Những bài cùng tác giả
Lịch sử các nước
Gần đây năm 2004, tin tức báo chí Việt Nam (1) cho biết
khi một số ngói bị hư tháo xuống ở Nhà thờ Đức bà, thành phố Hồ Chí Minh,
thì thấy có chữ đề xuất xứ “Wang-Tai Saigon” trên mặt các ngói. Kí hiệu
Wang-Tai là gì? . Để hiểu được điều này, ta hãy đi về quá khứ để tìm hiểu
một phần của lịch sử Saigon. Qua các tài liệu ở cuối thế kỷ 19 mà ta có thể tìm thấy ở
Thư viện quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale) thì ta biết được Wang-Tai là
một nhân vật người Hoa kiều sống ở Saigon trong những năm đầu Pháp lấy các
tỉnh miền Nam sau khi Pháp đánh thành Saigon vào năm 1859. Wang-Tai (Vương
Đại) nổi tiếng trong các tác phẩm viết về Saigon trong các thập niên 1880,
1890 của các tác giả người Pháp qua ngôi nhà lớn và đẹp nhất Saigon ngay tại
bờ sông ở cảng Saigon (nay là bến Bạch Đằng). Maison Wang-Tai đồ sộ xây bằng
gạch lớn hơn cả dinh thống đốc lúc bấy giờ chỉ là một nhà cây mua ở
Singapore chở sang rồi ráp lại ở Saigon. Từ nhà của ông Vương Đại về hướng cảng thương mại Saigon,
dọc theo rạch Bến Nghé (arroyo chinois) là các xưởng làm gạch và ngói của
ông Vương Đại. Trong các ngói đỏ hơn trăm năm trên nóc nhà thờ đức bà ở
Saigon là một số ngói làm từ các xưởng gạch này của ông, số còn lại là nhập
từ Pháp. Vậy ông Vương Đại là ai?. Chi tiết về cuộc đời của ông Vương Đại không để lại trong
sử sách hay tư liệu nào của người Việt, chỉ có một số sự kiện rải rác trong
các văn kiện, sách tiếng Pháp. Điều này cũng dễ hiểu vì ông Vương Đại là
người Hoa sống trong thời kỳ từ năm 1827 đến cuối thế kỷ 19 ở miền Nam, một
thời kỳ có nhiều thay đổi lớn khi Pháp đánh chiếm 6 tỉnh Nam kỳ. Trí thức,
sĩ phu, triều đình người Việt lúc ấy không để ý đến những vấn đề doanh
nghiệp, kinh tế, thương mại... và vả lại rất ít người biết chữ Hán-Nôm, còn
chữ quốc ngữ thì chưa được phổ biến trong quần chúng nên không ai viết và
biết về con người ông Vương Đại. Ông Vương Đại là thương gia người Hoa, bang trưởng bang
Quảng Đông, rất giàu có và có thế lực. Qua sự vận động của ông, năm 1880
toàn quyền Pháp đã đề nghị với giám đốc trường Chasseloup-Laubat (Lê Quí Đôn
ngày nay) mở khóa dạy tiếng Quảng ở trường này. Năm 1880, ông muốn bán nhà ông ở ngay bến Saigon cho
chính quyền với giá 45000 piastres (đồng) tương đương với 225000 francs. Sau
khi xem xét kinh phí mà chính quyền lúc đó đang mướn và tiền quản lý bảo trì
căn nhà đó, cùng với số tiền còn đang nợ chưa trả, Hội đồng quản hạt đã đồng
ý bỏ ra 254000 francs để mua lại căn nhà này của ông Vương Đại (23). Các
xưởng làm gạch của ông Vương Đại sản xuất gạch tốt được dùng ở Saigon và ở
nhiều nơi trong Nam kỳ. Trong cuộc triễn lãm công nghiệp và nông nghiệp năm
1880, các sản phẩm gạch của ông được huy chương bạc (27). Ông có tham dự
triển lãm quốc tế năm 1878 ở Paris với các sản phẩm đồ gốm sản xuất ở Chợ
Lớn (28). Ngoài cơ sở làm gạch, đồ gốm, ông Vương Đại còn có những
đất ruộng lúa lớn ở Phước Lộc mới khai hoang để trồng lúa gạo (24). Theo tư
liệu ngân sách do chính phủ Pháp ở Saigon in năm 1876 (26) thì ông có 3 nhà
cho chính quyền Pháp mướn: 1 nhà 3 tầng ngay cảng thương mại (quai de
commerce) Saigon (tiền mướn: 6866 franc/1 năm), 1 nhà ở rue de Canton (Triệu
Quang Phục) Chợ Lớn làm văn phòng điện tín (1694 francs), 1 nhà ở Bình Tây,
Chợ Lớn làm trạm cảnh sát (2471.75 francs). Theo tờ tuần
báo Les tablettes coloniales xuất bản tại
Paris ngày 19/12/1888, có đăng một mẩu tin nhỏ về ngày lễ sinh nhật của ông
Vương Đại như sau (25):
“Một ngày lễ rất thành công và ấn tượng rất lý thú vừa
xảy ra ở Saigon, để mừng sinh nhật thứ 61 ngày sinh và kỷ niệm 30 năm ngày
ông thương gia người Hoa tên là Vương Đại đến Saigon. Những người con trai
ông Vương Đại và gia đình của họ, những đồng hương và bạn bè của ông trong
dịp lễ này đã mời “quí bà, quí ông người Pháp và người Âu ở Saigon, Chợ Lớn
và các tỉnh”. Cộng đồng người Âu đã đáp lại lời mời ân cần này. Đèn đuốc,
pháo bông, trình diễn kịch, hát tuồng, không thiếu cái gì trong ngày lễ vui
này. Ông Vương Đại là một trong những chức sắc người Hoa được kính trọng
nhất ở Saigon; ông không những đã có những dịch vụ cống hiến lớn lao cho
đồng bào ông mà còn cho chính quyền Pháp. Vì thế đương nhiên đúng khi người
ta đáp lại tương ứng qua sự tham dự hoạt động hòa bình này mà ông là đối
tượng” Qua mẩu tin này thì ta biết là ông Vương Đại sinh vào
tháng 12 năm 1827 ở Trung quốc, ông đến Saigon-Chợ Lớn lập nghiệp vào năm
1858, một năm trước khi Pháp đánh thành Saigon. Theo tư liệu, bút ký của các tác giả cuối thế kỷ 19, trên
khu phố chính Saigon như đường Catinat (Đồng Khởi), người Hoa đã có nhiều cơ
sở doanh thương hơn người Việt. Chung quanh nhà biệt thự của ông Vương Đại,
một người Hoa giàu có ở Saigon trước khi Pháp đến, có các cửa tiệm vải, may
đồ, hàng thủ công, tiệm sửa giày, sửa đồng hồ, hàng nước ngoài mà ngay cả
người Pháp cũng đến mua, chưa kể ban đêm các nhà trên đường sau biệt thự ông
Vương Đại là các sòng bạc. Ngoài ông Vương Đại, có các người Hoa giàu khác là Apan,
Atho, Ban-Hap, etc. (3). Cửa hàng của người Hoa ở đường Catinat, đường
Rigault de Genouilly dọc kênh chợ Vải, đường nối đến đường rue d’Adran đều
mở đến 9 giờ tối. Đường rue d'Adrian (đường Hồ Tùng Mậu ngày nay) là khu
buôn bán tấp nập có nhiều cửa hàng người Hoa, Ấn nằm kế khu vực Chợ Saigon
cũ. Chợ này là chợ dọc kênh Charner (kênh chợ Vải), nay gọi là chợ Cũ.
