 
 Nấm mỡ Blazei có tên khoa học là Agaricus blazei Murrill, thuộc họ
Agaricaceae, bộ Acaricales, ngành phụ Basidiomycotina, ngành Eumycota, giới
Mycota.
Nấm mỡ Blazei còn có các tên gọi khác là Nấm mỡ Ba Tư, Nấm thông lớn, Nấm Nữ
hoàng, Nấm của Chúa (Cognelo de Deus), Nấm Himematsutake.
Ngày 24-4-1944 nhà khoa học W. Blazei đã phát hiện thấy ở vùng thảo nguyên
Gainesville giáp biển Đại Tây Dương, thuộc bang Florida một chủng nấm lạ
mang ký hiệu F. 32911. Nấm này về sau còn tìm thấy ở cả miền Nam California,
ở Brazil và Peru.
Mùa hè năm 1965 một thương gia Brazil gốc Nhật đã tìm thấy ở vùng đồng cỏ
ngoại ô Pedade, thuộc Sao Paolo (Brazil) một loài nấm ăn có hương vị thơm
ngon mà nhân dân địa phương gọi là Nấm của Chúa. Ông đã đưa bào tử nấm này
về Nhật và đã nghiên cứu nuôi trồng ra quả thể. Họ đặt tên là Nấm Đại Nguyên
Nhung. Mãi đến năm 1967 các nhà phân loại mới thấy các nấm nói trên là thuộc
loài Agaricus blazei Murill.
Năm 1991 tiến sĩ Tiên Minh Diệu ở Trung tâm nghiên cứu nấm ăn , thuộc Viện
Khoa học nông nghiệp Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã đưa được nấm này từ Nhật Bản
về và nuôi trồng thử nghiệm thành công. Năm 1992 nấm này đã được nghiên cứu
kỹ lưỡng về đặc tính sinh học và đặc điểm nuôi cấy bởi Sở nghiên cứu Bảo vệ
thực vật và Sở nghiên cứu đất phân, trực thuộc Viện Khoa học Phúc Kiến. Nghề
nuôi trồng nấm mỡ Blazei lan rộng tại các vùng Phúc Châu, Vu Đức, La Nguyên,
Tiên Du, Vưu Khê thuộc Phúc Kiến. Sau đó việc trồng nấm này đã lan rộng ra
nhiều tỉnh ở Trung Quốc. Sản phẩm nấm Ba Tư ở Tứ Xuyên và Phúc Kiến chủ yếu
được bán sang Nhật Bản và một phần được ướp muối để tiêu thụ nội địa.
Nấm Agaricus blazei có mũ hình bán cầu, về sau dẹt dần lại. Đường kính mũ
nấm thay đổi trong khoảng 5-12cm, màu vàn nâu, có các vẩy màu nâu.Thịt nấm
màu trắng, giữa dày, ngoài mỏng. Phiến nấm màu trắng, lúc già chuyển thành
màu nâu đen. Cuống nấm dài khoảng 5-13cm, đường kính 1,0-2,5cm, màu trắng
hay màu vàng nhạt. Bào tử đảm (basidiospore) có hình từ bầu dục đến hình
trứng với kích thước trong khoảng 5,2-7,0 x 3,7- 6,31mm. Đảm có kích thước
5,5- 7,5 x 15,2-20,0 mm, trên đỉnh có 4 cuống nhỏ mang bào tử đảm. Quả thể
gần giống với các nấm mỡ khác ( Agaricus bisporus, A. bitorquis) nhưng có
màu từ nâu tro nhạt đến màu vàng nâu với nhiều vẩy dạng sợi. Đường kính mũ
nấm khoảng 6-11cm. Cuống dài 4-14cm, đường kính 2-3cm, hình viên trụ, nằm
chính giữa quả thể, trên dưới đều nhau, màu sắc và bề mặt gần giống với mũ
nấm. Phần thịt nấm dày khoảng 11mm. Sợi nấm có bề rộng khoảng 3-6mm. Nhiệt
độ thích hợp cho sự phát triển của hệ sợi nấm là 10-37°C, tốt nhất là ở
23-27°C. Với quả thể thì nhiệt độ thích hợp để sản sinh là 16-33°C , nhưng
tốt nhất là 18-25°C. Nấm mỡ Blazei thích hợp trồng ở miềm Bắc nước ta trong
vụ Đông Xuân. Không thích hợp trồng trong mùa hè hoặc trồng tại miền Nam.
