Chương trình Vi sinh
vật
ĐẠI CƯƠNG VỀ VI NẤM
_files/vinam001.jpg)
Nấm (Fungi, số ít là Fungus) là một giới riêng- Giới
nấm (Fungi), khoa học nghiên cứu về nấm được gọi là
Nấm học (Mycology).
Người ta đã biết đến nấm và sử dụng nấm từ thời cổ
xưa. Theo Quách Mạt Nhược, tác giả Bộ Trung quốc
sử cảo thì người Trung Quốc đã biết ăn nấm từ
cách đây 6000-7000 năm . Nghề nấu rượu có sử dụng
nấm men và nấm sợi đã xuất hiện ở Trung Quốc từ cách
đây 7000-8000 năm. Việc sử dụng nấm làm dược liệu (Thần
khúc) đã có ở Trung Quốc từ cách đây 2550 năm.
Các nấm dùng làm thuốc như Phục linh, Chư linh,
Linh chi , Tử linh, Lôi hoàn, Mã bột, Thiền hoa,
Trùng thảo, Mộc nhĩ…đã được ghi trong sáchThần
nông bản thảo kinh trong thời gian khoảng năm
100-200 sau Công nguyên.
Ở phương Tây , Ray ( 1684-1704) người Anh, đã căn cứ
vào đặc điểm sinh thái là chính để phân 94 loại nấm
thành 4 nhóm khác nhau trong sách Lịch sử thực
vật. Sau đó là các nghiên cứu phân loại nấm lớn
căn cứ vào hình thái của Magnol (1689), Tournefort
(1694).
Khi Leewenhoek (1632-1723) làm ra chiếc kính hiển vi
phóng đại được 200-300 lần thì người ta bắt đầu chú
ý đến các nấm nhỏ hay gọi là vi nấm.Nhà khoa học
Italia P.A.Micheli (1679-1737) là người đầu tiên
dùng kính hiển vi để nghiên cứu nấm. trong tác phẩm
Các chi thực vật mới (Nova Plantarum Genera)
xuất bản năm 1729 ông đã nêu lên các bảng phân loại
các chi nấm như Mucor, Tuber, Aspergillus….
Học giả Hà Lan D.C.H. Persoon (1761-1836) trong các
sách Synopsis Methodica Fungarum và
Mycologia Europeae đã đặt cơ sở cho phương pháp
và hệ thống phân loại nấm . Học giả Thụy Điển
E.M. Fries (1794-1878) đã có nhiều cống hiến trong
việc phân loại các nấm lớn. Khoảng 100 năm sau đó
việc phân loại đa số nấm lớn đều dựa trên nghiên cứu
của Fries.
Người đầu tiên vận dụng thuyết tiến hóa của Darwin
vao việc phân loại nấm là nhà khoa học Đức H.A.De
Bary (1831-1888). Ông đã xuất bản sách Hình thái
học và sinh lý học nấm vào năm 1866 với cơ sở
phân loại dựa trên trật tự tiến hóa. Ông còn nghiên
cứu nguồn gốc và tiến hóa của nấm, sáng tạo nên giả
thuyết Đơn nguyên luận.
Về sinh lý học, năm 1869 J.Raulin phát hiện nguyên
tố vi lượng Zn rất cần cho sự sinh trưởng của
Asperrgillus niger; năm 1901 E.Wilders cho biết
để sinh trưởng nấm còn cần các nhân tố như Biotin,
Thiamin, Inositol…
Về Di truyền học Blakeslee (1904) phát hiện ra sự
phối hợp của các sợi nấm khác giới tính ở nấm
Mucor. Sau đó là các phát hiện tương tự của
Kniep (1920 với nhiều loài nấm Đảm, Dodge (1928) với
nấm Neurospora. Về sau với nấm Neurosporra
người ta đã nghiên cứu sâu về di truyền học và
trên cơ sở các nghiên cứu này mà Beadles (1945) mới
đề xuất được học thuyết Một gen-một enzym.
Nhà nấm học Italia P.
A. Saccardo (1845-1920) đã chỉnh
lý các nghiên cứu về nấm và biên soạn bằng tiếng La
Tinh 25 tập Kỷ yếu Nấm.