 Saigon - Khách sạn Cosmopolitan, nhà ông Wangtai (Vương Đại) 1872 - nguồn: Bs Albert Morice – La revue
Tour du Monde 1875 (13) (16).
 Toàn cảnh Saigon – 1881 (bản vẽ rất
chi li chính xác của Đại úy hải quân Favre). Sông Saigon, rạch Bến nghé. Để
ý nhà ông Vương Đại ở ngay góc sông Saigon và rạch Bến Nghé (arroyo chinois)
2 tầng (không kể tầng trệt) giống như hình trong sách của bác sĩ Albert
Morice (13) (16), kế đó là 3 gian nhà của chợ Vải (chợ cũ). Phía trên cuối
đường Catinat là nhà thờ đức bà, Bên cạnh đó ở góc đường route Nationale
(Hai Bà Trưng) là dinh thống đốc cũ. Thành Saigon về phía phải vẫn còn 4
tường bao bọc khu đất bên trong. Ông Anatole Petiton, đến thăm Saigon, đã viết về đời
sống, sinh hoạt thành phố trong sách “La Cochinchine française: la vie à
Saïgon, notes de voyage” xuất bản năm 1883 như sau: “Khi đi tàu đến cảng Saigon, du khách có thể thấy hai nhà
nổi bật là nhà Rồng (Messageries Maritimes) và nhà của ông Vương Đại, xây
hầu như ở giữa góc điểm của rạch bến nghé và sông Saigon (3) Tất cả Saigon đều biết ông Vương Đại. Nhà của ông rất lớn
với cột cửa vòng cong (portique) và mái hiên có thể nói nhà ông được coi như
là trung tâm Saigon. Nhà có ba tầng với sân mái hiên. Đây cũng là tòa đô chánh
thành phố Saigon và là nơi ở của ông thị trưởng. Ông thị trưởng quả là người
công chức được chu cấp chỗ ở tốt nhất.”
 Saigon 1872– Bên kia sông Saigon là nhà Rồng
(Messageries Maritimes) – nguồn: Bs Albert Morice – La revue Tour du Monde
1875 (13) (16)
Cũng theo mô tả của ông Petiton thì kênh Chợ Vải dài khoảng vài trăm thước
(gọi là kênh Rigault de Genouilly, sau đổi thành kênh Charner), bắt đầu từ
sông đi vào thì ở phía bên phải là các nhà của người Âu và một vài nhà người
Hoa và Ấn (người Pháp gọi người Ấn là malabar), bên trái là các nhà người
Hoa, chợ và những cửa hàng khác của người Hoa.
Kênh chấm dứt ở khoảng nhà thờ. Ở phía trên phần kéo dài của kênh, hai bên
có chỗ chơi trò chơi Bowling (một thứ trò chơi của người Anh) rất hợp với
giải trí lúc chiều tối. Nhà thờ hiện nay chỉ là nhà thờ tạm thời, người ta
đang xây một thánh đường lớn gần dinh thống đốc mới xây. Trong nhà thờ, ở
gần điện thờ là các ghế ngồi dành cho người Âu, ngoài ra là các bục bằng gỗ
(chú thích dịch giả: nhà thờ này do đô đốc Bonard cho xây dọc kênh chợ Vải
năm 1863 sau khi vừa chiếm xong hoàn toàn Saigon-Gia Định, nhà thờ được xây
bằng gỗ hoàn thành năm 1865). Người Ấn có ba đền thờ ở Saigon: 2 đền thờ Hồi
giáo và 1 đền thờ Ấn giáo (Hindou).
Người Mã Lai, ít phát tán phân phối rộng nhiều ở Saigon
như các dân khác, họ đa số làm nghề coi sóc ngựa. Ở Singapore thông thường
thì những người chăm sóc ngựa và lái xe ngựa tư nhân hay công cộng là người
Mã Lai. Ở Saigon, họ thường lái xe ngựa cho các chủ đã mướn họ. (Chú thích:
Người mà Pháp gọi là Mã Lai ở Saigon chính là người Chăm vì về phương diện
ngôn ngữ và chủng tộc thì người Chăm là thuộc hệ ngôn ngữ Malay và chủng
Austronesian.)
 Cảnh chợ Saigon 1872, để ý có 2
người Ấn (malabar) và một người Hoa trong chợ - nguồn: Bs Albert Morice – La
revue Tour du Monde 1875 (13) (16). Còn các xe ngựa công cộng, thì những xe này được lái bởi
những người Ấn từ vùng bờ biển Malabar, từ Pondichéry (một nhượng địa của
Pháp ở Ấn độ) hay từ Singapore. Vì người ta thường thấy họ lái xe ngựa công
cộng ở Saigon nên họ gọi loại xe ngựa này là xe Malabar. Những người malabar
chăm sóc ngựa rất tốt và tài tình, họ có phương pháp độc đáo rất hay để dỗ
ngựa. Họ thường dùng bàn tay vỗ nhẹ vào ngựa, làm như cho ngựa tin rằng họ
rất ganh tị là ngựa có bộ da mà họ muốn. Người malabar cũng làm nghề chăn
nuôi những đàn bò, để lấy và bán sữa (có người xấu miệng nói là sữa bò thật
sự nước cốt dừa trộn với nước). Ở Saigon ngay cả những thập niên đầu thế kỷ
20, còn nhiều con bò ăn cỏ ở một số lề đường công viên gần trung tâm thành
phố do người Ấn nuôi. Người malabar còn có một nghề đặc biệt nữa là đổi tiền.
Một đồng (piastre) theo giá chính phủ đổi là 5 franc 55, nhưng họ đổi được
giá cao hơn là 5 fr 65 và đôi khi đổi lên đến khoảng 6 francs. Họ làm thương
mại này với người Hoa ở Chợ Lớn, vì người Hoa thường cần một số lượng tiền
đồng (piastre) lớn để có thể mua gạo nhiều từ các tỉnh. Người malabar còn
một nghề thứ tư ở Saigon. đó là nghề gác dan và họ cũng được tuyển dụng làm
cảnh sát. Cộng đồng người malabar là cộng đồng công nhân làm lụng và rất cần
kiệm: tiền họ kiếm được thường được cất giấu và không xuất ra nữa. Thể lực
của họ rất cao, khỏe và thon. Họ thường đeo đồ trang trí ở cổ tay, trên cổ,
cổ chân, tất cả đều bằng vàng thật; đối với họ đồ trang trí giả bị cấm dùng.
 Thương gia người Hoa 1872 - nguồn: Bs Albert Morice –
La revue Tour du Monde 1875 (13) (16).
Theo tài liệu chính thức (19) thì thành Saigon xây năm 1791 theo kiến trúc
của Olivier de Puymaniel. Vào năm 1860 dân số khoảng 200000. Chợ Lớn từ 12
đến 15000 ngàn dân. Khi chiếm thành Saigon năm 1859, trước khi trở ra Đà
Nẵng và để lại một số quân trấn giữ ở Saigon, đề đốc Rigault de Genouilly đã
cho đặt chất nổ phá hủy thành Saigon (do Minh Mạng xây lại sau khi phá hủy
thành Phiên An sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi). Cũng theo tài liệu
chính thức thì tiếng nổ kinh hoàng, lòng đất rung rinh các tảng đá to lớn
của thành văng trên không (19). Kho lúa lương thực cháy cả tuần và âm ỉ cháy
sau đó. Sau khi chiếm được Saigon, thành phố chung quanh thành Saigon hầu
như bị hoàn toàn cháy hủy một phần do chiến tranh và một phần do dân chúng
bỏ đi đã tự tiêu thổ đốt cháy tất cả, chỉ có khu Chợ Lớn là không bị thiệt
hại gì (20). Vì thế Pháp đã hoàn toàn thiết kế lại thành phố theo kiểu Tây
phương.