Khi rét dưới 10°C thì sợi nấm không mọc, dưới 19°C sợi nấm sinh trưởng chậm.
Với nhiệt độ 29°C tuy sợi nấm mọc rất nhanh nhưng lại rất yếu và dễ lão hóa.
Trên 30°C sợi nấm bắt đầu mọc chậm lại. Tại 37°C sợi nấm bị chết khô. Khi
nhiệt độ quá 25°C quả thể vẫn hình thành nhưng cuống dài và dễ xòe mũ nấm.
Độ ẩm trong nguyên liệu nuôi cấy sợi nấm Agaricus blazei tốt nhất là vào
khoảng 58,5% ( ứng với tỷ lệ 1 nguyên liệu : 4 nước). Độ ẩm không khí cũng
là yếu tố quan trọng để phát triển sợi nấm và sản sinh quả thể, độ ẩm tương
đối thích hợp nhất để phát triển sợi nấm là 60-85%, để sản sinh quả thể là
85-95%. Độ ẩm của lớp đất phủ nên là 60-65%. Cần trang bị các ẩm kế trong
phòng trồng nấm. pH thích hợp cho sự phát triển của sợi nấm là 4,5-8,5 ,
nhưng tốt nhất là 6-7. Khi hình thành quả thể tốt nhất môi trường nên có pH
vào khoảng 6,5-7,5. pH của lớp đất phủ nên là 7.
Nấm mỡ Blazei có vị ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Nếu tính theo trọng
lượng tươi thì trong 100g nấm có tới 85-87g nước. Còn nếu tính theo trọng
lượng khô thì trong 100 g nấm có 40-50g prôtêin, 38-45g hydrat carbon, 6-8g
cellulose, 5-7 g chất khoáng, 3-4g lipid thô, ngoài ra còn có 0,3mg Thiamin
(vitamin B1), 3,2mg Riboflavin ( B2), 4,92mg Axit nicotinic. Protein của nấm
này có 18 loại axit amin, trong đó có đầy đủ 8 axít amin không thay thế
(valin, leucin, isoleucin, methionin, threonin, phenylalanin,
tryptophan,lysin).
Đặc biệt quan trọng là giá trị dược liệu của nấm mỡ Blazei. Tác dụng kháng
khối u (chống ung thư ) của nấm này được thấy rõ ở 6 loại polysacharide sau
đây: b-glucan Flo-a-b; a-glucan FA -1-a-a; b-galactoglucan FA-1-a-b; acid
ribonucleic FA-2-b-b; Proteinic glucan F III-2-b; Xyloglucan FIV-2-b. Cơ chế
tác dụng và hiệu quả kháng khối u của polysacharide ở nấm mỡ Blazei được nêu
lên trong rất nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống tại nhiều nước.
Từ xa xưa, con người đã sử dụng chè làm từ
nấm mỡ Blazei để điều trị nhiều chứng bệnh: các bệnh liên quan đến những rối
loạn hệ thống miễn dịch, tuần hoàn, tiêu hóa, cũng như chứng tiểu đường, các
hội chứng dị ứng hay các rối loạn về gan. Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan
cũng đã từng điều trị bằng nấm mỡ Blazei để chiến thắng căn bệnh ung thư da
và qua sự kiện đó, hiệu quả dược học của nấm này đã được cả thế giới biết
đến. Kể từ khi hiệu quả dược học của nấm mỡ Blazei được phát hiện, rất nhiều
nghiên cứu về đề tài này đã được thực hiện trên toàn thế giới. Đặc biệt, các
nghiên cứu trong suốt thời gian 25 năm qua đều chỉ ra rằng nấm mỡ
Blazei có tác dụng rất lớn trong việc phòng và chống ung thư. Theo các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, nấm mỡ Blazei có hiệu quả
phòng ung thư đạt tới 99.4% và hiệu quả điều trị ung thư cũng đạt tới 90 %.
