Những bài cùng tác giả
Du khách
khi đã đến khu phố cổ dọc Clark Quay và Boat Quay gần sông ở Singapore, hay
ở phố cổ người Hoa ở Melaka (Mã Lai) và nếu cũng đến khu phố có các nhà cổ
dọc kênh Tàu Hủ và khu đường Phùng Hưng ở Chợ Lớn sẽ nhận thấy có những sự
giống nhau hầu như không phân biệt được của các kiến trúc đông tây của các
nhà cổ ở hai thành phố trên. Điều này ít ai để ý, nhưng nếu ta lật lại trang
sử cách đây gần hai thế kỷ, ta sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng rất nhiều
các tòa nhà này đã được các thương gia người Baba (Peranakan hay
Straits-settlement Chinese) từ Melaka ở Singapore xây dựng khi họ cư trú làm
ăn ở Chợ Lớn. Ba anh em Trần Khánh Hòa, Trần Khánh Vân và Trần Khánh Tinh là
thầu xây dựng ở Saigon-Chợ Lớn cho chính quyền. Theo Paul Vial thì tờ
Courrier Saigon số ngày 20/12/1864 (16) cho biết các nhà gạch dọc theo rạch
Bến Nghé-kênh Tàu Hủ (Arroyo chinois) phía Chợ Lớn đã được xây nhanh chóng
và một người Baba gọi là Ban-hap (Vạn Hòa), tên thật là Gan Wee Tin (Nhan Vĩ
Thiên), có ngôi nhà hai tầng đẹp nhất được thống đốc de la Grandière mời
đến tặng thưởng. Sự liên hệ của người Baba gốc Hoa ở Singapore và Saigon, Hong Kong trong lãnh vực
kinh tế văn hóa xã hội vào thế kỷ 19 khi Singapore trở thành trung tâm
thương mại ở Đông nam Á, vai trò của họ trong sự thành lập đặc tính con
người nước Singapore qua sự kết hợp văn hóa và tư tưởng Đông Tây và sự ảnh
hưởng của họ trong sự phát triển Saigon-Chợ Lớn sẽ được trình bày trong bài
này.
Sự
thành lập Singapore và hệ quả kinh tế xã hội ở Đông Nam Á
Trước năm
1819, đảo Singapore chỉ là một làng đánh cá Mã Lai và đã có một số người Hoa
rất ít sống rải rác nơi này. Gần Singapore về phía bắc dọc bờ biển phía tây
bán đảo Mã Lai và bắc Sumatra, lưu dân người Hoa đã đến định cư từ các thế
kỷ trước trong cộng đồng người bản sứ Mã Lai. Họ sống nhiều đời ở các nơi
này và du nhập một số các tập tục đời sống, tiếng nói văn hóa Mã Lai, tuy
vậy đa số vẫn giữ phong tục tập quán và nguồn gốc ở các tỉnh dọc bờ biển Hoa
Nam mà tổ tiên họ đã từ đó ra đi. Rất nhiều người con cháu họ không còn biết
tiếng Trung quốc, họ được gọi là người Baba hay paranakan Cina
(tiếng Mã Lai nghĩa là con cháu người Hoa), tương tự như người Minh Hương ở
miền nam Việt Nam. Các thành phố Melaka, Penang, Tangerang, Riau… là nơi có
nhiều người Baba gốc Hoa định cư, họ sống chung với cư dân Mã Lai và tiếp
xúc buôn bán với người Bồ Đào Nha và Hòa Lan đã đến bờ biển Mã Lai buôn bán
trước khi người Anh đến thiết lập thuộc địa.Năm 1819,
Sir Stamford Raffles lập Singapore, một thành phố cảng gần cửa sông và tuyên
bố thành phố này là cảng trao đổi hàng hóa, buôn bán tự do, không thâu thuế,
cho tất cả các thương nhân, thuyền buôn từ tất cả các nước. Sự thành lập
Singapore và vị trí thuận lợi của thành phố này là nơi trao đổi hàng hóa
giữa Siam, Miến Điện, Nam kỳ (Cochinchina), quần đảo Nam Dương, Mã Lai nơi
sản xuất gạo, hồ tiêu, gia vị, thiết, Trung Quốc nơi cung cấp trà, lụa và
các nước Ấn Độ, Tây phương, khởi đầu cho sự thay đổi toàn diện sự phát triển
kinh tế, xã hội ở Đông Nam Á. Người
Baba từ Melaka là những người đầu tiên đến Singapore tạo lập sự nghiệp, lập
cơ sở làm ăn, buôn bán. Như ông Trần Đốc Sinh (Tan Tock Seng) từ Melaka đến
Singapore từ lúc đầu (1819) buôn bán trái cây, rau quả và trở thành người
Baba giàu có và một trong những người tiên phong phát triển Singapore (bệnh
viện Tan Tock Seng là bệnh viện lâu đời nhất ở Singapore do ông lập). Chỉ vài
năm sau, Singpapore trở thành thương cảng phát đạt, thịnh vượng. Năm 1821,
tàu buôn đầu tiên đến Singapore từ Hạ Môn (Amoy hay Xiamen) và sau đó nhiều
người di dân Trung quốc từ Phúc Kiến, Phúc Châu, Triều Châu, Quảng Châu đến
Singapore và từ đây đa số đã đi lập nghiệp dọc bờ biển bán đảo Mã Lai hay
Riau, Medan ở Sumatra làm ăn. Rất nhiều người trong họ đi khẩn hoang, phá
rừng lập nông trại trồng tiêu, cau mứt (gambier) hay làm nhân công trong các
công ty, cu li ở cảng Singapore hay các mỏ thiết, vàng ở Mã Lai, các đảo
Indonesia. Singapore trở thành trạm trung chuyển cung cấp dịch vụ, chuyển
tiếp cho các người di dân Trung quốc nhập cư ngày càng nhiều đến các vùng
lân cận để khẩn hoang lập nghiệp ngay cả đến các nơi xa như Australia.

Quang cảnh sông Singapore gần vịnh
Sau chiến
tranh nha phiến chấm dứt vào năm 1842, do có nhiều thay đổi loạn lạc, làn
sóng di cư người Hoa xuống Đông Nam Á tăng nhiều. Những người không đủ tiền
trả lộ phí đi tàu để di dân, nên phải chịu thiếu chủ tàu hay chủ các công ty
ở Singapore đang cần và tuyển người làm công. Những người di dân này phải
trả tiền thiếu lại sau nhiều năm tháng làm công. Nam Trung Hoa là nguồn cung
cấp lao động có năng lực, rẻ. Sự đòi hỏi lao động càng nhiều đã tạo ra cơ
hội lớn cho các nhà doanh nhân thương nghiệp, chủ các công ty ở Singapore để
gởi các đại diện qua Quảng Châu, Phúc Kiến và cả Thượng Hải tuyển nhân công,
dân di cư nghèo khổ đi lập nghiệp. Lúc đầu di dân nghèo bị bóc lột, đối xử
như nô lệ qua số nợ phải trả coi như làm không công ở các nhà kho, cảng,
nông trại hồ tiêu, cau mứt (gambier), thuốc phiện, mỏ thiết. Gambier (cau
mứt) được trồng nhiều để lấy chất triết từ cây, chất này dùng để thuộc da
(tanning) hay nhuộm. Người Triều Châu chủ yếu thống lãnh nghề trồng tiêu,
cau mứt ở Singapore lúc đầu rồi sau đó phát tán ra các vùng chung quanh như
Johor ở bán đảo Mã Lai hay Sumatra. Người gốc Hoa chẳng bao lâu trở thành đa
số ở Singapore và càng đông ở các thành phố như Penang, Medan, Riau.

Boat Quay – Các kho hàng ở dọc bờ nam sông Singapore
Dân số
càng đông nên nhu cầu thực phẩm như gạo càng nhiều. Siam (Thái Lan) và Nam
kỳ (Cochinchina) là hai vựa lúa lớn trong vùng, vì thế gạo được nhập khẩu từ
hai nơi này càng lúc càng tăng. Các người gốc Hoa ở Singapore, đa số là Baba
thông thạo qui cách làm ăn và mang quốc tịch Anh, chủ các công ty hay doanh
nhân đã qua Siam và Saigon, để thiết lập các cơ xưởng, kho hàng, trạm thâu
mua gạo. Gạo là sản phẩm chiến lược cho thị trường Singapore đi Đông Nam Á,
Hong Kong, nam Trung quốc và trực tiếp đến Manila.

Boat quay – cu li khiêng gạo lên kho
Một sản
phẩm mang lợi nhuận nhiều là thuốc phiện. Những người di dân Trung quốc mang
theo thói quen hút thuốc phiện đến các vùng đất mới ở Mã Lai, quần đảo Nam
Dương. Thuốc phiện được người Anh du nhập vào Trung quốc đầu thế kỷ 19 từ
các vùng sản xuất ở Ấn Độ để cân bằng cán cân thương mại do sự nhập khẩu quá
nhiều trà, tơ lụa từ Trung quốc vào Âu châu của công ty Đông Ấn. Các công ty
này không đủ số lượng bạc và vàng phải trả, nên sản phẩm thuốc phiện là hàng
bán có lợi nhuận lớn nhất hơn vũ khí, hàng kỹ thuật. Chẳng bao lâu, thuốc
phiện là hàng nhập khẩu chủ yếu của Trung quốc. Sự nghiêm cấm nhập thuốc
phiện của nhà Thanh cũng là nguyên nhân chính đã đưa đến chiến tranh nha
phiến dẫn đến hòa ước bất bình đẳng buộc Trung quốc phải nhượng địa và mở cử
các hải cảng ở bờ biển Trung quốc cho thương mại tự do. Thuốc
phiện được dân công làm cu li dùng để giải sầu, trong lúc buồn vắng, xa nhà.
Đây là nguồn lợi nhuận lớn cho các nhà buôn, và chính quyền sở tại qua thuế.
Các chủ nhà buôn, công ty có thế lực được gọi là “tào kê” (tiếng Triều
Châu). Đối với công nhân, cu li làm trong các mỏ xa xôi, khẩn hoang ở các
trại gần rừng, tiện nghi không có, làm việc cực nhoc, thuốc phiện không
những là nguồn giải sầu cô đơn, mà còn là thuốc duy nhất có tác dụng trị đau
nhức, giảm kiết lỵ, sốt hay sốt rét. Quả thật nếu không có tác dụng làm
nghiện và nguy hại nếu dùng quá liều, thì thuốc phiện là thứ quí giá nhất
cho họ ở những vùng hoang vắng. Vì thế thuốc phiện là nguồn mà các tào kê
cung cấp cho những cu li, công nhân làm việc và trở thành thứ cần thiết vừa
cho công nhân mà còn mang lại lợi nhuận cho chủ. Điều này làm công nhân trở
thành tùy thuộc các tào kê qua nợ mua thuốc giá cao từ nguồn cung cấp gần
như độc quyền của các tào kê.Các chủ
thường bán thuốc phiện cho nhân công, cu li trong cảng, bến tàu, rừng, mỏ,
nông trại hoang vắng với giá cao so với giá thành và ngay cả cho họ thiếu
nếu không đủ tiền vì thế họ lúc nào cũng phải thiếu nợ chủ, phải làm việc để
trả nợ, coi như làm không công. Do đó làm chủ các nông trại trồng và xưởng
làm thuốc phiện là một nguồn lợi nhuận khổng lồ. Chính quyền sở tại biết
thế, nên để dễ kiểm soát và thâu thuế, họ thường cho đấu giá độc quyền trồng
thuốc phiện ở các nông trại và xưởng làm thuốc phiện trong một số năm hạn
định. Các công ty tranh nhau được độc quyền ở Singapore, Hong Kong. Siam,
Nam Kỳ, Cam Bốt khi đấu giá được tổ chức ở những nơi này. Ở Cam Bốt, hầu như
lợi tức của hoàng gia triều đình nước này là từ các trại thuốc phiện. Một
người baba ở Singapore, gọi là Ban-hap (Vạn Hòa), qua Saigon buôn bán gạo và
thuốc phiện và trong thời kỳ Pháp chiếm Nam kỳ đã được độc quyền một thời
gian trồng thuốc phiện ở Nam Kỳ và sau đó ở Cam Bốt do vua Cam Bốt giao thầu
trồng và lấy thuế thuốc phiện. Sau này
do sự lan tràn các tệ nạn xã hội thiệt hại kinh tế lâu dài do thuốc phiện
gây ra, thuốc phiện bị bãi bỏ và cấm vào đầu thế kỷ 20 (1907) ở Singapore và
bán đảo Mã Lai và từ đó lần lần nguồn sản xuất và thị trường biến mất vào
giữa thế kỷ 20. Tuy nhiên ta phải để ý là vai trò của thuốc phiện trong lãnh
vực kinh tế ở thế kỷ 19 rất là quan trọng trong thời kỳ phát triển ở Đông
Nam Á.Những
người Hoa có vốn, để làm ăn ở vùng đất mới và tương trợ nhau, họ bỏ chung
nhau một số vốn, phần hùn vào một tổ chức mà họ gọi là kongsi (“công ty”).
Nếu kongsi làm ăn phát đạt, thì tài sản lợi nhuận được chia theo phần hùn.
Người có phần hùn có thể bán lại hay mua phần hùn của người khác. Kongsi nổi
tiếng lớn và có thế lực lâu đời là Khâu “công ty” của gia đình người baba họ
Khâu ở Penang. Trong hoạt động của công ty, con dấu (“chop”) mang ấn hiệu
của công ty trong giấy tờ chính thức có biểu tượng đặc biệt, như “chop” Chin
Sing (Thành Hạnh), vì thế con dấu cũng là công ty. Các lưu
dân lúc đầu đa số là nghèo khó, họ thường tương trợ lẫn nhau giữa những
người đồng cảnh với tinh thần tứ hải giai huynh đệ trong kongxi, với người
vai vế cao nhất đứng đầu gọi là “đại ca” (anh lớn). Một số kongxi không có
tính chất thương mại mà trở thành hội kính như Nghee Hin (Nghĩa Hưng), tương
tự như các hội kính ở Nam kỳ đầu thế kỷ 20 như hội kính Phan Xích Long.Trong bối
cảnh như vậy ban đầu ở Singapore, Mã Lai, Indonesia, người Baba (còn gọi là
Peranakan hay Straits-born Chinese) rất mạnh và thống lĩnh về thương mai, vì
sinh trưởng và sống qua nhiều đời ở Đông Nam Á. Rất nhiều trong số họ không
còn nói được tiếng Hoa, đa số được học và giáo dục tại các trường cao cấp ở
Singapore hay ở Anh. Họ thông thạo tiếng Anh và Mã Lai, do đã có liên hệ từ
trước với thương gia người Âu và công chức chính quyền thuộc địa từ Bồ Đào
Nha, Hòa Lan đến Anh. Vì thế họ có lợi thế trong thương mại, có chân trong
các cơ quan chính quyền, trong các chức vị quan trọng như thẩm phán, hội
viên Hội đồng lập pháp (Legislative Council)… so với những người mới nhập
cư. Cựu thủ tướng Lý Quang Diệu cũng là người Baba gốc Hẹ (Hakka), sống ở
Singapore từ nhiều đời..Người Anh
rất cần những trung gian buôn bán, làm thương mại như người Baba vì vậy họ
khuyến khích họ từ Melaka đến lập văn phòng thương mại, lập nghiệp ở
Singapore khi cảng Singapore mới được thành lập. Khi chiến
tranh nha phiến chấm dứt, các cửa khẩu ở Trung quốc cũng được mở tự do mậu
dịch. Cũng như lúc trước khi thành lập Singapore, người Anh lại tiếp tục
khuyến khích họ từ Singapore và Melaka đến làm ăn ở các cửa khẩu này ở Trung
quốc. Để có thể làm dễ dàng và không sợ bị rắc rối với chính quyền nhà Thanh
ở Trung quốc với những người Baba gốc Hoa làm việc trên tàu Anh (chính quyền
Thanh vẫn coi họ là người Trung quốc và áp dụng luật Trung quốc), nên bắt
đầu từ năm 1844, chính quyền ở Penang, Singapore và Melaka cung cấp họ giấy
tờ quốc tịch Anh để họ làm việc ở nước ngoài dưới sự bảo hộ của lãnh sự Anh
ở các nước, kể cả ở Siam, Nhật, hay thuộc địa các nước Âu châu khác trong
vùng (như Pháp, Hòa Lan) (13). Vì thế các thương gia Baba rất có lợi khi đầu
tư, hoạt động ở nước ngoài. Nhiều công ty tàu biển của người Baba thường
mướn cả thuyền trưởng và thuyền viên người Anh đảm trách vận chuyển.Ông Ang
Choon Seng (Hồng Tuấn Thành), chủ công ty ‘chop’ Chin Seng (Thành Hạnh), sở
hữu hai tàu Patah Salam and Kong Kek, buôn bán chở hàng với hai thành phố
Saigon và Bangkok. Hai công ty Low Poh Jim co. (Lưu Bảo Nhâm). and Yap Sian
Tee and co. buôn bán hàng hóa với Bangkok. Công ty của Khâu Chánh Trung nhập
gạo từ các nhà máy của công ty này ở Saigon. Trong khi đó công ty Wee Bin
and co., trở thành công ty nhập khẩu lớn nhất hàng hóa từ Bali và đủ loại đồ
gốm, sau đó lớn mạnh với hơn hai mươi tàu dùng trong thương mại với Đông Ấn
thuộc Hòa Lan (Indonesia). Công ty Chip Hock and Co. bắt đầu buôn bán với
Nhật Bản sau khi ông Tan Beng Teck (Trần Minh Đức), người Baba, trú ngụ ở đó
một thời gian và mang về các hàng sơn mài, gốm và hàng bạc (Tan Beng Teck
cũng là tác giả các sách truyện Trung quốc dịch sang tiếng Mã Lai). Ông Ho
Chong Lay (Hà Tông Lễ), đến Singapore từ Hạ Môn năm 1844, thành lập ‘chop
Teng Hin’, chủ vài tàu chở hàng buôn bán với Siam và Saigon (9)Các
thương gia người Hoa ở Chợ Lớn cũng thường tiếp xúc, liên hệ với các người
Hoa Baba ở Đông Nam Á: họ đã có những liên hệ thương mại mật thiết với các
cộng đồng người Hoa ở Nam Dương, Singapore và Mã Lai. Ở Chợ Lớn có hai câu
lạc bộ của người Baba gốc Hoa Singapore, một thiết lập năm 1878 tọa lạc ở số
64 đường Paris (Phùng Hưng kế đường Phúc Kiến) và một thành lập năm 1886 ở
số 105 đường Rue de marins (Đồng Khánh sau này là Trần Hưng Đạo nối dài) sau
khi có sự đòi hỏi từ lãnh sự Anh ở Saigon năm 1885 (1). Hội trưởng của hội
người Bà Ba là Tay Chow Beng (鄭昭明. Trịnh Chiêu Minh). Trong số họ có một
người giàu có làm chủ hảng thuốc phiện là Cheang Hong Lim (章芳林, Chương
Phương Lâm) (20). Họ có chùa riêng của họ gọi là chùa Phụng Sơn (còn gọi là
chùa Ông Bổn xóm Bà Ba, ngã tư đường Ký Con và Nguyễn Công Trứ) ở quận 1
ngày nay. Chủ yếu họ mua bán lúa gạo, nông phẩm, thầu xây dựng địa ốc, sản
xuất thuốc phiện. Lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp từ các tỉnh miền tây
mang vào Chợ Lớn-Saigon và xuất khẩu qua nhiều nước ở Đông Nam Á.
Có từ hai
mươi đến ba mươi gia đình người Hoa ở Melaka và Singapore trú tại Chợ Lớn,
phần lớn trên đường Phúc Kiến, vì thế đường này được họ gọi là “đường Bà ba”
(rue des Baba). Baba là tên những người gốc Hoa ở vùng Strait Settlement
(Singapore và Malaysia) tự gọi họ (1). Vết tích văn hóa của họ còn để lại
trong ngôn ngữ Việt Nam như áo bà ba, bánh gỏi bà ba, chè bà ba (gula
Malaka) (1). Qua sự liên hệ thương mại giữa người Hoa ở Chợ Lớn và các thành
phố khác ở Đông Nam Á như Singapore, Hong Kong, ta cũng không lạ gì nhiều
nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn nhập máy xay bằng hơi nước hiệu “Barley Mill” từ
Anh qua Singapore hay Hong Kong mặc dầu có sự phàn nàn từ người Pháp do
không mua máy của Pháp (3). Các thương gia nổi tiếng người Hoa gốc Phúc Kiến
từ Singapore là ba anh em Tan Keng Ho (Trần Khánh Hòa), Tan Keng Hoon (Trần
Khánh Vân), Tan Keng Sing (Trần Khánh Tinh), Khâu Chánh Trung (Khoo Cheng
Tiong), Trần Kim Chung (Tan Kim Ching) và ông Gan Wee Tin (Nhan Vĩ Thiên)
đều có nhà máy xay lúa hay phần hùn trong đó.
Saigon-Chợ Lớn, trạm trung chuyển hàng hải giữa Singapore và Hong Kong
Con đường
thông thương hàng hải giữa Âu châu, Singapore và các thành phố Đông Á như
Hong Kong, Quảng Châu, Thượng Hải, Nagasaki, Osaka, Tokyo trở nên rất tấp
nập vào các thập niên cuối thế kỷ 19, nhất là từ khi kênh đào Suez được mở.
Các tàu hơi nước đi từ Singapore đi Hong Kong đều ghé cảng Saigon. Vì thế
rất nhiều du khách đã viếng Saigon trong trạm dừng nghĩ và viết về thành phố
này, như Vincent (12), Gray (11), Trần Công Sơn (8), Lý Thanh Hội (13) và
một người Hoa từ Batavia (Jakarta ngày nay) (1). Đầu năm 1875, ông Gray, phó
chủ giáo Anh giáo, địa phận Hong Kong, sau khi sống ở Trung quốc 23 năm, trở
về Anh từ Hong Kong trên tàu “Anadyr” của công ty Pháp Messageries Maritimes
Compagnie, ghé Saigon. Ông Gray đã mô tả Saigon và so sánh với Hong Kong.
Saigon đèn đường được đốt sáng ban đêm bằng dầu trong khi Hong Kong là gas
và nói chung đường sá không tốt như ở Hong Kong và hoạt động thương mại kém
hơn. Một đoạn nói về Saigon như sau (11):
“Tòa nhà
đồ sộ nhất mà người Saigon thường khoe, đó là dinh mà viên thống đốc toàn
quyền ở. Tòa nhà rất lớn, bằng nếu không nói là hơn các dinh thự khác ở Âu
châu, về phương diện thiết kế kiến trúc và huy hoàng,”Năm 1888,
người Baba Singapore tên là Tan Keong Sum (陳功山, Trần Công Sơn, sinh khoảng
năm 1861) đi du lịch từ Singapore đến Saigon-Chợ Lớn trên tàu hơi nước
“Djemnah” của công ty Messageries Maritimes vào ngày 19/4/1888 với cha mẹ và
2 người chị gái và gia đình (8). Trần Công Sơn (với bút hiệu Shengtang) làm
việc cho công ty “chop” Hong Hin (Phùng Hưng), công ty tàu biển của Tan Kim
Seng (Trần Kim Thanh). Anh của Trần Công Sơn là Trần Công Tích (陈恭锡), người
Baba sinh ở Malaka là một trong những người thành lập Phòng thương mại Trung
hoa ở Singapore, giám đốc công ty tàu biển Straits Steamship Co. và công ty
cảng Tanjung pagar Dock Ltd., hiện nay có một con đường ở Singapore mang tên
ông.Trong 8
ngày ở Saigon-Chợ Lớn, Trần Công Sơn đã ghi chép lại những gì ông chứng kiến
và nhận xét có giá trị về cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn và thành phố Saigon
nói chung. Bài “Việt Nam du ký” (越南遊記) của ông sau đó được đăng lại nhiều kỳ
trên nhật báo tiếng Hoa gọi là Lat Pau (Lặc Báo) ở Singapore vào năm 1888.
Vì bài có nhiều thông tin mới có giá trị được nhiều người để ý, nên sau đó
các bài trên báo được in lại thành 1 cuốn sách nhỏ do Lat Pau Press in (7).
Cuối sách là phần ghi chú của chủ bút báo Lat Pau, Ye Jiuyun, cho biết khi
Trần Công Sơn đưa ông bản thảo, ông nhận thấy có giá trị, thấy cần xuất bản,
ca ngợi đức tánh con người tác giả và những dòng ghi chú này được ông Trần
Công Sơn kêu ông viết ở cuối sách. Mặc dầu
quyển sách nhỏ này của Trần Công Sơn chỉ in có 100 số, vậy mà nó cũng có đến
Trung Quốc vào thế kỷ 19, khi nhà khoa bảng nghiên cứu nổi tiếng Wang Xiqi
(王錫祺) (Vương Tích Kỳ) đăng lại tóm tắt trong bộ sách của ông “Xiaofanghuzhai
yudi congkao” (小方壺齋輿地叢鈔, Tiểu phương hồ trai dư địa tùng sao) "Collected
texts on Geography from the Xiaofanghu study" (sưu tập về địa dư từ bộ
nghiên cứu Tiểu phương) xuất bản năm 1891 với cùng tựa đề "Việt nam du chí"
nhưng tác giả thì chỉ đề là "Ông Trần ở Singapore”.Đây là
cuốn sách văn học đầu tiên của người Baba (Peranakan Cina) ở vùng Strait
Settlement, được đánh giá là tác phẩm cột mốc trong lịch sử người Hoa trong
thế giới Mã Lai ở Singapore và Malaysia (7). Trần Công
Sơn cho biết ở Chợ Lớn có khoảng 20-30 gia đình người Singapore, Melaka và
một số trong họ có vợ lẽ ở Viêt Nam. Thành phố đốt đèn bằng dầu thay vì gaz,
dầu được nhập từ Nga và Mỹ. Ban đêm sau mười giờ ra đường phải mang đèn nếu
không phải trả thuế. Nếu người ta muốn đi lại trong thành phố, phải đóng 3
quan 6 một năm và ra ngoài 12 quan; nếu không sẽ không được phép đi. Ông
không có cảm tình với người Pháp, ngoài khi đến Saigon ở hải quan ngay trạm
quan thuế gần bến cảng, ông và gia đình phải đợi hai tiếng khám xét và sau
đó phải về để ngày mai mới lấy được hành lý vì hôm đó là chủ nhật, ông đã mô
tả cảnh ông đi dạo và gặp một nhóm người Pháp như sau (8):
“Ngày
18, chúng tôi đi xe ngựa hóng mát cùng với bạn bè; con đường dẫn chúng tôi
đến gần sở thú thì gặp tám người lính Pháp; tất cả đều có trang bị súng đi ở
giữa đường. Người lái xe la lên để họ cho xe qua, và khi xe đến gần họ, xe
vừa tránh đúng khỏi họ; họ nhìn chúng tôi giận dữ và chửi rủa rất lâu mà tôi
không hiểu tiếng Pháp gì. Thôi mà, trách chi họ chỉ là những người phục dịch
nhỏ bé tầm thường và mặc dầu họ tự phát ra sự khinh thị người Hoa; người ta
có thể thấy qua đó tâm địa của người Pháp.”