Dân số ngay tại Saigon lúc đó (1859) chỉ còn 5 đến 6000 người, nhưng chỉ 15
năm sau (1874), không kể Chợ Lớn và vùng phụ cận, tăng lên 13448 người gồm
965 người Âu, trong đó 913 ngươời Pháp, 6246 người Hoa, 5595 người Việt,
205 người Ấn độ quốc tịch Pháp, 4 người Hoa quốc tịch Pháp, 1 người Phi châu
quốc tịch Pháp, 161 Ấn độ, 135 Mã Lai, 17 Tagals (Phi) và chỉ 6 người Cao
Miên, 2 Nhật (20) (31). Năm 1896, dân số là 44764, tăng lên hơn 3 lần (trong
đó có 3258 người Âu, 13801 người Hoa, 26411 người Việt và số còn lại 1294 là
người Cao Miên, Mã Lai, Ấn độ (Hindou) v.v…). Người mà Pháp gọi là Mã Lai
chính là người Chăm vì về phương diện ngôn ngữ và chủng tộc thì người Chăm
là thuộc hệ ngôn ngữ Malay và chủng Austronesian. Saigon trở thành thành phố
đa chủng tộc, đa văn hóa.
Sau khi đã hoàn toàn chiếm Saigon-Gia Định, ở phía Đông
Nam thành Saigon đã bị hủy, Pháp xây 1 nhà thương, 1 nhà thờ, nhà in và kế
cạnh đó là dinh rất lớn mà đề đốc Bonard xây từ nhà gỗ đã được mua từ
Singapore. Trong nhiều năm ngôi nhà này là nơi thống đốc ở. Ở khu giữa nơi
này và sông, lần lượt các tòa nhà được xây lên, trường thông ngôn, bệnh viện
mới, cô nhi viện Sainte-Enfance. Như đã đề cập trên, thành Saigon và các nhà gần sông,
rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé bị hủy trong chiến tranh và cũng do chính người
dân thiêu hủy lúc bỏ đi khi quân Pháp đánh chiếm Saigon. Nơi này trước đây
có khoảng 50000 dân. Sau 1859 chỉ còn khu vực Chợ Quán, giữa thành Saigon và
Chợ Lớn, là vẫn còn hiện diện có cư dân tập trung, nơi đây là xóm của những
người theo đạo trước đây, họ đã không bỏ đi tiêu thổ khi quân Pháp đến
Saigon. Không lâu những làng cũng được được tái lập từ những
người di tản chiến tranh trở lại định cư ở giữa vùng Chợ quán và vùng cao về
phía giữa Kì Hòa, cánh đồng mộ và thành Saigon cũ (5 làng) và ở rạch Thị Nghè 4 làng. Năm 1862, có 11 khu
dân cư trở lại với khoảng 8000 dân. Ngoài người Việt, năm 1864 có 6000 người
Hoa, hầu hêt là nghề buôn bán sống trong khu vực từ gần bờ sông, kinh rạch
đến khu Tong-Keou (Thuận Kiều) về hướng Củ Chi và khoảng 200 người Ấn sống
nghề nuôi gia súc và lái xe ngựa. Pháp dùng tiền tệ mới là franc, một franc
tương đương với 1 quan (1 quan bằng 10 tiền và 1 tiền bằng 60 đồng) (12). Lúc này để thiết lập cơ sở thương mại và giao thông, các
bờ sông được nâng cao; công binh đã san bằng các điểm cao (2 hay 3 mét) trên
vùng cao giữa thành Saigon và cánh đồng mả. Các điểm cao này bị san bằng và
đất được dùng để lấp các vùng thấp. Khi độ dốc trở nên đều hơn thì các đường
bắt đầu được thiết kế, cắt thẳng góc nhau. Những con lộ lớn này được lát đá
và trồng các cây lớn dọc hai bên, các nhà dọc đường rất ít và xây lên rất
chậm; bởi vì người Pháp đến định cư còn rất ít và vật liệu rất thiếu nên chỉ
xây các nhà cây. Các công chức sống trong nhà giống người Việt và ngay cả
thống đốc chỉ có dinh bằng gỗ, được mua từ Singapore, tháo gỡ ra trước khi
chở đến Saigon để ráp lại. Dinh gỗ này ở vị trí góc đường rue Taberd (sau
đổi là rue Lucien-Mossard tức Nguyễn Du ngày nay) và rue Imperiale (sau đổi
là route Nationale, rue Paul Blanchy tức Hai Bà Trưng ngày nay) trong khuôn
viên của trường Frères des Écoles Chrétiennes (Taberd). Năm 1873 dinh toàn quyền mới, to lớn khang trang hơn,
được hoàn thành ở vị trí là dinh Thống Nhất ngày nay (dinh này, sau gọi là
Palais Norodom. bị phá hủy sau cuộc đảo chánh 1961 của chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và được xây lại mới gọi là dinh Độc lập tức là dinh
Thống Nhất ngày nay). Cây cối được trồng hai bên đường mới xây,
lúc đầu là các cây xoài vừa có bóng mát và trái cây (nhưng về sau các cây
này bị chặt bỏ để trồng các loại cây khác như sao, cao su vì vào cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20 xe đi lại dễ gây tai nạn cho các trẻ con thu lượm hái trái
cây. Đường Jauréguiberry, nay là Ngô Thời Nhiệm, trong thập niên 1940-1950
vẫn còn các cây cao su (6)) Năm 1865, các tòa nhà dọc sông Saigon được xây dựng cho
hãng tàu biển (Messageries maritimes) mà tòa nhà lớn, trụ sở của công ty, là
nhà Rồng ngày nay. Các kinh đầy bùn, các hố rãnh cây cối mọc hoang dại, các
đổ nát sau cuộc chiến vẫn còn thấy, làm Saigon vào năm 1864 giống một nơi
cắm trại hơn là một thành phố. Trong đêm 2, 3 tháng 9 cùng năm (1864) có con
cọp vào vườn Esperance nơi pháo binh ở (1). Năm 1864 cũng là năm thành lập
nhà thương Chợ Quán gần rạch Bến Nghé. Trước đó giám mục d’Isauropolis, ông
Lefebvre tự thành lập bệnh xá nhỏ năm 1861 ngay tại nhà ông, ông tự săn sóc
cho những người không phân biệt nghèo khó. Khi chuyển đến bệnh viện mới ở
Chợ Quán tháng 9 1864, bệnh viện có thể điều trị cho 180 bệnh nhân, và có
một bác sĩ và 3 bà xơ (soeurs) chăm sóc bệnh nhân (12). Ông thống đốc de la
Grandière cũng cho lập một vườn bách thảo, dưới sự quản lý của thú y sĩ, M.
Germain trong đoàn quân viễn chinh. Ngày 28/3/1865 ông M. Pierre, nhà thực
vật học được cử làm giám đốc với 12 mẫu tây vườn cạnh rạch Thị Nghè (5).
Thành phố Chợ Lớn phát triển nhanh nhất. Dọc rạch Bến
Nghé, kinh Tàu Hủ và trong thành phố Chợ Lớn năm 1864 đã mọc lên nhanh chóng
các nhà trên các đường chính, chúng được xây ngăn nắp, thẳng hàng theo kế
hoạch. Và một vài người Hoa với một tinh thần doanh nghiệp đắc lực gan dạ,
một đặc tính dân tộc của họ, đã bắt đầu xây các nhà lầu. Đề đốc De La
Grandière đã nhận thấy điều này, và ông đã mời một thương gia người Hoa giàu
có, tên là Ban-hap, người đầu tiên xây ngôi nhà lầu đẹp, đến để thưởng một
đồng hồ quả lắc. Ban-hap mặc dầu là triệu phú nhưng rất thích món quà này.
Ông ta đã dành riêng trong nhà ông một phòng đẹp nhất để chứa đồng hồ quả
lắc của đề đốc De La Grandière tặng. Và ông đã bỏ ra nguyên ngày trong bộ đồ
lễ, đi sau 4 người thợ khiêng trên một kiệu vàng chiếc đồng hồ quả lắc, quà
của thống đốc, cùng với bằng khen. Ông đã để cho các chức sắc chiêm ngưỡng
trước khi đặt vào trong phòng danh dự mà ông đã sữa soạn sẵn (12). Ban-hap
cũng là hội viên sáng lập Hội trung ương cứu trợ tàu bị đắm (Société
centrale de sauvetage des naufragés) thành lập năm 1865 ở Pháp với hội viên
trên khắp thế giới. Ông cũng là chủ một xưởng làm thuốc phiện ở Saigon. Theo thống kê năm 1869 (12) của 6 tỉnh Nam kỳ (Saigon, Mỹ
Tho, Biên Hòa, Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên) cho thấy toàn Saigon có dân
số là 104522, Chợ Lớn 35900. Ở hậu bán thế kỷ 19, chung quanh Saigon vẫn là các cánh
đồng vô tân, gần Thủ Đức và trên đường đi Biên Hòa là các rừng trong đó có
heo rừng, nai, chim công và cả cọp nữa. Theo bác sĩ Albert Morice
(1848-1877) (16), người sống ở Nam kỳ và viết về vùng đất này vào các năm
1872-1874, thì vùng phụ cận chung quanh trung tâm thành phố Saigon và Chợ
Lớn và giữa đường Saigon-Chợ Lớn là các cánh đồng rộng lớn đến tận chân
trời, trong đó có những suối, đầm lầy, ruộng lúa, ruộng trồng đậu phọng.
“.. Trong rạch, suối có nhiều cá mà dân bản xứ bắt ăn.
Trong các đầm lầy có nhiều loài ếch, mà trong đó có một loại gọi là ếch bò
(grenouille boeuf, Kaloula pulchra mà ta gọi là ễnh ương) kêu những tiếng lạ
và chói tai làm những người Âu lúc đầu ngạc nhiên nhưng sau đó cũng quen
tai. Ở phía đông Saigon, trên đường đi Biên Hòa, có vài đồi
nhỏ trên đồng bằng và nhiều mảnh rừng xuất hiện. Thay vì đất bùn đỏ như ở
thủ đô Saigon và đất đen xanh vùng quê Saigon, ở đây người ta đi trên các lộ
mòn trải cát trắng trong các rừng ở Pointat (?) và TuDuc (Thủ Đức).
Những
rừng này là nơi đến từ thành phố của nhiều chuyến đi săn; vào ngày chủ nhật,
một số dân đến giữa các khu rừng này để bắn chim sẻ và chim cu gáy
(tourterelle). Đôi khi người ta cũng bắn được các con công. Heo rừng và nai
thì rất thường gặp và đôi khi gặp cả "Ông Cọp", chúng đến từ Bà Rịa và Biên
Hòa để đi kiếm ăn. May thay cho chúng ta ngày nay (tức thời 1872-1874) là
thời gặp “ông cọp” đã vừa đi qua, thời mà đôi khi chúng bắt ăn một vài người
canh đơn độc. Tiếng nổ từ súng của chúng ta đã từ từ làm chúng tránh xa; và
khu rừng nhiệt đới thiên nhiên gần đó có nai, bò rừng và công, chắc đủ để
thỏa mãn dạ dày và cung cấp cho chúng các món ăn ngon.
..
“
Để có thể quản lý vùng đất vừa chiếm ở Saigon, trong giai
đoạn đầu Pháp đã lập trường thông ngôn, Collège Indigène de Saigon. Trường
được xây nơi mà xưa kia là rạp hát bội của tả quân Lê Văn Duyệt. Khi khánh
thành năm 1877 (sau 3 năm xây) thì trường mới đổi lại là Collège
Chasseloup-Laubat, và từ 1928 trở thành Lycée học hết bậc trung học (tú tài)
(6).

Hình 1 - Bản đồ Saigon cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20
–
Phía trái là đường xe lửa đi Chợ Lớn và Mỹ Tho. Đường xe lửa đến tận bến
sông Saigon, ở góc đường Charner (Nguyễn Huệ). Tân Định lúc này vẫn là làng
và cạnh vườn Tao Đàn là làng Xuân Hòa. Kế Tân Định là làng Phú Hòa và làng
Nam Chơn (hiện nay còn dấu tích làng Nam Chơn là đình Nam Chơn ở đường Trần
Quang Khải). Đường Trần Hưng Đạo đi Chợ Lớn chưa có, vùng này là làng Tân
Hòa. Đi Chợ Lớn cũng có đường dưới (route basse) dọc rạch Bến Nghé-kênh Tàu
Hủ (arroyo chinois), xe lửa (tram) cũng chạy trên con đường này từ trạm ở
quảng trường Mê Linh dọc Quai de Commerce và Quai de Primauguet (Bến Bạch
Đằng) đến Chợ Lớn. Quai de Primauguet sau đổi thành Quai de Francis
Garnier. Tòa thị sảnh chưa xây, thành Saigon không còn,
đường dọc theo thành (Boulevard de la citadelle) nay là đường Tôn Đức Thắng
(phía dưới) và đường Đinh Tiên Hoàng (phía trên). Giữa hai đường Boulevard
de la Citadelle, tức đường trên và đường dưới cùng tên, là trại lính bộ binh
(caserne d’ infanterie, nay là sân Hoa Lư), trước đó không lâu nơi trại lính
này là trung tâm thành Saigon (thành Phụng). Thành Saigon không còn. Trên
bản đồ có ghi đường Thuận Kiều chạy ngang Jardin de Ville tức vườn Tao Đàn
(trước 1975 là đường Lê Văn Duyệt, nay là đường Cách Mạng tháng Tám) và
đường Mọi (rue des Moïs, sau đổi là rue Richaud và nay là đường Nguyễn Đình
Chiểu) Chức thống đốc Nam kỳ (gouverneur de Cochinchine) bắt đầu
từ năm 1878 được trao cho dân sự, không còn là thuộc quân sự bổ nhiệm nữa
(lieutenant-gouverneur). Thay đổi này là do sự lớn mạnh dần của nhóm công
hòa theo Leon Gambetta ở Pháp sau khi nhóm bảo hoàng yếu đi và hoàng đế
Napoleon III thoái vị. Ông thống đốc dân sự đầu tiên là Charles Le
Myre de Vilers (17/02/1833 – 09/03/
1918). Nhiệm kỳ ông từ 1879 đến 1883, ngắn nhưng ông đã thiết lập kế
hoạch đô thị và để lại nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng ở
Saigon. Dưới thời ông de Vilers, ông Blancsubé, thị trưởng Saigon là người
đầu tiên được bầu là đại biểu Nam kỳ (5).
Ông có ảnh hưởng lớn về sự phát triển đô thị Saigon. Khi Vilers đến năm
1879, ông được bổ nhiệm với chỉ thị rất rõ: gia tăng xây các tòa nhà công
cộng, mang lại không gian sức sống và phát triển hoạt động kinh tế. Trong
vòng 4 năm nhận trách nhiệm, nhịp độ xây cất mới gia tăng nhanh chóng. Sự
đầu cơ địa ốc và các thương lượng thương mại của các thương gia đã làm giá
đất bán đấu giá tăng cao độ. Kế hoạch đô thị trung tâm thành phố hình thành.