Cũng theo các nhà khoa học Nhật Bản, nấm mỡ Blazei tỏ ra có hiệu quả
cao hơn 80% so với PSK, thuốc tốt nhất dùng trong điều trị ung thư. Hiện
nay, nấm mỡ Blazei đang được sử dụng rộng rãi trong trị liệu ung thư
ở nhiều nước châu Á. Điều đáng lưu ý là nấm mỡ Blazei là một loại nấm ăn
ngon, giàu dinh dưỡng và không gây ra bất kỳ một phản ứng phụ nào có hại đối
với cơ thể con người.
Sở dĩ nấm mỡ Blazei có hiệu quả dược học cao
như vậy là do trong thành phần hóa học của sợi nấm cũng như quả thể của nấm
này có những hoạt chất đặc biệt với những tác dụng miễn dịch đặc hiệu :
- Các phức hệ polysaccarit – protein: bao
gồm chủ yếu là các Beta-1,6-D-glucan, Beta-1,3-D-glucan [3], [7], [8], một
số nghiên cứu cho rằng bao gồm cả các Beta–1,4–a–D-glucan [4]. Các
polysaccarit này có tác dụng hoạt hoá mạnh mẽ các đại thực bào (macrophage)
trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Các đại thực bào rất quan trọng vì
chúng là hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể. Sự tăng cường hoạt động của
các đại thực bào đồng nghĩa với sự tăng cường khả năng phòng chống, ngăn
chặn các mầm mống bệnh tật ngay từ giai đoạn xâm nhập đầu tiên. Sự hoạt hoá
các đại thực bào còn dẫn đến sự tăng hàm lượng các cytokin. Đây là các
protein tối quan trọng chịu trách nhiệm xúc tác và điều hoà hàng loạt các
phản ứng miễn dịch của cơ thể. Bên cạnh đó, các đại thực bào còn có các
tương tác với các tế bào Lympho T, có tác dụng khởi động các phản ứng miễn
dịch đặc hiệu [5]. Vì thế, khi hoạt động của các đại thực bào được hoạt hoá,
các phản ứng đặc hiệu này cũng được tăng cường. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu
còn chỉ ra rằng các polysaccarit kể trên cũng có tác dụng ức chế sự phát
triển không bình thường của tế bào, đặc biệt là chúng có tác dụng kích
thích, làm tăng số lượng các tế bào lymphô gây giết (killer cells) tự nhiên.
Các tế bào này có khả năng phát hiện và tiêu diệt các tế bào phát triển
không bình thường của cơ thể, các tế bào ung thư. Như vậy, nhìn một cách
tổng thể, các polysaccarit trong thành phần của nấm mỡ Blazei có tác dụng
làm tăng cường rất mạnh khả năng miễn dịch của cơ thể.
- Các steroid tự nhiên, các dẫn xuất
Ergosterol: Các steroid tự nhiên của nấm
mỡ Blazei có tác dụng ngăn ngừa ung thư, đặc biệt là ung thư tử cung [9].
Các Ergosterol được biết đến như các tiền vitamin D2, một loại tác nhân cũng
có khả năng chống ung thư.
Để nuôi cấy sợi nấm nấm mỡ Blazei trên môi trường thạch nghiêng ( giống cấp
1) nên sử dụng một trong số các môi trường sau đây:
MT1 MT2 MT3 MT4 MT5
Khoai tây 200g 200g 200g
Đường kính 20g 5g
Glucose 20g 20g
Bột ngô 30g
Phân ủ hoai 100-150g 50g 50g
MgSO4 0,5g
KH2PO4 1,0g
CaCl2 0,1g
Fe2SO4 0,1g
CaSO4 1g
Thạch 20g 20g 20g 20g 20g
Nước 1000ml 1000ml 1000ml 1000ml 1000ml
Để sản xuất giống cấp 2 trong các chai thủy tinh miệng rộng có nút bông có
thể sử dụng một trong các môi trường sau đây:
1- Rơm rạ- 375kg; Cám gạo- 10kg; Phân gà khô-15kg; Vôi sống- 8kg; Ammon
sulphat- 10kg; Super phosphat- 5kg; Nước- đủ ẩm.
