và Thái
Lan trên sông Cửu Long đã trở thành rất hiếm và có nguy cơ bị tuyệt
chủng. Cuộc sống của ngư dân vùng bắc Thái này đã bị khó khăn và nhiều
người phải bỏ nghề. Trong cuộc nghiên cứu sơ khởi của ông Roberts về ảnh
hưởng các đập ở Trung Quốc, ông cho rằng ảnh hưởng của các đập sẽ có tác
hại không kém về môi sinh.
Gần đây Trung Quốc cũng đã phá ghềnh, vét lòng sông ở Vân Nam và vùng
biên giới Lào-Trung Quốc để cho tàu bè đi lại dễ dàng giữa Thái Lan, Lào
và Vân Nam. Phá ghềnh và vét lòng sông cũng sẽ rất có ảnh hưởng đến hệ
sinh thái sông Cửu Long.
Việc phá ghềnh, các cồn đất, vét lòng sông mà Trung Quốc đã và đang tiếp
tục làm bắt đầu từ năm 2002, nhất là từ khi có sự thoả thuận với các
nước biên giới quanh Vân Nam (Miến Điện, Lào và Thái Lan). Các cồn cát,
ghềnh ở thượng nguồn sông Cửu Long là hệ môi sinh nơi các loài cá sinh
sản và là nơi trú ngụ của cá con. Phá nơi trú ngụ môi sinh sẽ làm giảm
lượng cá và một số loài cá sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Sự giao của các tàu vận tải thương mại lớn cùng với các nhà máy kỹ
nghệ,
năng lượng đã và đang dự định thiết lập dọc sông trên các thành phố gần
đập hiện nay. Các nhà máy đang hoạt động hiên nay thải chất thải công
nghiệp xuống sông gây ô nhiểm môi trường sống của sông ở thượng nguồn và
hạ nguồn.
Mới đây chính quyền Thái Lan đã ra lệnh ngưng vét lòng sông, phá cồn cát
vì đã xảy ra sự xói mòn, lở đất ở hai bờ sông phân chia ranh giới hai
nước Thái Lan và Lào.
Mục đích phá cồn, ghềnh, vét lòng sông dể phát triển kinh tế, giao thông
thương mại giữa Vân Nam và các nước phương Nam. Ngoài ra nó cũng có mục
đích địa lý chính trị mà Trung Quốc đang đầu tư. Tương lai nhiều triển
vọng hay nhiều trắc trở đều có thể xảy ra.
Nghiên cứu mới gần đây trong năm 2008 (6), về ảnh hưởng của phù sa và
các chất nuôi dưỡng (nutrient) có hợp chất nitrogen ở cửa sông Amazon
đến các vi sinh vật phytoplanckton cho thấy nồng độ cao của vi sinh vật
là tụ điểm hút các khí carbon dioxide (CO2) trong khí quyển rất lớn qua
quang hợp (photosynthesis). Khi vi sinh vật chết, chúng sẽ chìm và chôn
ở đáy biển và vì thế carbon sẽ bị chôn làm giảm nồng độ của khí nhà nóng
CO2. Xây các đập thủy điện trên sông Cửu Long (kể cả ở thượng nguồn Vân
Nam và ở Lào, Thái Lan, Việt Nam, Cambodia) sẽ giảm đi mức độ hấp thụ
khí nhà kính carbon dioxide ở cửa sông. Nhóm nghiên cứu của ông
Subramaniam cũng khảo sát sông Congo, Orinoco và sông Cửu Long
qua các chuyến khảo sát và cho rằng cần phải nghiên cứu quá trình ảnh
hưởng thật kỹ lưỡng vì hiện nay sông Cửu Long đang biến đổi rất nhanh
qua các hoạt động xây đập và thay đổi dòng chảy của con người ở thượng
nguồn và ở các nước Lào, Thái Lan, Việt Nam, Cambodia (7).
Vấn đề ảnh hưởng môi sinh của các đập thượng nguồn là quan trọng hơn vì
chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động kinh tế của các
nước ở hạ nguồn và lượng phù sa rất lớn. Nhưng hiện nay các nước ở hạ
nguồn vẫn chưa có những phản ứng hay quan tâm nào xứng đáng về tầm quan
trọng của vấn đề này.