Ông lập ra một ủy ban nghiên cứu về giao thông đường biển, bộ đặt dưới sự
hướng dẫn của bác sĩ quân y hải quân Lapeyrère trong đó có đề án và kế hoạch
làm đường xe lữa Saigon-Pnom Penh.
Ông tách ra quyền hạn rõ ràng giữa dân sự và quân sự, làm rõ và cải tổ luật
hình sự, thiết lập hội đồng thành phố và các hội đồng quận. Ông cũng là
người sáng lập ra tập san “Excursions et reconnaissances’ đăng các bài
nghiên cứu về văn hóa, lịch sử của các dân tộc ở Nam kỳ. Nhưng nhiều chương
trình, kế hoạch duy ý chí của ông gặp phải sự chống đối. Hội đồng quản hạt
(Conseil Colonial) chống lại phương pháp không thương lượng hỏi ý kiến của
ông.
Le Myre de Vilers chống lại ý định của Pháp xâm chiếm Bắc kỳ (Tonkin) để làm
địa bàn mở rộng buôn bán thương mại thông thương với thị trường nam Trung
quốc qua ngã Vân Nam và Quảng Châu. Vì thế ông bị bãi nhiệm vào tháng
5/1882. Ông trở về Pháp năm 1883 mang theo nhiều hình ảnh quí giá về những
công trình của ông (13). Các hình ảnh này nằm trong kho lưu trữ Quai d’Orsay
hơn 120 năm cho đến khi tổng lãnh sự Pháp ở Saigon công bố năm 2002.

Kênh chợ Vải, nhà chợ bán hàng ở tầng dưới, tầng trên để
ở.

Các dãy nhà bán hàng ở chợ Saigon (dọc kênh chợ Vải) Ông Petiton mô tả một phần chợ Vải như sau (3): “Chợ
Saigon gồm hai dãy nhà lợp bằng ngói hay tranh. Không có gì sáng sủa cho
lắm, bên trong mổi gian ở chính giữa là đường đi, mổi bên là các cửa tiệm
nhỏ, các hàng bán lộ thiên; bên ngoài là các hàng bán cá, các nhà buôn bán
trái cây, rau. Chợ có đầy các đứa trẻ mang giỏ, luôn luôn theo sát bạn để
đựng cho bạn các hàng bạn đã mua. Đôi khi bạn thấy có một bàn trên đó có một
người Ấn (Malabar) hay một người Hoa ngồi co ro, đó là những người đổi tiền.
Đi quanh chợ bên trái và bên phải là các người Ấn được chủ chợ thuê đến mổi
gian hàng người bán thâu nhận tiền một hào (dime) và đưa lại họ tờ biên nhận
trả tiền. Những quân nhân Pháp cũng đến đây để mua thực phẩm bổ
sung cho phần ăn thường tình của họ; bạn sẽ thấy họ đi ra khỏi chợ cặp đôi
với một giỏ treo trên cây tre trên vai họ; nếu bước đi của người Việt và
người Hoa sống động và nhanh chóng, thì bước đi của lính của chúng ta chậm
rãi khi họ khiêng đồ nặng, trên môi gắn một điếu thuốc xì gà dài và dở hiệu
Vevey (Thụy sĩ). Đoàn lính mua đồ đi ra, theo sau là một trung sĩ hay thượng
sĩ, thanh lịch y hệt.
Những con chó, như chó Việt Nam, được thả rông tự do
kiếm ăn ở chợ, đa số chúng tụ tập ở các hàng thịt người Hoa, dao cầm trong
tay, thái những miếng thịt heo nhỏ, ít khi làm cho người Âu muốn ăn.
Lúc 9 giờ tối, những khách hàng rất ít còn lại cũng
vội vã ra về, trời trở nên nóng thêm” Ông Petiton nói đến ở dọc bến Saigon là nơi duy nhất có một vài quán café.
Các quán café này của thời đó ta có thể thấy như sau trong một hình ảnh của
bộ sưu tập của ông thống đốc le Myre de Vilers năm 1882.
 Ông Marcel Monnier (1853-1918) trong quyển “Le tour
d’Asie: Cochinchine, Annam, Tonkin” viết là lúc ông từ bến tàu về khách sạn,
ban đêm hai bên đường Catinat (Đồng Khởi) có các cột đèn đốt sang bằng dầu
hỏa gây cho ông có cảm tưởng là đèn Saigon đã thay đổi từ ga (gas) sang điện
(15). Ta có thể thấy phong cảnh sinh hoạt của Saigon ở vùng
ngoài, theo như ông Petiton kể. Nhà ông Petiton ở lúc ông thăm Saigon nằm ở
kế trung tâm thành phố thời bấy giờ, từ đường nơi có nhà giam đi về hướng
Chợ Lớn nằm cách rạch Bến nghé thông với kênh Tàu Hủ khoảng 4 hay 500 m
(đường Lý Tự Trọng hay đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay). Theo ông tả thì
nhà ông ở (le cai-nha) gần đường lộ, chung quanh là vài cây dừa và các cây
cau. Đối diện nhà về phía trái là một công sở. Khoảng 6 giờ sáng là Saigon bắt đầu cuộc sống thành thị.
Ra khỏi nhà, ông thấy hai người Hoa gánh nước trong đó có một người ở trần
và một người Việt gánh nước sau hai người này. Sau đó ông thấy trên đường có
rất nhiều đàn ông, đàn bà, phụ nữ, trẻ con, người đi bán mang giỏ hàng,
người Hoa có đuôi tóc sam, người Tagal (lai Tây Ban Nha và Phi Luật Tân).
Có một người mà người ta gọi là Bồ Đào Nha Singapore hay Quảng Đông (lai Bồ
và Hoa): ông này là người phiên dịch của sở giám sát (inspection de Saigon)
cho bang Quảng Đông. Người Hoa có 5 bang ở Saigon-Chợ Lớn. Một xe bò do trâu
kéo đi chậm rã, nhịp nhàng. Quay về phía nhà ông ở, ông thấy vài con trâu
ngay trong vườn !. Qua diễn tả của ông Petiton, ta thấy Saigon ngay vùng mà
ngày nay được coi như thuộc trung tâm Saigon, lúc bấy giờ còn rất quê với
vườn dừa, cau và có cả các con trâu chung quanh. Đời sống Saigon như thế nào?. Ta hãy đọc những gì ông
Petiton viết như sau: “..
Đúng 10 giờ sáng là lúc nhân viên từ công sở đi ăn
trưa và sau đó về nhà nghỉ trưa cho đến 2 giờ chiều. Một số đọc báo, sách
còn lại đa số là ngủ trưa. Thành phố từ 12 giờ trưa đến 2 giờ, rất vắng
người vì trời nắng. Lúc 2 giờ mọi người trở lại làm việc. Vào lúc 5 giờ
chiều khi tiếng trống kẻng nổi lên, mọi người đủ loại giới, trí thức, thông
ngôn Việt, hay Hoa vui vẻ hối hả ra khỏi nơi làm. Những thông ngôn hay trò
học thông ngôn rất h nh diện với vẻ quan trọng. Họ lãnh 100 franc mỗi
tháng, đó là một số tiền lớn cho những người công chức Việt Nam. Lúc 5 giờ
rưỡi là lúc các người cảnh sát (matas) ra về. Lúc này có nhiều xe ngựa riêng
của các chủ xe đi dạo đến vùng Chợ Lớn và cầu Ông Lãnh. Khoảng 5 giờ rưỡi
hay 6 giờ chiều là lúc giải trí đi dạo bằng ngựa hay xe ngựa. Đường đi dạo
bằng xe ngựa thông thường nhất là đường đi Chợ Lớn cách Saigon 5km. Ở giữa
đường Saigon-Chợ Lớn là khu đầm ao hồ
(mares) nơi đó có trại lính kỵ binh đóng ở Saigon.
Sáu giờ chiều, những công nhân người Việt và Hoa chấm
dứt giờ làm việc trong ngày, và từng nhóm lớn đi về phía ngoại ô đông dân,
trải dài ở Cầu Ông Lãnh và Gò Vấp. Tôi thấy lúc này cần phải hoạt động và đi
bộ một chút; trên con đường tỏa ra từ thành phố, tôi gặp một hàng người Việt
đi bộ, người này đi sau người kia; trời tối sụp xuống nhanh chóng. Tôi nghe
vài tiếng súng bắn báo hiệu cho biết là các tàu chiến trong vũng mà tàu đang
đậu bắt đầu kéo cờ xuống.
Đêm đã xuống,
7 giờ; cần ngồi trước bữa ăn tối mà bất kỳ ai nấu cho ta cũng giống như bữa
ăn tối trên tàu khi ta đang say sóng. Bảy giờ rưỡi, kèn hiệu đi nghỉ được
gióng lên: tất cả mọi người lính tốt đều đi ngủ.
8 giờ, tiếng súng đại bác nói lên điều gì tôi cũng
không biết; có thể là giờ cảng sông Saigon đóng cửa. Sau tiếng cà nông, nếu
ta ra đường lúc này, là bắt đầu một cuộc đi chơi lý thú.
Saigon ban đêm không giống chút nào với Saigon ban
ngày. Người Hoa với các loại lồng đèn đủ màu, các tiệm may, tiệm sửa giày
v.v... các nhà chơi bài, các người bán hàng rong lưu động làm cho thành phố
có một dấu ấn đặc biệt đập vào mắt người ngoài.
..
“
Ở thời điểm chưa có máy bay dùng làm phương tiện chính để
liên lạc như sau này, thì Saigon liên hệ với thế giới bên ngoài qua tàu thủy
chạy bằng hơi nước. Tại Saigon cuộc sống một ngày hôm nay giống như ngày hôm
trước và ngày mai, trừ thời điểm lúc tàu thủy sắp cặp bến. Những ngày chờ tàu từ Pháp đến khi tàu bắt đầu vào cảng
Saigon từ Vũng Tàu là những ngày lý thú nhất cho tất cả mọi người. Tàu vào
Saigon từ Vũng Tàu lâu, vì con sông mà tàu đi vào rất uốn lượn nhiều ngã nên
vì thế phải cần một tàu nhỏ chạy bằng hơi nước được gởi ra Vũng Tàu để hướng
dẫn tàu vào. Khi tàu đến, trên đỉnh cờ một viên đạn tròn đen được kéo lên,
và được hậu thuẩn bởi một phát súng cà nông từ tàu Duperré. Lúc tàu thả neo
trong cảng thương mại đối diện với nhà rồng (messageries), cũng là lúc mà
một phát đạn cà nông nữa báo hiệu. Tàu nghỉ ở Saigon 24 tiếng trước khi đi Hong Kong. Một
vài tiếng sau khi đậu bến, người ta tìm những lá thơ mình muốn trong hộp thơ
mình, đây là lúc mọi người đều nôn nức. Vài giờ hay vài ngày sau khi tàu từ Pháp đến, tùy theo
thời điểm trong năm, một tàu từ Nhật và từ Trung quốc cũng đến Saigon, và
nghỉ tại đây 24 tiếng trước khi đi Âu châu mang theo các lá thư qua đó.
Những thương gia lúc này rất bận, họ chỉ có 24 tiếng để viết thư, để quyết
định và giải quyết các vấn đề quan trọng. Khi các tàu đã đi thì Saigon trở
lại yên tĩnh như mọi ngày (3). …” Thống kê (14) của bác sỉ Honoré Aurillac, năm 1870 dân số
Saigon như sau Viet Nam+Khmer+Mọi (indigenes) 220000
Hoa
18000
Ấn 700
Âu
600 Sau khi mô tả phong cảnh thơ mộng yên lặng thanh bình
trong bệnh viện Saigon giữa vườn cây, ông Monnier đã tả cảnh buổi họp của
Hội đồng quản hạt Nam kỳ (conseil colonial) như sau lúc ông đến tham quan và
chứng kiến một buổi họp (15). Hội đồng quản hạt được thành lập năm 1880, gồm
6 người Pháp bầu bởi những người có quốc tịch Pháp sống ở Saigon, 6 người
Việt được bầu trong mỗi khu bầu cử bởi một hội đồng các đại biểu chọn từ mỗi
làng bởi các chức sắc trong làng, 2 người từ phòng thương mại được các hội
viên phòng thương mại đề ra và 2 người được thống đốc đề cử (5) (31). Nhiệm
kỳ là 4 năm, cứ 2 năm bầu lại phân nữa. Quyền hạn của hội đồng quản hạt
tương đương như của các hội đồng dân cử ở các thuộc địa Anh (như Australia,
Singapore…).cùng thời. Ngân sách toàn Nam kỳ là do hội đồng quản hạt quyết
định, hội đồng liên hệ trực tiếp với bộ trưởng thuộc địa ở Pháp và có quyền
lập ra các ủy ban điều tra. “.. Tôi dành ở phần cuối nói về một nét địa phương
không kém lớn lao, nơi không có thơ mộng văn chương, nhưng là nơi hội họp và
bàn luận của một quốc hội “chân nhỏ”, không kém hùng biện, hào hứng trôi
chảy. Cơ quan dân cử đầu tiên trong xứ này, đó là Hội đồng quản hạt.
Không phải chỉ là phong cách và hình thức trang trí bên trong, chúng
không có gì là đặc biệt đáng quan tâm. Ngoài những quạt treo trên trần
(pankas)
(chú thích của người dịch: chữ panka có nguồn gốc từ chữ Ấn độ
“punkha” chỉ các quạt treo trên tường được các người hầu kéo qua các dây
thừng trong phòng khách ở các nhà người Ấn, “punkha” được người Anh phổ biến
đến các xứ khác trong vùng) và cân bằng nhẹ nhàng như có một bàn tay vô
hình. Các bàn ghế, đồ đạt hầu như cũng giống như đa số các nơi khác danh cho
các đại biểu. Phòng hình bầu dục, tất cả đều trắng, không có nét trang trí
và nếp đường chỉ nào, hai bên mở ra hai ban công hành lang để công chúng
quan sát. Chắc chắn là có những quốc hội khác không có chổ nào được bằng như
ở đây. Tôi đã dự một buổi họp và đã không tiếc thời gian mất cho buổi chiều
như vậy. Cuộc thảo luận hôm đó, nói thật ra thì chỉ gây một chú ý bình
thường không có gì đặc sắc hào hứng. Hôm đó chỉ bàn những chuyện nhỏ mọn:
các kiến nghị, đòi hỏi các trợ cấp, nâng đỡ - rất nhiều đòi hỏi - lúc
có câu hỏi không rõ về các thuế mới, về sự tăng thuế xuất khẩu lúa gạo thì
cuộc thảo luận trở thành sống động. Nhưng cũng không lâu thì người ta trở
lại các bản kiến nghị.