2- Rơm rạ- 350kg; Phân bò khô- 75kg; Vỏ hạt bông-65kg; Thạch cao-%kg; Super
phosphat- 5kg; Urê- 2,5kg; Nước đủ ẩm
Ngâm rơm, vỏ hạt bông trong 2-3 giờ. Lấy ra để cho ráo nước, ủ thành đống
trong 1-2 ngày. Phân bò, phân gà khô cần nghiền nát, sàng qua lưới sắt, thêm
đủ nước, ủ thành đống trong 1-2 ngày. Sau đó lấy ra ủ một tầng nguyên liệu
thô ( rơm rạ, vở hạt bông...), rồi đến một tầng phụ liệu ( phân khô và các
nguyên liệu khác). Xếp thành đống có mặt cắt ngang hình thang, Phủ bao tải
ẩm hay vải nhựa (nilon) lên trên. Chăn hai bên bằng gạch cho khỏi bay vì
gió. Để lên men trong ngày.
Đưa môi trường vào chai dung tích 750ml , có cổ chai đường kính 3cm; hoặc
các túi màng mỏng PE hay PP dài 33-35cm, dầy 0,04-0,05mm. Nén nguyên liệu đủ
chặt nhưng vẫn đảm bảo đủ xốp. Nếu là túi nhựa thì phải tạo ra cổ bằng luồn
đầu túi qua một đoạn ống nhựa cứng. Làm nút bông có độ chặt vừa phải. Đưa đi
hấp khử trùng bằng hơi nước sôi trong thời gian 7-8 giờ . Không dùng nồi hấp
áp lực vì nhiệt độ cao trên 100°C sẽ làm rách túi màng mỏng.
Đợi nguội lấy ra cấy giống từ ống giống cấp I ( mọc trên thạch nghiêng). cấy
xong đậy lại nút bông hay đậy bằng màng mỏng có đục thủng vài lỗ rồi bao lại
bằng giấy báo ra ngoài.
Giữ các bình hoặc túi đã cấy giống trên giá đặt trong phòng có nhiệt độ điều
chỉnh ở mức 23-27°C và có độ ẩm không khí 65-75. Khi sợi nấm đã mọc kín túi
thì ta dùng để cấy vào môi trường sản xuất (cấp III).
Các nguyên liệu dùng để nuôi trồng A. blazei gồm chủ yếu là rơm rạ, thân
cành lá ngô, đậu, mía... vỏ hạt bông, bã rượu, lõi ngô, khô dầu... Ngoài ra
là phân gia súc, gia cầm, phân đạm, phân lân, phân kali, MgSO4, thạch cao,
CaCO3, bột tiết. Tỷ lệ C : N nên là 33 : 1. Các nguyên liệu này cần ủ đống
để lên men tạo nhiệt. Nhiệt độ có thể lên tới 70 - 75°C. ở nhiệt độ này các
vi sinh vật (trừ bào tử của chúng). Các loại côn trùng, tuyến trùng cũng đều
chết hết. Các xạ khuẩn ưa nhiệt sẽ hoạt động mạnh mẽ ở nhiệt độ cao này, làm
phân huỷ các chất cao phân tử phức tạp này thành các đường phân tử thấp. Về
sau sợi nấm sẽ dùng các hợp chất phân tử thấp này để tổng hợp ra sinh khối
của chúng. ủ nguyên liệu là khâu đầu tiên rất quan trọng sau quá trình phối
trộn nguyên liệu.
Dùng rơm khô, chưa mủn, chưa mốc, không dùng rơm rạ lần bụi bậm do phơi trên
quốc lộ. Cứ 1 tấn rơm khô thì dùng 20kg vôi ướt. Hoà vôi vào nước tạo dung
dịch có máu trắng đục như nước vo gạo. Nhấn chìm rơm rạ trong 3 - 5 phút.
Rơm rạ chuyển sang màu vàng nhạt. