

1: Địa Trung Hải (Mediterranean
Sea); 2: Hải cảng Saïd; 3: Hồ Al-Manzala;
4: Hồ Timsah; 5: Biển Đỏ (Red
Sea)

1: Địa Trung Hải (Mediterranean
Sea); 2: Hải cảng Saïd; 3: Hồ Al-Manzala;
4: Hồ Timsah; 5: Biển Đỏ (Red
Sea); 6: Sông Nil; 7: Kênh đào Suez
1/ Kênh Đào Suez.
Từ 4000 năm về trước, người Ai Cập đã có ước mơ mở
một kênh đào trên dải đất Suez khi Vua Pharaoh cho
đào một con kênh đầu tiên nối giòng sông Nile với hồ
lớn Bitter. Cũng vì chưa có kênh đào Suez nên trong
nhiều thế kỷ, việc thương mại của miền Trung Đông
với châu Âu phải đi qua phần đất liền của châu Á rồi
sau đó, các con tầu biển chở hàng hóa từ Hồng Hải đã
phải dương buồm qua mỏm cực nam của châu Phi để đi
tới biển Địa Trung Hải.
Vì kênh đào chỉ có thể dùng cho
các tàu chạy bằng máy mà tới năm 1860 chỉ có 5%
thuyền chạy
bằng nơi nước nên việc xây kênh xem như
một cá cuộc. Nhưng thập niên tiếp theo thì những tàu
buôn được tăng lên hàng loạt
Kênh đào
Suez dài 163 cây số, gấp hai lần chiều dài của kênh
đào Panama, với 123 cây số hai bên bờ được xây tường
thành bằng đá và xi măng để tránh bị sụp lở và chỉ
có 39 cây số giòng kênh đi qua các hồ nước được nạo
vét dưới đáy.
Giòng kênh Suez có chiều sâu 20 mét và chiều ngang
di chuyển được giữa các phao nổi là 180 mét. Tầu
thuyền có thể di chuyển hai chiều tại 4 đoạn kênh
dài hơn 67 cây số. Các con tầu biển thật lớn với độ
chìm (draught) tới 16 mét đều có thể đi qua kênh đào
Suez. Chỉ các tầu thật lớn khi di chuyển trên kênh
đào mới cần tới tầu kéo và thời gian mất từ 12 tới
18 giờ. Để tránh các tai nạn có thể xẩy ra, các tầu
thuyền phải di chuyển với tốc độ cố định, cách
khoảng trước sau và hai bên cố định. Các đoàn tầu
được tính toán cẩn thận để chạy ngược chiều nhau
trên hồ lớn Bitter.
Mỗi ngày, trên kênh đào có hai đoàn tầu đi từ phía
nam lên mạn bắc và một đoàn tầu đi từ phía bắc
xuống, với tổng số tầu bè qua lại vào khoảng 80
chiếc. Hàng năm, có vào khoảng 20,000 con tầu chuyên
chở từ 300 tới 400 triệu tấn hàng, với một nửa là
tầu chở dầu và chở hàng hóa. Tầu đi lên mạn bắc chở
theo dầu lửa từ Vịnh Ba Tư để tới các nước Tây Âu,
còn xuôi về nam là các con tầu chở sản phẩm kỹ nghệ
và ngũ cốc, từ châu Âu và Bắc Mỹ, để đi tới miền nam
châu Á và Viễn Đông. Ngoài ra còn có các con tầu
chiến và tầu du lịch viễn duyên. Nhờ có kênh đào
Suez, con đường biển từ thành phố London, nước Anh,
tới thành phố Bombay, Ấn Độ, đã tiết kiệm được
11,670 cây số so với hải lộ qua Mũi Hảo Vọng của Nam
Phi.
Kênh đào Suez dài gấp hai lần kênh đào Panama nhưng
lại dễ thực hiện hơn nhiều vì đi qua một miền đất
bằng phẳng, ngang với mặt nước biển nên không cần
loại cửa cống khóa nước (lock).
2/ Lịch sử:
Thế kỷ thứ 13 trước Công nguyên:
Một kênh đào được xây giữa châu thổ sông Nile và
biển Đò (Red Sea) . Những thế kỷ tiếp theo,
chỉ một phần của kênh được coi ngó.
Tk 8 TCN: kênh không còn được giữ
gìn và tàu bè không còn qua lại được
1854: Saïd Pasha, một phó
vương Ai Cập, quyết định thi hành dự án đào kênh,
nối Địa Trung hải (Mediterranée) tới Hồng hải
(Mer Rouge)
Tới năm 1858, một viên kỹ sư
người Pháp tên là Ferdinand de Lesseps, nhờ là bạn
của Phó Vương Ai Cập Saïd Pasha, nên đã giành được
quyền tổ chức một công ty có mục đích đào một con
kênh nhân tạo. Đó là công ty
La Compagnie Universelle du
Canal Maritime de
Suez. Công ty
này là của cả hai bên, Pháp và Ai Cập, cả hai phải
xây dựng và được quyền quản lý trong 99 năm.
Sau thời gian này, quyền sỡ hữu sẽ thuộc về chính
phủ Ai Cập