Chung quanh bàn có hình móng ngựa, các đại biểu
(conseiller) Pháp y phục trắng xen giữa các đồng nghiệp người Việt đội
khăn đen, tất cả tách biệt trên thảm xanh lá cây như các mảnh quân trong trò
chơi domino; những đại biểu bản xứ, rất nghiêm trang, đứng đắn, lắng nghe
nhưng không hiểu, tuy vậy quyết không để nghe mất một câu nào. Duy nhất là
lúc bỏ phiếu, thì người thông ngôn nói cho họ biết về tình hình diễn biến
hiện tại và dịch những kết luận của báo cáo viên. Với vấn đề cá biệt, đã quá
đi vào chuyên sâu, để có thể đi đến nói lại kết luận, người thông ngôn luôn
tìm được phương cách để truyền đạt giống như người phát ngôn trong vở kịch
“Bourgeois gentilhome”
(“Trưởng giả học làm
sang” của Molière), họ dùng chỉ trong ba hoặc bốn chữ tượng thanh, gần
giống như các từ như Belmen và Marababa Selhem
(chú
thích của dịch giả: những từ này dùng trong vở kịch trong đó Covielle - đầy
tớ của Cléonte- giả nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ với nhà trưởng giả Jourdain dùng một chữ cô
đọng nhưng có nghĩa rất nhiều, dài tương đương với vài câu trong tiếng Pháp.
Covielle dùng những từ hoàn toàn bịa đặt như trên để gạt ông Jourdain gả con
gái cho Cléonte). Điều này làm tôi nghiêng về ý kiến là tiếng Việt Nam có
những đặc tính giống như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ mà ta không thể bỏ qua được, nói
lên được rất nhiều mà chỉ dùng một vài chữ thôi. Dưới đó, các ông đại biểu
người địa phương (indigenes, tức Việt Nam) đội khăn nghe xong thì bàn luận
rất nghiêm trọng, và sau đó đi qua vấn đề khác kế tiếp.
Nhưng cá tính của hội đồng này, một lý do cốt yếu làm cho chúng ta có cảm
tình, rất đơn giản, là không có sự hỗ thẹn giả giối, không quá thận trọng nể
vì, nó thể hiện cả sự yếu đuối của con người và sự nghiêm khắc chặt chẽ
trong tranh luận. Nó ngược lại với những gì xảy ra ở các quốc hội hay hội
đồng (parlement) khác, mà trong đó không khí tranh nhau
rất khó thở ngột ngạt căng thẳng, rất thông thường át đi tiếng nói của những
nhà đại biểu hùng biện. Ở đây tất cả mọi người đều nói được… và rất nhiều
món giải khát. Không phải chỉ là ly nước đường truyền thống, dành riêng và
được uống ừng ực một cách kiêu ngạo của ông chủ tọa, mà nhiều ly nước cho
tất cả mọi người. Những đại biểu của hội đồng quản hạt, chính họ cũng có
quyền bất diệt là không bị chết khát. Trước mỗi đại biểu là một ly nước sinh
lực (tonique) lựa chọn theo ý mình, được pha với nước soda và nước đá. Thỉnh
thoảng một chú bé làm dich vụ, đi vòng quanh, chêm vào các ly đã cạn và
trình ra trước các người đại biểu muốn hút thuốc đủ loại các thuốc lá, xì
gà. Nếu những người kiểm duyệt tính tình nghiêm trang chán ngắt ủ rê muốn
phản đối về những canh tân như vậy, tôi sẽ mời họ trước khi ra luật đến dưới
bầu trời nắng da diết của xứ này trong vòng vài tiếng; sự đắn đo hão huyền
của họ sẽ tan biến như tuyết dưới ánh nắng mặt trời. Đối với tôi, tôi cho
rằng điều này không có vần đề gì với tôi. Hơn nữa, tôi có một ước nguyện, là
đòi hỏi hội đồng nên nới rộng biện pháp hay như vậy cho đến cả những khán
giả bình thường đến xem hơn là họ chỉ được thấy những ly nước uống giải
khát, và hít mùi thuốc lá thơm mà thôi.
…“ Sau Le Myre de Vilers, thời thống đốc Paul Blanchy, cơ sở
hạ tầng được tiếp tục xây dựng, đường xe lửa Saigon-Mỹ Tho được hoàn tất và
khánh thành năm 1885 do kỷ sư Thévenet thực hiện. Và năm 1891 bưu điện thành
phố được hoàn thành. Saigon, tháng 9 năm 1885, cũng tiếp nhận hàng ngàn người
dân tị nạn. Họ là những người Việt theo đạo Thiên chúa chạy từ Qui Nhơn vào
trên một tàu Đức chở đến sau khi thoát khỏi những chiến dịch cấm đạo diễn ra
ở miền Trung do triều đình nhà Nguyễn khởi động, “trước khi đánh Pháp từ
ngoài, trước hết phải diệt các ‘người Pháp bên trong’”, như những viên quan
triều đình đã nói (21). Họ được các xứ đạo ở Saigon tiếp nhận bảo trợ định
cư lại ở vùng đất mới. Đến cuối thế kỷ 19, Saigon đã là một thành phố đủ mọi sắc
tộc Âu, Á sống không khác các thành phố cùng thời lúc đó là Singapore và
Hong Kong (5). Năm 1888, một đoàn xiếc Australia “Woodyear’s Electric
Circus” ghé Saigon trình diễn trong hành trình đi lưu diễn ở nhiều thành phố
Á châu và Thái Bình Dương. Trở thành một đô thị trung tâm thì phải có một tờ báo. Tờ
báo Le Courrier de Saigon, xuất bản một tuần 2 lần, ra mắt số đầu
tiên ngày 3/4/1888 (lúc ông cựu thị trưởng Saigon, Blansubé mất). Đây là tờ
báo tư nhân đăng những tin liên quan đến thành phố và các nơi khác, từ các
mẫu tin nhỏ nhất như đua ngựa, chương trình trình diễn trong nhà hát thành
phố (không phải nhà hát hiện nay), tai nạn, trộm cắp…đến những tin về kinh
tế, chính trị ở Đông Dương và quốc tế qua thông tin của hãng Reuter.