Chợ Lớn: Kênh Tàu Hủ - Bến Hàm Tử - Bến Lê Quang Liêm
(Trần Văn Kiểu ngày nay)
Chen
Shengtang (tức Trần Công Sơn) nói là trong rạp hát Shengping (Thăng Bình) ở
Chợ Lớn ông có xem tuồng Quảng và ông nhận ra các diễn viên diễn tuồng này
đã có diễn ở Singapore trước đó. Rạp rất sập xệ, rạp Liangquing (Liên Thanh)
còn tệ hơn nữa. (8)
“Tòa
nhà rạp Thăng Bình gần như sắp đổ xập, gỗ đã mục hoàn toàn và đồ vật trong
rạp rất tàn tệ; các diễn viên hát tiếng Quảng, diễn xuất theo kiểu ‘thanh
thái’ (Qingcai)(*); phân nữa đoàn mặc y phục cũ và phân nửa mới; đoàn gồm đủ
loại người, tôi nhận ra các diễn viên đã diễn ở Singapore với đoàn
Xinxinfeng, vì thế tôi cũng có thể hiểu họ đã trình diễn cái gì. Rạp Liên
Thanh còn tệ hơn rạp Thăng Bình, ở rạp này có trình diễn tuồng hát bằng
tiếng Việt Nam”
Điều này
cho thấy, cộng đồng người Hoa ở hai thành phố Singapore-Saigon đã có trao
đổi văn hóa lẫn nhau vào cuối thế kỷ 19. Hiện nay ở Saigon, ông Trần Công
Sơn còn để lại thủ bút tên chùa Phụng Sơn của ông ở trên cửa vào chùa.

Nhà hát
Trung hoa – đường Phùng Hưng (rue de Paris), Chợ Lớn. Đây có thể là một
trong hai rạp hát mà Trần Công Sơn có đến xem trình diễn.Một người
Baba khác gốc từ Melaka, ông LiQuingHui (Lý Thanh Hội) năm 1889, cùng với
người em, cũng đã ghé Saigon trên đường đi Hong Kong, Thượng Hải, Kobe,
Oaska, Kyoto, Nagasaki, Phúc Châu, Hạ Môn, Quảng Châu. Lý Thanh Hội để lại
tư liệu về đời sống ở Chợ Lớn, trên các bài “Đông du chí lược” đăng trên Lặc
Báo (Lat Pau, n° 2162-2180, 12/2.-5/3, 1889). Ông viếng các nhà máy xay lúa
của người Baba gốc Phúc Kiến, đồng hương Singapore của ông ở bến dọc rạch
Bến Nghé và kênh Tàu Hủ và kho hàng của ông Trần Hưng Long.Lý Thanh
Hội là con rể của một thương gia Baba từ Melaka gốc Phúc Kiến giàu và có
tiếng ở Singapore, ông Tan Kim Seng (陈金声, Trần Kim Thanh), chủ công ty Kim
Seng & Co., người xây các cầu, đường trong thành phố Singapore và là thẩm
phán người Hoa đầu tiên ở Singapore. Ông Trần Công Sơn cũng làm việc cho
công ty (“chop” Hong Hin hay Phùng Hưng) của ông Trần Kim Thanh và vì thế
hai ông Lý Thanh Hội và Trần Công Sơn có quen biết nhau. Khi ghé
thăm Chợ Lớn, Lý Thanh Hội được con của ông Trần Khánh Tinh (Tan Keng Sing,
em của Trần Kim Thanh) là Tan Hin Long (Trần Hưng Long) ở Chợ Lớn mời đến
nhà ăn tối (lúc này Trần Khánh Tinh đã mất và người con thừa hưởng tất cả
nhà cửa tài sản ở Chợ Lớn). Ở đây ông có gặp thêm hai đồng hương Singapore
khác, trong đó một người làm cho Banque de France, và một người có rất nhiều
nhà cửa, địa ốc ở Saigon-Chợ Lớn.

Quai My Tho - Bến Lê Quang Liêm (Trần Văn Kiểu ngày nay)
- Chợ Lớn
Những gì hai ông Trần Công Sơn và Lý
Thanh Hội viết về Chợ Lớn cho thấy cộng đồng các thương gia người Singapore
đã có cơ sở khá quan trọng trong sự phát triển Chợ Lớn.
Quan
hệ hỗ tương, liên kết giữa tầng lớp thương mại và trí thức ở Singapore
Sự liên hệ
giữa các nhà thương mại, công nghệ với các trí thức người Baba trong
sự phát triển Singapore là một yếu tố quan trọng lịch sử nước này. Thương
mại đi đầu, làm nền tảng có cơ sở giúp đở xây dựng lớp trí thức và qua đó
trí thức ủng hộ tư tưởng thực dụng, tinh thần cải cách tạo nên tạo ra một sự
phối hợp tư tưởng, văn hóa Đông Tây tối ưu trong sự phát triển hài hòa.
Năm 1896,
Lim Boon Keng (林文慶, Lâm Văn Khánh, người baba gốc phúc Kiến ở Penang), Song
Ong Siang (宋旺相, Tống Vượng Tương) và Trần Võ Liệt (陈武烈,
Tan Boo Liat, cháu nội của tào kê Trần Kim Chung)
thành lập trường nữ sinh người Hoa đầu tiên ở Singapore (Singapore Chinese
Girls' School). Đây là một cuộc cách mạng đối với thái độ trong xã hội phong
kiến của người Hoa ở Trung quốc thời bấy giờ. Ngoài ra ông Lâm Văn Khánh còn
lập ra mặt trận chống hút thuốc phiện và một trung tâm điều trị cho những
người nghiện thuốc. Ông kêu gọi người Hoa từ bỏ hút thuốc phiện trong nhiều
buổi thuyết trình trước công chúng từ 1893 đến 1895Họ cùng
với các nhân vật baba lão thành khác như Tan Jiak Kim (陈若锦. Trần Nhược Cẩm)
và Siah Liang Siah (佘连城, Xà Liên Thành), thành lập Hảo Học Hội (The Chinese
Philomathic Society). Các ông này đều là những tào kê thương gia, công nghệ
giàu có ở Singapore. Tan Jiak Kim là cháu nội của Trần Kim Thanh (Tan Kim
Seng) và là người đầu tiên đề nghị thống đốc Straits Settlements lập trường
y khoa tiền thân của Đai học Malaya (Universiti Malaya) và Đại học Singapore
(National University of Singapore) ngày nay. Seah Liang Seah, người Triều
Châu, là chủ đồn điền trồng tiêu và cau mứt ở Singapore.Hảo Học
Hội có mục đích tạo môi trường cho các hội viên và công chúng có các hội
thảo, nói chuyện, tranh luận văn học, các đề tài cải cách, nghiên cứu văn
học Anh, nhạc tây phương và ngôn ngữ Trung quốc. Hảo học Hội tương tự như
Hội Khai trí tiến đức (A.F.I.M.A, Association pour la formation intellectual
et moral des Annamites), Hội Đức Trí Thể Dục (S.A.M.I.P.I.C, Société
d'Améloration Morale, Intellectuelle et Physique des Indigènes de
Cochinchine) được thành lập vài thập kỷ sau này ở Việt Nam. Nhóm Hảo
Hội Học có liên hệ với giới trí thức tiến bộ ở Trung quốc. Ông Lâm Văn Khánh
là chủ tịch thứ hai của Đại học Hạ Môn (Xiamen University) khi Tôn Dật Tiên
kêu gọi ông giúp đở quản lý. Khi Tôn Dật Tiên và sau này gia đình của ông
đến Singapore đều ở tại nhà của Trần Võ Liệt. Tống Vượng Tương, người Baba
đầu tiên được phong tước hầu (knighted), là nghị viên Hội đồng thành phố
Singapore và tác giả quyển “100 năm lịch sử người Hoa ở Singapore” (18). Năm sau
(1897), ông Tống Vượng Tương và Lâm Văn Khánh xuất bản tạp chí “Straits
Chinese Magazine: A Quarterly Journal of Oriental and Occidental Culture”.
Tân Khổng giáo đối với họ là cần thiết để xây dựng một nền tảng văn hóa mới.
Tân Khổng giáo là một quan niệm triết lý sống với những điểm tích cực trong
một thời đại mới, không hủ tục, mê tín, phong kiến, giải phóng phụ nữ, thích
hợp với trào lưu tư tưởng hiện đại. Tống Vượng Tương nhấn mạnh là người baba
(Straits Chinese) phải tạo ra một chổ đứng trong xã hội thuộc địa bằng đòi
hỏi quyền lợi vì họ là công dân Anh. Trong một bài xã luận đăng trên tạp chí
Straits Chinese Magazine, ông Lâm Văn Khánh phân tách vị trí pháp lý của
người Hoa sinh ra ở thuộc địa vùng Straits Settlements (Mã Lai, Singapore)
và xác định họ là công dân Anh, trung thành với vua Anh chứ không phải nhà
Thanh qua lãnh sự Thanh ở Singapore (9).Số đầu
tiên của tạp chí, chỉ phát hành 800 số, nhưng sau đó bán sạch mà sau này
những người để ý thích đọc tạp chí muốn mua lại số cũ cũng không mua được.
Độc giả của tạp chí lan ra ngoài Singapore, Malaysia đến những thành phố xa
như Batavia (Jakarta ngày nay), Bangkok, Saigon và Yokohama. Lâm Văn Khánh
được sự trợ giúp đắc lực từ ông Tan Teck Soon (Trần Đế Thuấn 1859-1922,
陈帝舜). Đối với ông Trần Đế Thuấn thì tạp chí là phương tiện mà người Baba gốc
Hoa có dịp học lại lịch sử và văn hóa của ông cha mình, trong bộ “y phục
người Anh” (9). Trần Đế
Thuấn là một học giả hoạt động tích cực ở Singapore vào đầu thế kỷ 20. Ông
là hội viên sáng lập của câu lạc bộ tranh luận của giới trí thức gọi là “The
Straits Philosophical Society” (Hội Triết học vùng Eo biển Mã Lai,
1893-1916), và là một trong hai hội viên gốc Hoa duy nhất (người gốc Hoa
khác là ông Lâm Văn Khánh) (19). Ông làm cho công ty Kim Ching & co. của tào
kê Trần Kim Chung, người có nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn và Siam. Ở văn phòng
chuyên trách về Siam của công ty, ông cố vấn chính phủ Siam (Trần Kim Chung
còn là lãnh sự cho Siam).Trần Đế
Thuấn, người baba theo đạo Ki-tô, nghiên cứu văn minh Trung quốc và sự cống
hiến đáng kể nhất của ông là quan niệm lại về nền văn minh Trung Hoa là nền
văn minh tiến bộ và rộng mở với sự thay đổi chứ không đóng cửa lạc hậu,
thách thức với quan điểm của đa số người Âu lúc đó là nền văn minh Trung
quốc là lỗi thời và không tiến bộ (9).Năm 1898,
Trần Đế Thuấn, Lâm Văn Khánh và Khâu Thục Viên (Khoo Seok Wan) thành lập tờ
Thien Nan Shin Pao (Thiên Nam Tân Báo). Khâu Thục Viên là con của tào kê
Khâu Chánh Trung, một đại thương gia có 5 nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn. Lâm Văn
Khánh còn mua lại tờ Sing Po (星报, Tinh Báo) và đổi tên thành tờ báo Jit Shin
Pao (日新报, Nhật Tân báo). Tờ Thiên Nam Tân Báo và Nhật Tân Báo phổ biến tư
tưởng Tân Khổng giáo trong quần chúng độc giả và những hoạt động khôi phục,
cải cách. Nhiều bài của Trần Đế Thuấn và Lâm Văn Khánh là dịch lại những bài
nói chuyện và bài viết bằng tiếng Anh của họ đã đăng trên tạp chí “Straits
Chinese Magazine”. Một trong những bài viết có giá trị và ảnh hưởng của Trần
Đế Thuấn là bài “The Reform movement in China” (“Phong trào cải cách ở Trung
quốc”). Các bài sau của ông chỉ trích một số quan niệm người Âu cho là Trung
quốc chỉ có cải cách từ ngoài được mà không có sức mạnh hay ý tưởng nội tại
đã gây tranh luận và các phản ứng trên tạp chí Hội Triết học. Tờ Thiên
Nam đứng trên quan điểm và truyền bá tư tưởng yêu nước của người Hoa. Tuy
vậy khác với các tờ báo Hoa ở Singapore, tờ báo không phải không chỉ trích
chính quyền nhà Thanh hay trở thành công cụ tuyên truyền cho những lời bịa
đặt mất phẩm cách đã xuất hiện trong thời chiến tranh Nhật –Trung (9). Trong
khi đó tờ Nhật Tân (Jit Shin), có mục đích phổ biến nâng cao kiến thức khoa
học và kỷ thuật phương Tây qua những bài dịch từ báo chí và các nhà văn nổi
tiếng phương Tây. Hai tờ báo Thiên Nam và Nhật Tân thường tường trình về các
hoạt động của Hảo Học Hội và in lại các tin tức hay bình luận của các tờ báo
cải cách ở Trung quốc hay hải ngoại ngoài Trung quốc, vì thế là cầu nối hữu
hiệu cho những nhà cải cách ở Singapore với hệ thống toàn cầu của những
người cải lương tiến bộ gốc Hoa (9).Ta có thể
nhận thấy tinh thần của nước và con người Singapore hiện nay bắt nguồn và
chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những nhà trí thức, học giả, thương công kỹ nghệ
gia tiên phong tạo lập cơ sở hạ tầng vật chất và tinh thần ở vùng này vào
cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Tiêu
biểu người Baba ở Saigon và Singapore trong thế kỷ 19
Chỉ trong
vòng hơn 10 năm khi Pháp thiết lập chính quyền và mở cửa tự do kinh doanh
cảng, khuyến khích thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, các người
Hoa ở vùng Saigon-Chợ Lớn trong đó có nhiều người Baba từ Singapore đã phát
vượt bực qua truyền thống doanh thương, nhạy bén và mạo hiểm trên thương
trường của họ. Họ có nhiều vốn và đã có kinh nghiệm và cung cách làm việc ở
Singapore, Melaka với người Hòa Lan, Anh từ nhiều năm trước nên khi được có
cơ hội làm ăn trong tình thế mới đã trở nên giàu có nhanh chóng, thầu các
công trình lớn phát triển cơ sở hạ tầng ở Saigon-Chợ Lớn tạo sự khâm phục và
ấn tượng đối với người PhápSau đây
là sơ lược tiểu sự các “tào kê” nổi tiếng ở Saigon và Singapore, một số là
những người tiên phong trong lịch sử phát triển thành phố Singapore lúc khởi
đầu.
(1)
Vạn Hòa (Ban-hap)
Người
Pháp gọi ông Gan Wee Tin (Nhan Vĩ Thiên) bằng tên Ban-hap (萬和, Vạn Hòa). Vạn
Hòa là tên công ty mà ông Wee Tin lập ra ở các tỉnh miền Nam trồng và buôn
bán thuốc phiện, lúa gạo trong các năm ở thập niên 1850, trước khi người
Pháp đến (1)(4). Công ty Vạn Hòa sau đó làm ăn phát đạt mở rộng đến Cam Bốt
với các đặc quyền từ vua nước này cho phép trồng, sản xuất thuốc phiện năm
1869 và ở Nam kỳ năm 1869 được chính quyền Pháp tiếp tục cho phép độc quyền
mặc đầu bị sức ép của các thương gia và công ty Pháp muốn cạnh tranh ở Cam
Bốt. Ban-hap còn có độc quyền ở Cam Bốt sản xuất bán vé số, mở các tiệm cầm
đồ, sòng cờ bạc, trại nuôi và bán thịt heo. Năm 1864,
vài năm sau khi Pháp chiếm Saigon, đề đốc de la Grandière đã mời ông Vạn
Hòa, người đầu tiên xây ngôi nhà lầu đẹp, đến dinh đô đốc để thưởng một đồng
hồ quả lắc. Ban-hap mặc dầu là triệu phú nhưng rất thích món quà này. Ông ta
đã dành riêng trong nhà ông một phòng đẹp nhất để chứa đồng hồ quả lắc này.
Và ông đã bỏ ra nguyên ngày trong bộ đồ lễ, đi sau 4 người thợ khiêng trên
một kiệu vàng chiếc đồng hồ quả lắc, quà của thống đốc, cùng với bằng khen.