Có nhiều lý do có thể giải thích được thái độ và phản ứng hiện nay của
các nước ở hạ nguồn.
(1) Một số các nước như Lào, Thái Lan và Việt Nam trước đây đã và hiện
nay cũng xây các đập thủy điện ở lưu vực sông Cửu Long. Thái Lan có đập
Pak Mun, Ubonrat, Lào có đập Nam Ngum, Nam Song, Nam Leuk, Theun Hinboun
và Việt nam có đập Yali, Sesan 3, Sesan 3A ở Tây Nguyên ảnh hưởng đến
Cam Bốt ở hạ nguồn. Vì thế khó mà có thể chỉ trích hay đặt vấn đề với
Trung Quốc. Cam Bốt là một nước có thể nói là bị ảnh hưởng nhiều nhất từ
các đập ở thượng nguồn, với triển vọng là hệ sinh thái ở Biển Hồ Tonle
Sap bị ảnh hưởng nặng qua sự biến đổi lượng nước, thủy sản và hướng
chảy. Uỷ Hội sông Cửu Long (Mekong River Commission) mà bốn nước Viêt
Nam, Lào, Thái Lan và Cam Bốt là thành viên chưa có phản ứng tích cực về
các phát triển hiện nay ở thượng nguồn Vân Nam.
(2) Trung Quốc là một nước lớn đã dùng vị thế chiến lược tốt của mình để
khai thác tài nguyên thiên nhiên. Trung Quốc không phải là thành viên
của Uỷ Hội Sông Cửu Long từ lâu nay. Vì thế hiện nay chưa có một diễn
đàn, hay một môi trường thích nghi nào để có thể đối thoại với nhau về
vấn đề này. Ngay trong các nước trong tổ chức ASEAN từ lâu đã có chính
sách đặt ưu tiên vào sự phát triển kinh tế trên ưu tiên bảo vệ môi
trường. Ta không ngạc nhiên khi họ coi nhẹ hệ quả lâu dài sau này trên
môi trường và kinh tế của các nước ở hạ nguồn từ các đập đã và hiện nay
đang được xây dựng ở Trung Quốc. Từ năm 1992, Ngân hàng Phát triển Á
Châu (Asian Development Bank) đã tài trợ các cộng trình hợp tác phát
triển kinh tế trong chương trình phát triển vùng lưu vực sông Cửu Long
giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á ở lưu vực sông Cửu Long (Great
Mekong Sub-Regional Cooperation, GMS)
Hiện nay, tất cả đều tuỳ thuộc các tổ chức phi chính phủ cố gắng đưa vấn
đề này lên công chúng để có thể được xem xét một cách chính đáng với tầm
quan trọng thích nghi và đúng mức của vấn đề. Quĩ Thế giới thiên nhiên
hoang dã (World Wildlife Fund) và Tổ chức Hệ thống các sông Đông Nam Á
(SouthEast Asia Rivers Network) là hai trong nhiều tổ chức phi chính phủ
gần đây đã lên tiếng về ảnh hưởng nguy hại về môi trường của các đập ở
Vân Nam.
Giữa tháng 8 2008, mực sông Cửu Long đã tăng lên đột ngột gây lụt lội ở
Lào (Vientian, Luang Prabang) và ở Thái Lan tại các huyện Chiang Saen và
Chiang Khon ở tỉnh Chiang Rai, và ở các tỉnh Nakhon Pathon, Nong Khai,
Nan, Sakon Nakhon, Phetchabun, Mukdahan, Bắc Thái Lan, gây nhiều phản
ứng của người dân tại đây. Các tổ chức phi chính phủ ở Thái Lan như
Living River Siam, Thai People Network on Mekong, đã cho rằng Ủy ban
sông Mekong (MRC) đã thiếu trách nhiệm, không dự kiến và báo lụt kịp
thời qua các địa điểm đo mực nước ở Chiang Saen và kêu gọi Ủy ban cũng
như gây sức ép với chính phủ Thái Lan phải đòi hỏi Trung Quốc phải có
trách nhiệm cung cấp dữ liệu và thông báo trước mực nước, lượng nước khi
thải nước từ các đập thượng nguồn. Ủy ban đã cho là do mưa bão ở Vân
Nam, Bắc Lào và Việt Nam nên gây ra lụt trên sông Cửu Long chứ không
phải là do đập ở Trung quốc. Nhưng chính sự thiếu thông tin và trong
suốt về các đập ở Vân Nam là nguyên do của sự bất bình của dân chúng ở
Thái Lan đã phải gánh chịu thiệt hại do lụt gây ra.