Trong cuộc bầu cử đại biểu Nam kỳ vào quốc hội Pháp ngày
13/5/1888, tờ Le Courrier Saigon đã ủng hộ ông Carabelli tranh cử với
ông Ternisien. Tờ báo tấn công dữ dội ông Ternisien (luật sư ứng cử viên
cộng hòa, chống lại hàng rào quan thuế nhập khẩu)) cho là ông Ternisien đã
có những hành động bất lợi cho Pháp khi ông ở Cam Bốt thương lượng với vua
Cam Bốt về những hợp đồng thương mại và thiết lập đường xe lửa mà lúc trước
cựu thống đốc Le Myre de Vilers đã có dự định thiết lập. Những chi tiết cá
nhân, thơ từ và quá khứ hoạt động của ông Ternisien đã bị tờ báo mang ra
công kích. Nhưng ông Ternisien đã được nhiều người cử tri ủng hộ (nhất là
người Ấn độ). Ông phó thống đốc, Navelle, đã gởi cho ông thị trưởng
Carabelli 4 ngày trước ngày bầu cử là phải cập nhật ghi lại danh sách các cử
tri Ấn Độ. Nhưng ông Carabelli từ chối vì cho là không đúng luật và ông
không có thẩm quyền làm như vậy. Chỉ khi ông Navelle khẩn cấp gởi thư ra
lệnh dùng điều khoản 38 trong sắc lệnh ngày 8/1/1877 để bắt ông Carabelli
phải thi hành. Lúc đó ông Carabelli mới chịu (29). Kết quả bầu cử là ông Ternisien thắng, trước ông
Carabelli và ông Laurans (chủ nhiệm tờ Indochinois). Ở vòng hai ông
được bầu vào quốc hội với số phiếu 710 (1,216 đi bầu trong số 2,144 cử tri
ghi danh), hơn ông Carabelli với 494 phiếu. Nhưng ông Ternisien chỉ làm được
6 tháng thì qua sự khiếu nại của ông Carabelli về sự không rõ ràng của danh
sách cử tri, quốc hội Pháp đã hủy kết quả và hoãn bầu lại đại biểu Nam kỳ
cho đến tháng 4 năm 1889 để thiết lập lại danh sách cử tri trong đó những
người Ấn từ thuộc địa Pháp ở Ấn độ khi ở Saigon chỉ được bầu ở xứ họ chứ
không được bầu ở Saigon (30). Tuy vậy trong kỳ bầu cử tháng 4 năm 1889, thì
cả hai ông Ternisien và ông Carabelli cũng không thắng mà người thắng vào
quốc hội là ông Le Myre de Vilers, sau khi ông này nhảy vào tham gia vào
cuộc tranh cử đầy kịch tính này. Ông Ternisien, sau thất bại bầu cử, trở
lại làm nghề luật sư ở Vĩnh Long. Tháng 4/1888, thị trưởng thành phố ông Carabelli trưng
bày ở tòa thị sảnh các dự án mang điện thắp sáng thành phố. Thành phố Saigon
sửa soạn bước vào thế kỷ 20. Lời kết
Saigon là một thành phố của nhiều lưu dân đến để tạo ra
một sắc thái riêng. Ngay từ lúc đầu, thành phố là một thành phố đa chủng
tộc, đa văn hóa. Người bản xứ Mạ, Stieng, người Khmer, người Chăm, người Hoa
từ các tỉnh Quảng Đông, Triều Châu, người Việt từ các tỉnh miền Trung, và
sau này người Pháp, Ấn độ (Malabar), Phi (Tagal) đến, tất cả đã để lại những
sắc thái, văn hóa, kiến trúc, ngôn ngữ, giai thoại… để tạo thành người
Saigon với đặc tính thực dụng, hòa hợp, trọng lẽ phải, tôn trọng sự khác
biệt và mang tính chất “trọng nghĩa khinh tài” của vùng đất Nam bộ. Saigon
từ cuối thế kỷ 19 đã là thành phố toàn cầu (global city) không phải đợi đến
thế kỷ 21 của thời đại toàn cầu hóa của thời đại hiện nay. Tham khảo (1) Trần Nhật Vy, “Bí mật” nhà thờ Đức Bà, Tuổi Trẻ,
30/12/2004,
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/61715/Bi-mat-nha-tho-Duc-Ba.html
; http://vietbao.vn/Phong-su/Bi-mat-nha-tho-Duc-Ba/40061715/263/
(2) L. I., Saïgon-Souvenir, petit guide saigonnais à l'usage des passagers
des débutants dans la colonie, Editeur Coudurier et Montégout (Saïgon),
1906.
(3) Anatole Petiton, La Cochinchine française: la vie à Saïgon, notes de
voyage, Éditeur : Impr. de L. Danel (Lille), 1883.
(4) Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Souvenirs historiques
sur Saïgon et ses environs, conférence faite au collège des interprètes par
M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur : Impr. coloniale (Saïgon), 1885.
(5) Les colonies françaises: notices illustrées / publ. par ordre du
sous-secrétaire d'état des colonies sous la dir. de M. Louis
Henrique,Quantin (Paris), 1889-1890.
(6) Trần Ngọc Quang, Saigon và những tên đường xưa,
http://namkyluctinh.org/a-lichsu/tngocquang-saigontenduongxua.pdf.
(7) Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, 1992, Nxb Trẻ
(8) Claudine Salmon, Tạ Trọng Hiệp, De Batavia à Saigon: notes de voyage d’
un marchand chinois (1890), Archipel, 1994, Vol. 47, pp. 155-191.
(9) John Crawfurd, Journal of an embassy from the
governor of India to the courts of Siam and Cochinchina; exhibiting a view
of the actual state of those kingdom by John Crawfurd. London. Henri Colburn
and Richard Bentley, New Burlingtong Street. 1830.
(10) John White, A Voyage To Cochin China; by John White,
Lieutenant in The United State Navy, London, 1824. Online:
http://www.archive.org/stream/voyagetocochinch00whitrich#page/n15/mode/2up
(11) Nguyễn Công Tánh, Thay đổi tên đường của Thành Phố
Sài Gòn từ năm 1928 đến năm 1993,
http://motgocpho.com/forums/showthread.php?1895-L%E1%BB%8Bch-S%E1%BB%AD-Saigon
(12) Paulin Francosi Alexandre Vial, Les premieres années de la Cochinchine,
colonie francaise, BiblioBazaar, LLC, 2009.
(13) Hình ảnh, tư liệu, http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm
(14) Honoré Aurillac, Cochinchine. Annamites, Moïs, Cambodgiens, Challamel
aîné (Paris), 1870
(15) Marcel Monnier, Le Tour d'Asie: Cochinchine, Annam, Tonkin, E. Plon,
Nourrit et Cie (Paris), 1899.
(16) Albert Morice, Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74, par
M. le Dr Morice, H. Georg (Lyon), 1876.
(17) John Barrow, A voyage to Cochinchina in the years
1792 and 1793: containing a general view of the valuable productions and the
political importance of this flourishing kingdom, T. Cadell and W. Davies in
the Strand, London, 1806. online : http://purl.pt/126
(18) Jules Blancsubé, Notes sur les réformes les plus urgentes à apporter
dans l'organisation des pouvoirs publics en Cochinchine (Signé : Jules
Blancsube [31 Décembre 1878]), Impr. de Ve Remondet-Aubin (Aix), 1879.
(19) P. Cultru, Histoire de la Cochinchine française, des origines à 1883.
A. Challamel (Paris), 1910.
(20) Eugène Bonhoure, Indo-Chine, Challamel (Paris),
1900.
(21) Réveillère, Paul-Émile-Marie (dit Paul Branda), Ça et là. Cochinchine
et Cambodge. L'âme khmère. Ang-Kor. Troisième edition, Fischbacher (Paris),
1887.
(22) P. Midan, La Pagode des clochetons et la pagode Barbé, contribution à
l'histoire de Saïgon-Cholon , Impr. de l'Union Nguyên-van-Cua (Saïgon),
1934.
(23) X. Gaultier de Claubry, Un Casse-cou, ou le Budget de la Cochinchine en
1882 , Impr. de J. Le Clere (Paris), 1882.
(24) Hte-. Frédéric-Thomas Caraman, Sept cents millions de revenus en
Cochinchine, mémoire-rapport à M. le Président de la République et à
l'Assemblée nationale, suivi d'une note sur l'Algérie, A. Le Chevalier
(Paris), 1871.
(25) Les Tablettes coloniales. Organe des possessions françaises
d'outre-mer, No. 45, 19/12/1888,
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5512296p.image.r=Wang-Tai.f1.langEN
(26) Budget local: exercice / Gouvernement général de l'Indochine,
Cochinchine, Impr. du Gouvernement (Saigon), 1876.
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5448883k.image.r=Wang-Tai.f97.langEN.hl
(27) Excursions et reconnaissances, No. 4, Imprimerie du gouvernement,
Saïgon, 1880.
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5747850m.image.hl.r=Wang-Tai.f5.langEN.pagination
(28) Catalogue officiel. Tome 5 / Exposition universelle internationale de
1878 à Paris ; publié par le commissariat général, Imprimerie nationale
(Paris), 1878
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k90427z.hl.r=Wang-Tai.f175.langEN
(29) Le Courrier de Saigon, 11/5/1888 no. 12, trang 2,
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5527269m.image.r=Landes+naufrage+Cholon.f2.langEN
(30) Assemblee National de France, Base de données des députés français
depuis 1789,
http://www.assemblee-nationale.fr/sycomore/fiche.asp?num_dept=6987
(31) Paul Bonnetain, Le Monde pittoresque et monumental. L'Extrême-Orient,
Quantin (Paris), 1887 (trang 130).
|