Saïd pacha, 1859. |

Hoàng tử Toussoun,
con của du
phó vương Saïd pacha.
|
25/04/1859 : Bắt đầu công trình:
hãng Ferdinand de Lesseps xây
dựng kênh từ 1859 đến 1869. Cuối công trình, Ai Cập
được 44% và 21 000 người Pháp đồng làm chủ.
Người ta phỏng đoán rằng khoảng
1,5 triệu người Ai Cập tham dự vào công trình xây
cất kênh và 125000 người thiệt mạng, thường là do
bệnh thổ tả (choléra) . Có những máy móc đặc biệt
làm ra để giúp họ.
17/02/1867: chiếc tàu đầu tiên
chạy trên kênh, nhưng phải đợi tới ngày
17/11/1869
kênh
đào Suez mới được khánh thành dưới sự hiện diện của
hoàng hậu Eugénie, vợ vua Napoléon III tại hải cảng
đầu tiên ở phía bắc là Hải Cảng Saïd (Port Saïd),
được đặt bằng tên của Phó Vương Saïd Pasha. Kích
thước như sau: sâu 8 mét, bề rộng nơi mặt đáy 22
mét, chiều rộng trên bề mặt 58 mét
1875: Vì mắc nợ các nước ngoài,
nên Ai Cập bó buộc phải bán cổ phần cho nước Anh
1882: Quân đội Anh đóng
quân ở hai bờ kênh để bảo vệ và thay thế đế quốc
Ottoman, đỡ đầu cho nước
1888: Do sự thỏa thuận quốc tế,
kênh được mở cho tàu bè mọi nước
Trong thời kỳ Thế giới đại chiến
lần I, người Anh điều đình để ký bản thỏa thuận
Sykes-Picot giữa Anh và Pháp để chia Trung đông nhằm
đẩy xa ảnh hưởng của Pháp trên kênh Suez
Giá trị cổ phần tăng lên gấp
bội
1936: Thông qua một hiệp ước
người Anh được quyền đóng quân ở vùng kênh đào
1948: Nhà cầm quyền Ai Cập
điều chỉnh chống không cho tàu dùng kênh Suez
để tới hải cảng Israël
1954: Thỏa hiệp giữa Ai Cập
và Anh quốc phải rút quân sau 7 năm
Tháng 6, 1956:
Khi quân đội Anh rút đi, quân đội Ai
Cập đến đóng
26/07/56:
Nasser, thủ tướng Ai Cập quốc hữu
hóa kênh Suez. Điều này làm mất quyền lợi của Pháp
và Anh nên họ cùng với
Israël định lấy lại chủ
quyền. Nhưng dưới áp lực của Liên bang Xô viết, hăm
dọa sẽ cho nổ bom nguyên tử, trong lúc
hậu thuẫn Hoa kỳ của họ không tới, nên họ bó buộc
phải cho quân đội rút lui. Chiến thắng này đưa
Nasser lên hàng anh hùng của người A Rập.
31/10/56:
Pháp và Anh tấn công Ai Cập viện cớ
là họ muốn mở kênh cho mọi tàu be qua lại. Ai Cập
trả lời bằng việc đắm chìm 40 chiếc tàu hiện diện
trong kênh vào thời điểm đó.
3/1957 :
Mở cửa kênh trở lại
1962: Những người có cổ phần
được thanh toán
5/6/1967: Chung với
cuộc chiến 6 ngày (Six-Day War), Ai Cập đóng cửa
Kênh cho tới 1975, một lực lượng an ninh của Liên
Hiệp Quốc ở tại chỗ cho tới năm 1974
5/6/1975 : Mở cửa
trở lại cho phép tàu bè chở hàng hoá từ Israël qua
lại kênh
1979: Ai Cập thỏa thuận
Israël cho tàu bè qua lại không hạn chế , hòa
bình giữa hai dân tộc
|