Ông đã để cho các chức sắc chiêm ngưỡng trước khi đặt vào trong phòng danh
dự mà ông đã sữa soạn sẵn (16). Ban-hap cũng là hội viên sáng lập Hội trung
ương cứu trợ tàu bị đắm (Société centrale de sauvetage des naufragés) thành
lập năm 1865 ở Pháp với hội viên trên khắp thế giới. Ông cũng là chủ một
xưởng làm thuốc phiện ở Saigon. Người Pháp gọi ông là Ban-hap, vì ông là chủ
nhân của công ty Ban-hap (Vạn Hòa). Ông là
người Singapore gốc Hoa (Baba) đến Saigon và lục tỉnh từ những năm của thập
niên 1830 làm ăn buôn bán gạo và lập cơ sở trồng và làm thuốc phiện để xuất
khẩu đến Singapore, Penang và Melaka. Tên thật của ông là Gan Wee Tin (Nhan
Vĩ Thiên). Lúc người Anh lập thành phố Singapore năm 1819, rất nhiều người
Hoa trong vùng bán đảo Mã Lai và từ nam Trung quốc đến đây và vùng Cư trú Eo
biển (Strait Settlement gồm 3 thành phố chính Penang, Melaka, Singapore) lập
nghiệp và khai phá. Vì thế nhu cầu gạo và dịch vụ rất lớn nên rất nhiều
thương gia người Hoa đến Bangkok và Saigon để buôn bán, trong đó có ông Nhan
Vĩ Thiên. Ông có nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn.Trong một
số vài hội viên mà đa số là người Pháp vào lúc sơ khai của Phòng Thương mại
(chambre de commerce) ở Saigon, năm 1886, ông Vương Thái và ông Vạn Hòa
(Ban-Hap), là hai hội viên buổi ban đầu này, duy nhất một hội viên người
Việt là ông Nguyễn Trọng Tạo (1).Năm 1879,
các “tào kê” ở Saigon, ông Vạn Hòa cùng với các đồng hương Baba gốc Phúc
Kiến (Trần Khánh Hòa, Trần Khánh Vân và Trần Khánh Tinh) quyết định củng cố
thị trường và cơ sở sản xuất thuốc phiện ở Đông Nam Á. Chính quyền Anh ở
Hong Kong muốn lợi tức từ hợp đồng sản xuất độc quyền thuốc phiện có gia cao
hơn hiện do những người Hoa Quảng Đông nắm giữ nên khuyến khích Vạn Hòa và
nhóm Baba ở Saigon và Singapore lấy được hợp đồng (15). Sự thành công của
Vạn Hòa tạo thêm uy thế của ông. Ông có lúc ở Saigon, Hong Kong hay
Singapore nhưng Saigon là cơ sở chính và là nơi ông cư ngụ.Quyền hạn
và sự giàu có qua thuốc phiện của Vạn Hòa đã làm chính quyền Pháp ở Nam kỳ
lục tỉnh lo ngại và muốn giới hạn lại. Bắt đầu từ năm 1881, qua các bản báo
cáo điều tra của Groeneveldt và các điều trần với sự tham dự từ nhiều tầng
lớp xã hội đã cho thấy không những Vạn Hòa độc quyền sản xuất phân phối
thuốc phiện đến tận các làng, chợ, cửa tiệm và bán với giá cắt cổ mà còn nắm
thị trường gạo và ngay cả hàng tiêu dùng nhập từ Pháp. Người Việt địa phương
sẵn sàng đứng về phía chính quyền, các thương gia Pháp chống lại sự độc
quyền của công ty Vạn Hòa (14). Năm 1883,
Hội đồng Quản hạt (Conseil colonial) bỏ phiếu bãi bỏ các trại trồng thuốc
phiện độc quyền hiện công ty Vạn Hòa nắm giữ và thiết lập Regie Directe do
chính quyền trực tiếp quản lý độc quyền trồng và sản xuất thuốc phiện. Ở Hội
đồng Quản hạt các đại biểu Việt cũng bỏ phiếu chống sự độc quyền của Vạn
Hòa. Công ty Vạn Hòa mất thế lực ở Saigon từ đấy. Không lâu
sau, đường thương mại thuốc phiện và cu li đến Mỹ và Australia phát triển
trong thời tìm vàng giảm xuống nhanh chóng và gần như chấm dứt khi luật ở
hai nơi này ban hành hạn chế di dân người Hoa từ Trung quốc. Các trại thuốc
phiện ở Hong Kong vì thế cũng không còn có giá trị như xưa nữa, cho đến khi
chúng hoàn toàn chấm dứt vào đầu thế kỷ 20.
(2)
Trần Khánh Hòa
Ông Trần
Khánh Hòa (陳慶和) cũng thành công và có thế lực kinh tế không kém ông Vạn Hòa.
Ngày 8/7/1869, đề đốc Ohier đổi tên Ủy ban thành phố (Commission municipal)
mà trước đó vào năm 1867 thống đốc de la Grandière đã thành lập sau khi Pháp
vừa chiếm Saigon, thành tên chính thức Hôi đồng thành phố Saigon (Conseil
municipale de la ville de Saigon), gồm 1 thị trưởng và 13 hội đồng viên với
nhiệm kỳ 2 năm (7 người được bầu và 6 người được thống đốc chọn), trong đó
có Trương Vĩnh Ký và Tang Keng Ho (Trần Khánh Hòa). Đây là Hội đồng thành
phố đầu tiên của Saigon (6).Ông Trần
Khánh Hòa và hai người em Tan Keng Hoon (陳慶云, Trần Khánh Vân) và Tan Keng
Sing (陳慶星, Trần Khánh Tinh) có cơ sở làm gỗ và xưởng đóng tàu ở Saigon khi
họ đến Saigon từ Singapore trước khi người Pháp chiếm Saigon và Nam kỳ. Công
ty đã có cơ sở thiết lập từ năm 1861 và phát triễn thành công mà tờ báo “Le
Courrier Saigon” đã đề cập vào năm 1865. Năm 1865 cũng là năm các anh em họ
Trần hợp tác hùn vốn với công ty “Ban-hap et cie.” (Vạn Hòa) trong xưởng làm
thuốc phiện. Trần Khánh Vân mất năm 1877, để lại gia sản to lớn ở Singapore
và Saigon cho con gái vẫn còn sống ở Singapore. Con gái của Trần Khánh Vân,
Tan Yean Neo, lấy cháu nội của ông Ang Choon Seng (Hồng Tuấn Thành), một
người Baba gốc Phúc Kiến từ Melaka, chủ công ty ‘chop Chin Seng’, có hai tàu
biển buôn bán giữa Singapore và Saigon. Khi Trần Khánh Sinh mất, nhà và cơ
sở thương mại ở Chợ Lớn được người con trai là Trần Hưng Long kế nghiệp mà
ông Lý Thanh Hội có đề cập đến khi viếng Chợ Lớn vào năm 1889.Công ty
của Trần Khánh Hòa có trụ sở đặt tại Quai de commerce (bến Bạch Đằng ngày
nay) và trong niên giám đề là “nhà thầu các công trình cho chính phủ” (14).
(3)
Khâu Chánh Trung
Khâu
Chánh Trung (邱正忠, 1820-1896) là một trong những người tiên phong trong lịch
sử thành lập Singapore. Sinh năm 1820, người Baba gốc Phúc Kiến (làng Tân
An, Hạ Môn), đến Singapore năm 1840, có thể là bà con với dòng họ Khâu thuộc
Khoo Kongsi (‘Công ti” Khâu) ở Penang, vì Khâu công ty cũng gốc từ làng Tân
An. Em ông là Khâu Chính Triều (Khoo Cheng Cheok, có tên đường ở Tanjong
Pagar). Khâu Chánh Trung trở thành một thương gia gạo rất thành công, công
ty ông Khoo Cheng Tiong & co. có văn phòng và kho chứa gạo ở Boat Quay. Khâu
Chánh Trung có 5 xưởng xay lúa gạo ở Chợ Lớn. Khi ông mất, gia sản ông để
lại hơn 1 triệu dollar (18). Ông là chủ tịch của Viện y khoa Đồng Tế (同济,
Thong Chia Medical Institution)Con của
ông, Khâu Thục Viên (邱菽园, Khoo Seok Wan, 1874-1941), học giả và thi sĩ nổi
tiếng, người cùng với Lâm Văn Khánh thành lập báo đổi mới tiến bộ Thiên Nam
Tân Báo (天南新报, 1898), và chủ bút tờ Sin Chew Jit Poh (星洲日報, Tinh Châu Nhật
báo). Khâu Thục Viên ủng hộ phong trào cải lương, cách mạng cải cách ở Trung
Quốc, cũng như Lâm Văn Khánh khuyến khích ủng hộ giáo dục cho phụ nữ ở
Singapore Với tài
sản của cha ông để lại, ông giúp đỡ tài chánh rất nhiều trong phong trào
“Một trăm ngày cải cách” (百日维新, Bách nhật duy tân 1898) vào năm 1898, nhưng
phong trào bị Từ hi Thái hậu nhà Thanh đàn áp dẹp tắt. Ngày 2 tháng 2 1900,
ông mời Kang Yu-wei (康有为, Khang Huu Vi), một trong những lãnh đạo phong trào
đến Singapore, trả hết chi phí và bảo hộ Khang Hữu Vi ở đó 6 tháng để gây
quỷ cải cách từ mọi người Baba, người Hoa ở Singapore và khắp nơi trên thế
giới như Australia. Cách đây
vài năm (2006), trong khu vực Vườn bách thảo Singapore, vùng Bukit Timah, có
3 ngôi mộ cổ ở thành phố này mà một mộ (1842) là của ông Qiu Zheng Zhi và vợ
Li Ci Shu sống vào thời Stamford Raffles thành lập. Trên bia có đề tên con
cháu trong đó nhiều tên họ Khâu, vì thế mộ cổ nhất này cho biết có thể là
ông Qiu Zheng Xhi là từ Penang thuộc Khâu Kongxi (10). Theo bản đồ xưa thì
khu mộ này ngày xưa trong thập niên 1840 là đồn điền trồng gambier (cây cau
mứt).
(4)
Trần Kim Chung
Tan Kim
Ching 1829-1892 (陳金鐘, Trần Kim Chung) được người bản sứ Mã Lai ở Singapore
gọi là “Kapitan Cina” (Captain of China). Ông là con trưởng của Tan Tock
Seng (Trần Đốc Sinh, 1798-1850), người Baba ở Melaka gốc Phúc Kiến. Ông nói
sành tiếng Mã Lai. Khi cha ông mất, ông thay thế thương nghiệp của cha ông,
lập ra “chop” Chin Seng (Thành Hạnh) với người em ở số 24 Boat Quay, sau đổi
là Tan Kim Ching & bro và Kim Ching & co. Năm 1863,
ông bỏ vốn thiết lập công ty vận hành cảng, Tanjong Pagar Dock Company (tiền
thân của cơ quan quản lý cảng Singapore ngày nay, Port of Singapore
Authority), và mua hai tàu hơi nước, “Siam” và “Singapore” chuyên chở hàng,
lúa gạo từ Siam, Saigon và các nơi đến Singapore cho tất cả các khách hàng.
Ông tích cực quảng bá, tiếp thị công ty cảng Tanjong Pagar Dock Co. Ông có
các nhà máy xay lúa ở Saigon và Siam và văn phòng ở Hong Kong. Thế lực
trên thương trường của ông được coi là bậc nhất ở Singapore. Ông là bang
trưởng bang Phúc Kiến ở Singapore và được chính phủ bổ nhiệm vào Hội đồng
thành phố Singapore vào năm 1888. Ông có liên hệ cá nhân rất tốt và thân cận
với nhà vua và hoàng gia Siam. Qua sự liên hệ thương mại sâu đậm với Siam
lúc đầu, Trần Kim Chung quen biết và lần trở thành người thân tín của hoàng
gia Siam. Ông vừa hiểu rõ và hoạt động hữu hiệu trong thế giới văn hóa Âu
châu lại thấm nhuần tôn trọng truyền thống văn hóa phẩm giá Á đông nên ông
là người lý tưởng mà vua Siam tin tưởng.

Năm 1863,
vua Mongkut (Rama IV) nhờ ông là lãnh sự đại diện cho Siam ở Singapore. Ở
cùng thời điểm này, ở Việt Nam Nguyễn Trường Tộ đệ trình bản tường trình
canh tân đất nước lên vua Tự Đức nhưng không có kết quả khả quanSau khi
vua Mongkut mất, vua Chulalongkorn ủy nhiệm chức Tổng lãnh Sự. Khi vua Rama
IV muốn tìm một người Âu để dạy các con cháu trong gia đình hoàng gia theo
nền giáo dục phương Tây, nhưng vẫn giữ và kính trọng nếp văn hóa Siam, thì
chính ông Trần Kim Chung là người giới thiệu Anna Leonowens, một góa phụ
người Anh với hai con còn nhỏ đang tìm việc ở Singapore, cho vua Mongkut để
giáo dục gia đình hoàng gia. Vào năm 1862 Sau này Anna viết chuyện pha lẫn
hồi ký về kinh nghiệm của bà ở Siam trong quyển “The English Governess at
the Siamese court”, bán rất chạy và được dựng thành phim “The King And I”,
“Anna and the King”. Khi vua
và hoàng hậu Siam đến viếng Singapore năm 1890, họ ở nhà ông Trần Kim Chung,
ngày nay nhà này được gọi là "Siam House", ở đường North Bridge Road. Khi có
ý muốn mua nhà ở Singapore, nhà vua cũng đã hỏi ý ông Trần Kim Chung và nhà
vua đã mua căn nhà "Hurricane House" ở đường Orchard Road, đường trung tâm
của thành phố Singapore.hiện nay. Hiện nay có con đường mang tên ông, Tan
Kim Ching Street, ở Singapore
(5)
Vương Thái
Người Hoa
nổi tiếng ở Saigon-Chợ Lớn cuối thế kỷ 19 là ông Cheung Ah Lum (Trương Á
Lâm, hay Zhang Peilin, Trương Bội Lâm). Cũng như ông Ban-hap (Vạn Hòa, tên
thật là Gan Wee Tin hay Nhan Vĩ Thiên), người Pháp gọi ông là Wang-Tai (王太,
Vương Thái). Wang-Tai là tên công ty ông lập ở Saigon sau khi ông đến từ
Hồng Kông vào năm 1862 để giao các tàu buồm (junks) mà một sĩ quan người
Pháp, đại diện cho chính quyền Pháp mới thành lập ở Saigon, đã đến Macao
trước đó vào năm 1860 để đặt hàng đóng các tàu từ công ty của ông ở Macao
(4). Sau khi giao tàu xong, ông quyết định ở lại định cư hẳn tại vùng
Saigon-Chợ Lớn. Có kinh
nghiệm ở Hồng Kông khi người Anh đến ở đó để lập thuộc địa, công ty Wang-Tai
đi ngay vào kỹ nghệ xây cất, thiết lập các xưởng gạch và xây các nhà kiểu Âu
châu khi người Pháp còn chân ướt chân ráo. Các nhà này được cho mướn cho
chính quyền Pháp và Phòng Thương mại mà ông là một hội viên từ lúc ban đầu.
Ông trở thành phát đạt và giàu có còn hơn lúc ở Hồng Kông. Bưu điện thành
phố, nhà thờ đức bà và tòa ngân khố (gần nhà thờ) là những công trình ông
trúng thầu xây dựng. Lúc còn ở
Hồng Kông, có lần ông suýt bị rơi vào vòng lao lý khi một hôm, vào ngày
15/1/1857, công ty làm bánh mì của ông (Esing Bakery) sản xuất bánh mì có
chứa độc tố arsenic làm nhiều người bị ói mửa ngày đó. Trong số rất nhiều
thợ mà ông không kiểm soát được, có một số đã bỏ arsenic để đầu độc đa số
các người Anh ở Hồng Kông. Ông bị đưa ra tòa, nhưng vì không có chứng cớ và
với luật sư giỏi ông được tha bổng, nhưng không được lui tới ở Hồng Kông
trong 5 năm. Vì thế ông đến Macao (nơi ông học buôn bán lúc còn nhỏ với chú
ông) mở tiệm và xưởng sau biến cố này, và chính ở Macao ông gặp đại diện
Pháp nhờ ông đóng tàu (5). Công ty
Wang-Tai đi vào các lãnh vực khác của kinh tế như mua bán, sản xuất gạo. Ông
Zhang Peilin (Trương Bội Lâm) sau được chọn bầu vào công ty China Merchants’
Steam Navigation Company (Công ty hàng hải tàu hơi nước của thương nhân
Trung Hoa) để xuất khẩu gạo sang Trung quốc. Đến các năm của thập niên 1880,
ông là chủ của nhiều đất đai nhà cửa ở Saigon, trong đó có khu Wang-Tai (la
cité Wang-tai), một khu nghèo và dơ mà các người di dân Trung quốc đến
Saigon-Chợ Lớn lúc ban đầu cư ngụ chung với gà, vịt, trái cây và các đồ nhập
khẩu (4). Năm 1879, ông gởi con ông và một người Hoa Quảng đông khác là Lưu
Chap (Pháp gọi là A Chap hay “Taokhe” Tào Kê Chap) sang Cam Bốt mở tiệm cầm
đồ ở Nam Vang. Sau này Lưu Chap là một người giàu có khét tiếng có thế lực ở
Nam Vang.

Theo tờ
tuần báo "Les tablettes coloniales" xuất bản tại Paris ngày 19/12/1888, có
đăng một mẫu tin nhỏ về ngày lễ sinh nhật của ông Vương Thái như sau (17):
“Một
ngày lễ rất thành công và ấn tượng rất lý thú vừa xảy ra ở Saigon, để mừng
sinh nhật thứ 61 ngày sinh và kỷ niệm 30 năm ngày ông thương gia người Hoa
tên là Vương Thái đến Saigon. Những người con trai ông Vương Thái và gia
đình của họ, những đồng hương và bạn bè của ông trong dịp lễ này đã mời “quí
bà, quí ông người Pháp và người Âu ở Saigon, Chợ Lớn và các tỉnh”. Cộng đồng
người Âu đã đáp lại lời mời ân cần này. Đèn đuốc, pháo bông, trình diễn
kịch, hát tuồng, không thiếu cái gì trong ngày lễ vui này. Ông Vương Thái là
một trong những chức sắc người Hoa được kính trọng nhất ở Saigon; ông không
những đã có những dịch vụ cống hiến lớn lao cho đồng bào ông mà còn cho
chính quyền Pháp. Vì thế đương nhiên đúng khi người ta đáp lại tương ứng qua
sự tham dự hoạt động hòa bình này mà ông là đối tượng”
Ông
Trương Bội Lâm (Wang-Tai, hay Vương Thái) mất năm 1900, thọ 73 tuổi (sinh
năm 1827). Các con trai và cháu nội ông ở Chợ Lớn mang quan tài ông về quê
hương, làng Ya-kang, huyện Hoàng Sơn ở Quảng Đông để chôn cất. Rất nhiều
người Hoa, Pháp, Việt và quan chức, chức sắc trong chính quyền ra bến tàu để
tiễn ông. Sau đó có một con đường ở Chợ Lớn được mang tên ông (1).
Tổng
luận
Người
Baba từ Singapore và người Hoa từ Hong Kong, cũng như người Minh hương ở
Việt Nam đã có đóng góp rất lớn vào sự phát triển Saigon-Chợ Lớn trong những
thập niên cuối thế kỷ 19. Tư tưởng kết hợp văn hóa đông tây và triết lý sống
thoáng, mở rộng, rất thực dụng của họ trong một môi trường ổn định, có lề
lối trong cơ chế, đa nguyên và đa văn hóa, luôn khuyến khích cá nhân với
tinh thần thương mại mạo hiểm đã được phát huy hoàn toàn để tạo ra con người
như Singapore, Hong Kong ngày nay.Họ đến
Saigon-Chợ Lớn trong những ngày khởi đầu của một thành phố bước vào thời kỳ
hiện đại với số vốn đầu tư lớn thiết lập nhà máy xay lúa, thầu xây dựng
những công trình kiến trúc để lại nhưng dấu ấn cảnh quan tạo nên cá tính của
một thành phố như nhà thờ, bưu điện, khách sạn, ngân khố, chùa, nhà cổ có
kiến trúc kết hợp đông tây ở Chợ Lớn. Nhờ họ mà Chợ Lớn trở thành đầu máy
của sự tăng trưởng kinh tế ở Nam kỳ vào thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 khi
người Việt thức tỉnh với phong trào Minh Tân và Duy Tân bắt đầu đổi mới tư
tưởng, nếp sống, thực dụng và tham gia vào đời sống thương mại, kinh tế. Saigon
không thể tách ra khỏi lịch sử Chợ Lớn, đầu mối của lục tỉnh. Di sản văn hóa
ở Chợ Lớn cũng là phần hồn của Saigon-Chợ Lớn: hai thành phố sinh đôi.
Saigon-Chợ Lớn từ lúc ban đầu là thành phố của kinh rạch, sông nước, thành
phố cảng. Không có gì cảm thấy sự khởi nguyên của cá tính thành phố hơn khi
đi dọc bến ở Saigon và Chợ Lớn. Lấp kinh rạch là phá phong thủy, thủy văn
của thành phố với hệ quả ngập lụt không tránh khỏi. Ngày nay
bộ mặt của bến Chương Dương, Hàm Tử, Lê Quang Liêm đã thay đổi rất nhiều,
nhất là từ khi đại lộ Đông Tây xây dọc theo bờ bên phải kênh Tàu Hủ từ bến
Chương Dương đến bến Lê Quang Liêm (Trần Văn Kiểu). Tất cả các bến này đã
biến mất. Đối diện bên kia kênh là các bến Vân Đồn, Phạm Thế Hiển, Bến Bình
Đông. Các bến này vẫn còn nhưng đã biến dạng nhiều, nhất là bến Bình Đông,
nhiều nhà, chùa cổ đã biến mất. Nơi đây xưa kia là các nhà máy xay lúa gạo
nơi lúa gạo từ miền Tây đổ về, và từ đây được xuất cảng đi nhiều nước. Từ
bến Lê Quang Liêm (thời Pháp gọi là “quai My Tho” vì là bến tàu ghe từ Mỹ
Tho, miền Tây), hàng hóa nông phẩm, trái cây được đưa đến chợ Bình Tây và
các chợ khác khắp Saigon và hàng sản xuất từ Chợ Lớn được đưa xuống trở lại
miền Tây. Vì thế Chợ Lớn là trung tâm thương mại ở miền Nam. Dọc bến,
có nhiều nhà kho, nhà ở đã có từ lâu đời với kiến trúc đông tây. Các nhà này
giống như kiến trúc nhà cổ ở Singapore vì xưa kia các thương gia, nhà thầu
Singapore đã có mặt nơi đây. Họ cùng các thương gia Chợ Lớn xây dựng các cơ
sở vật chất, nhà cửa, kho hàng… Hiện nay các khu phố cổ Chinatown, Boat Quay
và Clark Quay ở Singapore được bảo tồn và trở thành nơi du lịch có giá trị
văn hóa nổi tiếng ở xứ này. Khu Boat Quay và Clark Quay kế bờ sông, xưa kia
là nơi buôn bán, có nhiều nhà kho chứa hàng và nhà ở san sát từ các tàu buôn
(giống như bến Lê Quang Liêm, bến Bình Đông dọc kênh Tàu Hủ), ngày nay là
khu thanh lịch có nhiều nhà cổ đầy cá tính đặc biệt của kiến trúc đầu thế kỷ
20 và được người dân và du khách đông đảo ưa chuộng viếng thăm. Tiếc thay ở
Chợ Lớn, chúng ta đã không làm như vậy, mà ngược lại nhiều nhà cổ, đình chùa
đã biến mất.

Singapore - Boat Quay ngày nay
Ngày nay
tốc độ phát triển đô thị ở Saigon-Chợ Lớn rất là nhanh chóng, bộ mặt thành
phố đổi thay rất nhiều. Điều quan trọng là các di sản, kiến trúc văn hóa
lịch sử, nơi sinh hoạt tôn giáo, văn hóa nên được bảo tồn, gìn giữ để chúng
trở thành cảnh quan có giá trị tinh thần vô giá cho thành phố và các thế hệ
sau nối tiếp.
Chú
thích
(*)
Claudine Salmon dịch theo nguyên tác của Trần Công Sơn (8) vẫn để từ Qingcai
(thanh thái) mà không giải thích rõ. Đây là từ trong kịch hát bộ trong đó
diễn viên dùng điệu bộ hay thái độ để diễn tả lời nói, âm thanh.
Tham khảo
(1) Claudine Salmon, Tạ
Trọng Hiệp, De Batavia à Saigon: notes de voyage d’un marchand chinois
(1890), Archipel, 1994, Vol. 47, pp. 155-191.
http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/arch_0044-8613_1994_num_47_1_2973
(2) Hình ảnh, tư liệu, http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm
(3) Pierre Passerat de la
Chapelle, L’industrie du décorticage du riz, Bulletin de la Société des
études indochinoises, année 1901, 1901/1 (no. 41)-1901/6, pp. 53, Société
des études indochinoises (Saïgon).
(4) Nola
Cooke, King Norodom’s Revenue Farming System in Later-Nineteenth-Century
Cambodia and his Chinese Revenue Farmers (1860-1891), Chinese Southern
Diaspora Studies, Volume One, 2007. (
http://csds.anu.edu.au/volume_1_2007/Cooke.pdf ).
(5) Choi
Chi-Cheung, Cheung Ah-Lum A biographical note, Journal of the Hong Kong.
Branch of the Royal Asiatic Society, v. 24 (1984), pp. 282-7.
(sunzi.lib.hku.hk/hkjo/view/44/4401560.pdf).
(6) Notice historique,
administrative et politique sur la ville de Saïgon. Publiée par les soins du
secrétaire général de la mairie, Impr. de l'Union (157 rue Catinat, Saïgon),
1917,
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5843454w.r=%22notice+historique%22+ville+de+Saigon.langEN
(7) David
Chng, The yuenan Youji: a rare book published in Singapore (1888), Archipel,
no 43, 1992, pp 131-138
(8) Tang
Keong Sum (traduction de Claudine Salmon), Recit d’un voyage au Vietnam,
Archipel, no 43, 1992 pp. 145-166.
(9) Mark
Frost, Transcultural Diaspora: The Straits Chinese in Singapore, 1819-1918,
ARI WPS No. 10, August 2003.
(10) Radha Basu, Straits
Times, Aug 19, 2006
(11) J.
Henry Gray, A journey round the world in the years 1875-1876-1877, London,
Harrison, 59 Pall Mall, 1879
(12) Mrs.
Howard Vincent, Newfoundland to Cochin China by the golden wave, new Nippon,
and the the Forbidden city (1892), Sampson Low, Marston & Co London, 1892.
(13) Claudine
Lombard-Salmon, Sur les traces de la diaspora des Baba des Détroits: Li
Qinghui et son « Récit sommaire d'un voyage vers l'Est » ( 1889), Archipel.
Volume 56, 1998. pp. 71-120.
(14) Carl
Trocki, The internationalization of Chinese revenue farming networks, in
“Water frontier: commerce and the Chinese in the Lower Mekong Region,
1750-1880”, edited by Nola Cooke, Tana Li, Rowman and Littlefield, Maryland,
pp. 159-174.
(15) Carl
A. Trocki, Chinese Capitalism and the British Empire, paper presented to the
International Association of Historians of Asia, Conference, Taiwan, Taipei,
6-10 December 2004 http://eprints.qut.edu.au/679/1/trocki_chinese.PDF
(16) Paulin Francois
Alexandre Vial, Les premières années de la Cochinchine, colonie française,
Challamet Ainé, Paris,1874
(17) Les Tablettes
coloniales. Organe des possessions françaises d'outre-mer, No. 45,
19/12/1888,
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5512296p.image.r=Wang-Tai.f1.langEN
(18) Song
Ong Siang, One hundred years' history of the Chinese in Singapore, Oxford
University Press, Singapore, 1984
(19)
Chistine Doran, Bright celestial: progress in the political thought of Tan
Teck Soon, Journal of Social Issues in Southeast Asia, April, 2006.
(20) Michel Dolinski,
Cholon, ville chinoise?, 3ème Congrès du Réseau Asie - IMASIE / 3rd Congress
of Réseau Asie – IMASIE 26-27-28 sept. 2007, Paris, France,
http://www.reseau-asie.com/cgi-bin/prog/gateway.cgi?langue=fr&password=&email=&dir=myfile_colloque&type=jhg54gfd98gfd4fgd4gfdg&id
=430&telecharge_now=1&file=a09dolinski_michel.pdf
|