Tiến bộ của Sinh học phân tử và kỹ thuật kính hiển
vi điện tử đã đem lại một diện mạo mới cho việc
nghiên cứu phân loại học và sinh lý học nấm. Các
thành tựu nghiên cứu đã được tổng kết khá đầy đủ
trong 5 tập sách Giới Nấm (The Fungi)
của G.
C. Ainsworth và cộng sự (Vol 1, 2.3.4A.4B. New
York and London: Academic Press, 1963-1973). Năm
1995 đã tái bản lần thứ 8 cuốn Từ điển về nấm
(Dictionary of the Fungi) của Ainsworth và
Bisby. Nấm được chia thành 4 ngành (Division,
Phylum):
- Ngành Chytridiomycota
- Ngành Zygomycota
- Ngành Ascomycota
- Ngành Basidiomycota
Theo thuật ngữ Latinh tên các taxon trong
phân loại nấm là như sau: Ngành-mycota; Ngành
phụ-mycotina; Lớp- mycetes; Lớp phụ-
mycetidae; Bộ-ales; Bộ phụ- ineae;Họ-aceae;
Họ phụ- oideae.
Hiện nay tồn tại các hệ thống phân loại nấm không
thống nhất với nhau, chủ yếu là các hệ thống phân
loại theo Ainsworth và cộng sự (1973), V.Arx (1981),
Ainsworth & Bisby (1983), Kendrick (1992), Ainsworth
& Bisby (1995), Alexopoulos & Mins (1996).
Chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại theo Giáo trình
nấm học CBS. ( CBS Course of Mycology ), lần
xuất bản thứ 4, Baarn, Delft, 1998:
Ngành
|
Lớp
|
Lớp phụ hoặc nhóm |
Labyrinthomorpha |
Labyrinthulea
Thraustochytriacea |
|
Pseudofungi |
Hyphochytriomycetes
Oomycetes |
|
Chytridiomycota |
Chytridiomycetes |
|
Zygomycota |
Zygomycetes
Trichomycetes |
|
Ascomycota
|
Archiascomycetes
Saccharomycetes
Ascomycetes
|
discomycetes
Major licheneized orders
plectomycetes
pyrenomycetes
loculoascomycetes
powdery mildews
Laboulbeniomycetes
conidial ascomycetes
(Hyphomycetes,
Coelomycetes)
|
Basidiomycota |
Urediniomycetes |
Platyglomycetidae
Urediniomycetidae
|
|
Ustilaginomycetes |
|
|
Hymenomycetes |
Tremellomycetidae
Dacrymycetidae
Auriculariomycetidae
Hymenomycetidae |
Các loài nấm không tìm thấy (đúng ra là
chưa tìm thấy) dạng sinh sản hữu tính được xếp chung
vào nhóm Nấm bất toàn – Fungi imperfecti.
Theo hệ thống phân loại của Saccardo (1880,1886) thì
các nấm này được xếp thành một lớp- Lớp
Deuteromycetes. Khi phát hiện thấy cơ quan sinh
sản hữu tính thì người ta đổi tên loài và xếp sang
các lớp khác. Ví dụ nấm lúa von trước kia được gọi
là Fusarium moniliforme, nhưng sau khi tìm
thấy cơ quan sinh sản hữu tính thì lại chuyển thành
loài Gibberella fujikuroi. Các nấm bất
toàn hiện được xếp trong các nhóm conidial
Ascomycetes hay conidial Basidiomycetes.
Hiện nay người ta cho rằng trong tự nhiên có khoảng
1 triệu đến 1,5 triệu loài nấm nhưng mới định tên
được khoảng 10 000 chi và 70 000 loài, Trung Quốc đã
điều tra được 40 000 loài. Riêng các loài nấm thuộc
Nấm bất toàn ở nước ta hiện mới chỉ phát hiện
được 338 loài thuộc 306 chi khác nhau (Bùi Xuân
Đồng, 2004). Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật (VTCC)
thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học Đại học Quốc gia
Hà Nội đang hợp tác với Viện NITE của Nhật Bản điều
tra nghiên cứu khu hệ vi nấm ở Việt Nam và có nhiều
khả năng tìm thấy những loài mới trong khoa học.
Vậy những loài nấm nào là Vi nấm (Microfungi)?