Sự lạm dụng môi trường ở sông Dương Tử và Hoàng Hà cho ta thấy thành
tích không mấy tốt đẹp trong quá khứ về quản lý môi trường ở Trung Quốc.
Chưa nói đến sự phá rừng, khai hoang đã dẫn đến những thiên tai như lũ
lụt xảy ra gần đây thường xuyên ở nước này.
Sau trận lụt ở Lào và Thái Lan tháng 8, 2008 vừa qua, trong hội nghị
tham vấn về Chương trình Thủy điện (Hydropower Program) với nhiều tổ
chức quốc tế và các thành phần khác nhau trong xã hội ở Vientiane do Ủy
ban sông Mekong tổ chức cuối tháng 9, 2008, Trung quốc đã ký lại gia hạn
văn bản hợp tác cung cấp cho Ủy ban sông Mekong các dữ kiện thủy văn ở
hai trạm thượng nguồn gần đập Mã Loan và Cảnh Hồng trong mùa lũ từ tháng
6 đến tháng 10 mỗi năm.
Vấn đề là chúng ta có tin và yên tâm vào sự quản lý môi trường với các
đập trên thượng nguồn sông Cửu Long của Trung Quốc hay không?. Ủy ban
sông Mekong có thể làm được gì trong vấn đề khai thác sông Mekong và tác
hại môi trường vì không những ở Vân Nam, hiện nay (2008) Lào đã có 6 đập
đang hoạt động và đang xây 3 đập lớn (Nam Theun 2, Nam Ngun 2, Xekaman
3) và rất nhiều đập nằm trong kế hoạch phát triển mà quan trọng nhất có
ảnh hưởng đến môi trường đa dạng sinh học và thủy văn là dự án đập Don
Sahong ở Hạ Lào gần biên giới với Cam Bốt, nơi sông Mekong bắt đầu đổ
xuống từ trên cao nguyên dần xuống đồng bằng. Dự án đập Don Sahong hiện
đang gây quan tâm đến người dân Cam Bốt. Nhiều tổ chức phi chính phủ như
Rivers Coalition in Cambodia (RCC) đã lên tiếng và gây sức ép đến chính
phủ Cam Bốt và Ủy ban Mekong kêu gọi nghiên cứu tác hại và phải tư vấn
với các tổ chức cộng đồng, dân chúng địa phương cũng như trong suốt
trong quá trình thiết lập đề án. Ngay cả ở Cam Bốt, phát triển kinh tế
trong những năm qua đã đưa đến tình trạng thiếu điện, chính phủ Cam Bốt
đã bắt đầu xây các đập thủy điện ở nhiều nơi ngoài sông Mekong với sự
trợ giúp của Trung quốc để đáp ứng nhu cầu năng lượng càng ngày càng
tăng.
Hiện nay mặc dầu thế giới đã có luật về biển (Law of the Sea) rất rõ
ràng để giải quyết các vấn đề trên biển cả giữa các quốc gia. Nhưng lại
không có luật quốc tế về các vấn đề sử dụng và khai thác tài nguyên sông
ngòi chảy qua các quốc gia liên hệ. Hội nghị thế giới về nước (World
Water Week) tổ chức thường niên trong dịp ngày quốc tế nước (World Water
Day) ở Thụy Điển do các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu tổ chức đã có
dự thảo từ nhiều năm qua về luật quản lý sông và các nguồn nước ngọt
giữa các nước, đã thường xuyên kêu gọi các nước và Liên Hiệp Quốc quan
tâm đến vấn đề rất quan trọng này vì trong tương lai nước là nguồn tài
nguyên quí giá khan hiếm và rất dễ gây ra xích mích và có thể chiến
tranh giữa các nước ở nhiều nơi trên thế giới.