Đó là tất cả các nấm không có mũ nấm (quả thể,
fruit-body) có thể thấy rõ bằng mắt thường. Người ta
gọi những nấm có mũ nấm là các nấm bậc cao. Tuy
nhiên khi nuôi cấy sợi nấm của các nấm bậc cao để
nghiên cứu hoặc để sản xuất sinh khối thì chúng cũng
được coi như vi nấm và là đối tượng nghiên cứu của
ngành Vi sinh vật ( giống như các loài vi nấm khác).
Để nghiên cứu vi nấm bắt buộc phải quan sát dưới
kính hiển vi và phải nuôi cấy trong các điều kiện vô
khuẩn như đối với vi khuẩn.
Căn cứ vào hình thái người ta chia vi nấm
thành hai nhóm khác nhau: nhóm Nấm men ( Yeast ) và
nhóm Nấm sợi (Filamentous fungi). Chúng chỉ khác
nhau về hình thái chứ không phải là những taxon
phân loại riêng biệt. Nhiều nấm men cũng có dạng
sợi và rất khó phân biệt với nấm sợi.
I-
CẤU TẠO CHUNG
CỦA SỢI NẤM
1.
Hình thái và
cấu tạo của sợi nấm
Sợi nấm (hypha) có dạng hình ống phân nhánh bên
trong chứa chất nguyên sinh có thể lưu động. Về
chiều dài chúng có sự sinh trưởng vô hạn nhưng về
đường kính thì thưopừng chỉ thay đổi trong phạm vi
1-30µm (thông thường là 5-10 µm).
Đầu sợi nấm có hình viên trụ, phần đầu gọi là vùng
kéo dài (extension zone). Lúc sợi nấm sinh trưởng
mạnh mẽ đây là vùng thành tế bào phát triển nhanh
chóng, vùng này có thể dài đến 30 µm. Dưới phần này
thành tế bào dày lên và không sinh trưởng thêm được
nữa. Màng nguyên sinh chất thường bám sát vào thành
tế bào. Trên màng nguyên sinh chất có một số phần có
kế cấu gấo nếp hay xoặ lại, người ta gọi là biên thể
màng (plasmalemmasome) hay biên thể (lomasome).
Nhiều khi chúng có tác dụng tiết xuất các chất nào
đó.
Thành tế bào (cell wall) của nấm có thành phần
hóa học khác nhau. Đây là một tiêu chí quan trọng
khi định loại nấm. sau đây là các thành phần chính
của thành tế bào ở một số nấm:
Chi nấm: |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
Thành phần thành tế bào: |
|
|
|
|
|
|
Glucan |
16 |
54 |
0 |
43 |
29 |
6 |
Cellulose |
- |
36 |
0 |
0 |
0 |
0 |
Chitine |
58 |
0 |
9 |
19 |
1 |
10 |
Chitosan |
- |
10 |
33 |
- |
0 |
- |
Mannan |
- |
<1 |
2 |
2 |
31 |
<3 |
Protein
|
10 |
5 |
6 |
11 |
13 |
7 |
Lipid |
- |
3 |
8 |
5 |
9 |
3 |
Chú thích: 1- Allomyces
2- Phytophthora
3- Mucor
4- Aspergillus
5- Saccharomyces
6- Schizophyllum
Thành phần chính trong thành tế bào của một số nhóm
nấm là như sau:
Acrasiales Cellulose, Glycogen
Oomycetes Cellulose, Glucan
Hyphochytriomycetes Cellulose.
Chitine
Zygomycetes Chitin,
Chitosan
Chytridiomycetes, Ascomycota (dạng
sợi), Basidiomycota (dạng sợi),
Fungi Imperfecti
Chitine, Glucane
Riêng với Saccharomycetales và
Cryptomycocolacales là Glucan, mannan
Với Rhodotorula và
Sporobolomycetales là Chitine, mannan
Với màng nguyên sinh chất
(protoplasmic membrane) thì thành phần ít thay đổi ở
các loài nấm sợi, có khác nhau với dạng nấm men. Sau
đây là một số ví dụ:
Loài nấm |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
Thành phần màng NSC |
|
|
|
|
|
Protein |
52,0 |
38,5 |
46,5 |
45,5 |
25,5 |
Lipid |
43,0 |
40,4 |
41,5 |
31,0 |
40,0 |
Polysaccharide |
9,0 |
5,2 |
3,2 |
25,0 |
30,0 |
Acid nucleic |
0,3 |
1,1 |
7,5 |
0,5 |
- |
Chú thích: 1- Candida
albicans (dạng nấm men)
2- Candida
utilis
3-
Saccharomyces cerevisiae
4- Candida
albicans (dạng nấm sợi)
5- Fusarium
culmorum
Nhân tế bào được bao bọc bởi màng nhân,
trên màng nhân có nhiều lỗ thủng, trong nhân có hạch
nhân (nucleolus). Thường có nhiều nhân tập trung ở
phần ngọn của sợi nấm. Trong các tế bào phía sau
ngọn thường chỉ có 1-2 nhân.
Nhân của nấm thường nhỏ, khó thấy rõ dưới
kính hiển vi quang học. Nhiễm sắc thể trong nhân
thường không dễ nhuộm màu, số lượng tương đối nhỏ.
Số lượng này là 6 ở các nấm Magnaporthe grisea,
Paecilomyces fumosoroseus, Trichoderma reesei;
là 7 ở các nấm Histoplasma capsulatum,
Neurospora crassa, Phenaerchateae chrysosporium,
Podospora anserina, là 8 ở các nấm
Aspergillus nidulans. Aspergillus niger,Acremonium
chrysogenum, Beauveria basiana, Lentinus edodes,
là 10 ở nấm Penicillium janthinellum,là 11 ở
nấm Schizophyllum commune, là 12 ở nấm
Curvularia lunata, là 13 ở nấm Agaricus
bisporus, là 15 ở nấm Cyanidioschyzon
merolae, là 20 ở nấm Ustilago maydis….
Trong tế bào nấm còn có các cơ quan giống
như trong tế bào các sinh vật có nhân thực
(Eukaryote) khác. Đó là ty thể (mitochondrion), mạng
nội chất (endoplasmic reticulum), dịch bào hay không
bào (vacuolus), thể ribô (ribosome), bào nang
(vesicle) , thể Golgi sinh bào nang (Golgi body,
Golgi apparatus, dictyosome), các giọt lipid (lipid
droplet), các tinh thể (chrystal) và các vi thể
đường kính 0,5-1,5 nm (microbody), các thể Vôrônin
đường kính 0,2µm (Woronin body), thể Chitô đường
kính 40-70nm(chitosome)… Ngoài ra trong tế bào chất
còn có các vi quản rỗng ruột, đường kính 25nm
(microtubule), các vi sợi đường kính 5-8nm(
microfilament), các thể màng biên ( plasmalemmasome)
Ribosome của nấm thuộc loại 80S ( S là
đơn vị hệ số lắng Svedberg) có đường kính khoảng
20-25nm, gồm có 2 bán đơn vị ( subunit); bán đơn vị
lớn (large subunit ) 60S (gồm 3 loại ARN- 25S; 5,8S
và 5S cùng với 30-40 loại protein). Bán đơn vị nhỏ
(small subunit) 40S (gồm loại ARN 18S và 21-24 loại
protein)
Phần ngọn có thể tách với phần bên dưới
bằng một không bào, lúc đầu nhỏ nhưng về sau kết hợp
lại với nhau để lớn dần, tạo nế áp lực dồn tế bào
chất về phía đỉnh ngọn sợi nấm. Tại phần già nhất
của sợi nấm thường xảy ra hiện tượng tự tan
(autolysis) hoặc bị tan rã dưới tác dụng của các men
phân cắt (lytic enzyme) do các vi sinh vật khác sinh
ra. Cũng có những phần sợi nấm già phần lipid tích
tụ nhiều và kết hợp với thành tế bào tạo nên một
màng dày, tạo thành những bào tử áo (chlamydospore).
Loại bào tử này có thể giúp sợi nấm tồn tại được qua
những điều kiện môi trường khắc nghiệt. Trường hợp
này rất giống với các bào tử nội sinh (endospore).
Sợi nấm không ngừng phân nhánh và vì vậy
khi một bào tử nẩy mầm trên một môi trường đặc sẽ
phát triển thành một hệ sợi nấm (mycelium, số nhiều-
mycelia), sau 3-5 ngày có thể tạo thành một đám nhìn
thấy được gọi là khuẩn lạc (colony). Vào giai đoạn
cuối của sự phát triển khuẩn lạc sẽ xảy ra sự kết
mangh (anastomosis) giữa các khuẩn ty với nhau, làm
cho cả khuẩn lạc là một hệ thống liên thông mật
thiết với nhau, thuận tiện cho việc vận chuyển chất
dinh dưỡng đến toàn bộ hệ sợi nấm. Hiện tượng kết
mạng thường gặp ở nấm bậc cao nhưng lại ít gặp ở các
sợi nấm dinh dưỡng của nấm bậc thấp. Hình thái,
kích thước màu sắc, bề mặt của khuẩn lạc…có ý nghĩa
nhất định trong việc định tên nấm.
Phần lớn sợi nấm có dạng trong suốt, ở một
số nấm sợi nấm mang sắc tố tạo nên màu tối hay màu
sặc sỡ. Sắc tố của mọt số nấm còn tiết ra ngoài moi
trường và làm đổi màu khu vực có nấm phát triển. Một
số nấm còn tiết ra các chất hữu cơ tạo nên các tinh
thể trên bề mặt khuẩn lạc. Vì bào tử của nấm thường
cũng có màu nên cả khuẩn lạc thường có màu
2-Vách ngăn ở sợi nấm:
Sợi nấm ở một số nấm có vách ngăn ngang (septa,
cross wall), đó là các sợi nấm có vách ngăn (septate
hyphae). Cũng có nhiều nấm sợi nấm không có vách
ngăn ngang- sợi nấm không vách ngăn (aseptate
hyphae). Các nấm bặc thấp thường có sợi nấm không
vách ngăn, ngược lại các nấm bậc cao thường mang sợi
nấm có vách ngăn. Sợi nấm không vách ngăn mang nhiều
nhân nhưng vẫn có thể gọi là đơn bào. Ở các nấm
không vách ngăn thì vách ngăn vẫn có thể hình thành
khi sản sinh thể sinh sản hay cơ quan sinh sản. tại
các bộ phận bị thương tổno sựi nám cũng có thể hình
thành vách ngăn. Đó là loại vách ngăn liên, không có
lỗ thủng, có tác dụng bảo vệ cơ thể.
Sợi nấm có vách ngăn là cơ thể đa bào. Mỗi tế bào có
1 nhân hoặc nhiều nhân. Tuy nhiên sợi nấm vẫn không
phải do nhiều tế bào hợp thành mà là do các vách
ngăn tách sợi nấm ra thành nhiều tế bào.
Vách ngăn ngang được hình thành từ thành tế bào. Lúc
đầu là một gờ nhỏ hình khuyên sao đó tiến dần vào
trong và lấp kín lại. Tuy nhiên vách ngăn thươbf có
1 hay nhiều lỗ thửng. các lỗ có kích thước bằng nhau
hay có 1 lỗ lớn nhất ở giữa và nhiều lỗ nhỏ ở xung
quanh. Vách ngăn điển hình ở Nấm túi (Ascomycota)
và Nấm bất toàn (Deuteromycetes) là loại có
một lỗ ở chính giữa, đường kính khoảng 0,05-0,5µm. Ở
nấm Geotrichum candidum và nấm Fusarium
vách ngăn thường có nhiều lỗ nhỏ. Ở nấm Fusarium
lỗ ở chính giữa vách ngăn lớn hơn so với các lỗ
khác. Một số Nấm đảm (Basidiomycota) có lỗ
hình thùng trên vách ngăn ngang, bọc bên ngoài bởi
một cấu trúc màng gọi là màng lỗ thùng
(perenthesome). Trong điều kiện khô hạn việc hình
thành vách ngăn có thể giúp sợi nấm đề kháng được
tốt hơn đối với môi trường.
Ờ Nấm túi và Nấm bất toàn nhiều khi trong tế bào còn
thấy có các thể Vôrônin (Woronin body) và các tinh
thể protein.