Vai trò của Ủy ban sông Mekong
Ủy ban sông Mekong được thành lập vào ngày 5 tháng 4, 1995 từ sự thoả
thuận và ký kết giữa 4 chính phủ Việt Nam, Cambodia, Lào và Thái Lan hợp
tác phát triển bền vững trong lưu vực sông Cửu Long (The Agreement on
the Cooperation for the Sustainable Development of the Mekong River
Basin). Trước đó đã có Ủy hội Mekong (Mekong Committee) được thành lập
vào năm 1957 bởi Liên Hiệp Quốc qua đó Thái Lan, Lào, Cambodia và Nam
Việt Nam tham dự.và hoạt động cho đến đầu thập niên 1970. Sau này qua
chiến tranh và nhiều biến đổi chính trị, Ủy Hội Mekong không còn hiện
hữu.
Một năm sau khi được thành lập, năm 1996, Trung quốc và Miến Điện trở
thành thành viên quan sát đối thoại (Dialogue Partners) trong Ủy ban
sông Mekong. Mục đích chính của Ủy ban Mekong là thiết lập một cơ chế
làm tăng cường sự hợp tác giữa các nước trong vùng, phục vụ các nước hội
viên bằng cách hổ trợ các quyết định và khuyến khích sự phát triển bền
vững và giảm nghèo đói. Ủy ban Mekong thiết lập Chương trình Mekong
(Mekong Program), một sự hợp tác giữa các nước trong vùng để phát triển
tài nguyên nước, thủy sản, rừng, đa dạng sinh học... của sông Mekong và
lưu vực nằm trong lãnh thổ của các nước hội viên. Hiện nay Ủy ban đang
soạn thảo cơ chế cho chương trình thủy điện (Hydropower Program) với sự
tham khảo cùng với nhiều cơ quan tài trợ quốc tế, các tổ chức chính phủ
và phi chính phủ đại diện cho nhiều thành phần khác nhau trong xã hội để
phát triển bền vững và giúp người nghèo cũng như các dân tộc sống dựa
vào nguồn nước và tài nguyên sông Mekong bị ảnh hưởng bởi sự phát triển.
Thiết lập và thâu thập các dữ kiện quan trắc thủy văn và nghiên cứu tác
động môi trường là hai hoạt động quan trọng không thể thiếu sót của Ủy
ban.
Không thể không thấy vai trò của Ủy ban Mekong là cực kỳ quan trọng
trong sự điều hợp quản lý tài nguyên và môi trường của sông Cửu Long. Sự
thành công hay thất bại của Ủy ban là tùy thuộc vào sự trong suốt trong
các quyết định, sáng suốt theo dõi nghiên cứu tác động môi trường và bảo
vệ được môi trường cùng với sự đa dạng sinh học quí giá ở lưu vực sông
Cửu Long mà không bị ảnh hưởng của sức ép chính trị và thế lực kinh tế
từ bên ngoài trong lãnh vực ngoại giao và tham vấn của mình với các nước
hội viên và không hôi viên.
Tham khảo
(1) Chen Liang, “Xiaowan Dam, a reservoir for progress”, 16/09/2002,
Mekong news, Australia Mekong Resource Centre.
(2) James Gordon, “Damming the consequences”, Vietnam Economic Times,
06/11/2002.
(3) E. Wolanski, N.H. Nhan and S. Spagnol (1998). Sediment dynamics
during low flow conditions in the Mekong River estuary, Vietnam. Journal
of Coastal Research, 14, 2, 472-482
(4) Roberts, Tyson R (1993b) Just another damned river? Negative impacts
of Pak Mun dam on fishes of the Mekong Basin. Nat. Hist. Bull. Siam
Soc., 41: 105-133.
(5) Roberts, Tyson (1995) Mekong mainstream hydropower dams:
run-of-the-river or ruin-of-the-river? Nat. Hist. Bull. Siam Soc., 43:
9-19.
(6) A. Subramaniam et al. (2008), Amazon River enhances diazotrophy and
carbon sequestration in the tropical North Atlantic Ocean, PNAS 2008
105:10460-10465.
(7) Dume, B., Tropical rivers enhance carbon sequestration,
http://environmentalresearchweb.org/cws/article/research/35489, 20
August 2008.
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Nguyễn Đức Hiệp
|