_files/vinam002.jpg)
Cấu tạo của phần ngọn sợi nấm
_files/vinam003.jpg) _files/vinam004.jpg)

Cấu trúc của sợi nấm
_files/vinam006.gif)
Sợi nấm có vách ngăn Sợi nấm
không vách ngăn
_files/vinam007.jpg)
Hệ sợi nấm
_files/vinam008.gif)
Sự phát triển của hệ sợi nấm
_files/vinam009.jpg)
Khuẩn lạc nấm

Một ví dụ về cấu trúc của Ribosome ở Eukaryote

Thể Golgi và Mạng lưới nội
chất
Thể Woronin tụ tập ở lỗ thông của vách ngăn (nấm
Penicillium)
_files/vinam013.jpg)
_files/vinam014.jpg)
Ty thể (mitochondrion)
3-Mô (tissue) của hệ sợi nấm:
Mô hay tổ chức của hệ sợi nấm thường gặp ở
các nấm bậc cao. Chúng xuất hiện trong một giai đoạn
của vòng đời nấm. Loại mô này được gọi là tổ chức
sợi dày (plectenchyma). Tổ chức này lại chia ra
thành hai loại: loại tổ chức sợi xốp hay
tổ chức tế bào hình thoi (prosenchyma) và tổ
chức màng mỏng hay tổ chức nhu mô giả (
pseudoparenchyma). Tổ chức sợi dày gặp ở thân nấm và
mũ nấm ở các nấm bậc cao, nhất là ở ngành Nấm túi và
Nấm đảm. Hạch nấm (scleorotium) xuất hiện khi nuôi
cấy nấm sợi (nấm bậc thấp) trên các môi trường già
(nuôi cấy lâu ngày). Hạch nấm là hình thức bảo vệ
nấm qua giai đoạn bất lợi. Đó còn là nơi dự trữ các
chất dinh dưỡng cho nấm. Kết cấu tổ chức của hạch
nấm gòm lóp ngoài cùng có thành tế bào màu đen. Dưới
đó là một lớp biểu bì rỗng. Bên trong là tổ chức sợi
dày với các sợi nấm có màng dày. Trong cùng là khối
tổ chức sợi xốp. Thể đệm hay đệm nấm (stroma) cũng
là khối tổ chức sợi nấm dính nhau theo nhiều hướng.
Trên hoặc trong thể đệm có các cơ quan sinh sản của
nấm.Thể đệm chỉ gặp ở Nấm túi và Nấm đảm. Thừng nấm
hay khuẩn sách (rhizomorph) cúng có tổ chức sợi nấm
bện lại theo kiểu tổ chức sợi dày.
_files/vinam015.jpg)
Hạch nấm (Sclerotium)
_files/vinam016.gif) _files/vinam017.gif)
Tổ chức sợi xốp (prosenchyma)
_files/vinam018.jpg)
Tổ chức màng mỏng (Pseudoparenchyma)-hình
phía trong
_files/vinam019.jpg)
Thể đệm ( Stroma )
_files/vinam020.jpg)
Thừng nấm (Rhizomorph)
4-Các dạng biến đổi của hệ sợi nấm:
4.1-Bào tử áo, bào tử, tế bào phình
lớn:
Đôi khi gặp những tế bào sợi nấm phình lớn một cách
vô quy tắc. Nói chung khi gặp điều kiện ngoại cảnh
bất lợi nguyên sinh chất co lại, vo tròn lại, phía
ngoài tạo thành lớp màng dày, bên ngoài thường có
gai hay các mấu lồi. Kết cấu này được gọi là bào tử
áo hay bào tử màng dày (Chlamydospore). Loại bào tử
này không phải loại bào tử sinh sản (vô tính hoặc
hữu tính) giúp phát tán nấm ra môi trường xung
quanh. Các loại bào tử này ta sẽ xem xét tới ở phần
dưới.
4.2-Sợi hút (haustorium):
Sợi nấm ký sinh trên bề mặt tế bào cây chủ rồi mọc
ra sợi nấm đâm sâu vào phía trong và tạo nên các sợi
hút đâm vào các tế bào để hút chất dinh dưỡng của
cây chủ. Sợi hút có thể có các hình dạng khác nhau :
hình sợi, hình ngón tay, hình cầu…Nói chung các nấm
ký sinh bắt buộc đều là những loài có sợi hút.
Khi xuyên vào tế bào cây chủ một số sợi hút không
làm rách được màng nguyên sinh chất mà chỉ làm cho
màng này lõm vào. Nhiều khi sợi hút phân ra khá
nhiều nhánh bên trong tế bào để tăng diện tích hấp
thu chất dinh dưỡng.
_files/vinam021.jpg)
Sợi
hút
4.3- Sợi áp (appressorium) và đệm xâm nhiễm
(infection cushion):
Từ một bào tử nấm nẩy mầm trên bề mặt vật chủ
(thường là lá cây) sẽ mọc ra một sợi nấm và tiết ra
chất nhầy để áp sát bề mặt này. Đầu sợi nấm phình to
lên như chiếc đĩa và tạo thành sợi áp. Từ sợi áp mọc
ra sợi hút đâm sâu vào tế bào vật chủ để hút chất
dinh dưỡng. Mô ở vật chủ bị tiêu hủy dần dưới tác
dụng của các enzym thủy phân của sợi áp. Đệm xâm
nhiễm là một dạng mạng sợi phân nhánh và gắn với
nhau như một tấm đệm ở tế bào vật chủ, đầu sợi nấm
thường phình to lên. Việc hình thành đệm xâm nhiễm
thường do cơ chế khống chế nội sinh và ảnh hưởng
kích thích của môi trường.
_files/vinam023.jpg)
_files/vinam024.jpg)
4.4- Sợi nấm bắt mồi (traps):
Một số nấm sống trong đất có cơ chế bắt mồi (giun
tròn-nematode, amip-amoeba..). Chúng hình thành nên
những cấu trúc có dạng những cái bẫy và vì vậy được
gọi là nấm bẫy mồi (trapping fungi). Có thể có mấy
kiểu sợi nấm bẫy mồi sau đây:
-
Bọng dính
(adhesive knobs): Sợ nấm phát sinh những nhánh ngắn
,thường thẳng góc với sợi nấm chính. Đỉnh các nhánh
này phình to lên thành những bọng hình cầu. các bọng
này tiết ra chất dính có thể giữ chặt lấy con mồi.
Sau đó từ bọng mọc ra sợi nấm xuyên qua vỏ con mồi.
Cuối sợi này phồng lên thành bọng nhỏ bên trong con
mồi và tiếp tục phân nhánh thành các sợi hút
-
Lưới dính
(sticky nets): Các nhánh mọc ra được nối mạng với
nhau thành dạng lưới. Bên ngoài lưới cũng phủ đầy
chất dính để bẫy mồi. Sau đó một tế bào của lưới sẽ
phát triển thành bọng nhỏ bên trong con mồi và từ
bọng mọc ra các sợi hút
-
Vòng thắt (
constricting rings): Sợi nấm mọc ra các nhánh đặc
biệt với các vòng thắt cấu tạo bởi 3 tế bào. Khi mặt
trong của các tế bào này tiếp súc với con mồi thì
không bào sẽ phình to lên và thắt chặt con mồi lại.
Sau đó sẽ mọc ra các nhánh xuyên vào con mồi, rồi
mọc ra các sợi hút nói trên
-
Bào tử dính
(Sticky spores): Có các bào tử phủ đầy chất dính và
có tác dụng bẫy mồi tương tự như các trường hợp nói
trên.
Các chi nấm thường có sợi nấm bẫy mồi là
Arthrobotrrys, Daxtylaria, Daxtylella,
Trichothecium… Một số loài nấm như Zoopage
phanera, Arthrobotrys anomala tiết ra chất dính
trên toàn bộ mặt ngoài sợi nấm và cũng có tác dụng
bẫy mồi như các trường hợp nói trên.
_files/vinam026.png) _files/vinam027.gif)
_files/vinam031.jpg) _files/vinam032.jpg)
_files/vinam030.jpg) _files/vinam029.jpg)
_files/vinam035.jpg)
4.5- Rễ giả (rhizoid) và Sợi bò (stolon):
Sợi bò là đoạn sợi nấm khí sinh không phân nhánh
phát sinh từ các sợi nấm mọc lên từ cơ chất, chúng
có dạng thẳng hay hình cung. Phần chạm vào cơ chất
phát triển thành những rễ giả ngắn cắm vào cơ chất.
Do sự phát triển của sợi bò mà các nấm này lan rộng
ra xung quanh, về cả mọi phía, kẻ cả trên thành của
hộp lồng (hộp Petri). Rễ giả và thân bò đặc trưng
cho các nấm thuộc chi Rhizopus (rễ giả mọc
ngay chỗ cụm sợi nấm khí sinh), Abssidia (rễ
giả không mọc dưới chõ cụm sợi nấm khí sinh) . Rễ
giả còn gặp ở nhiều loài nấm thuộc các chi
Rhizidiomyces, Sclerotinia…
_files/vinam036.jpg) _files/vinam037.jpg)

Nấm Rhizopus
_files/vinam039.jpg)
_files/vinam040.jpg)
Nấm Absidia
(Còn tiếp)
|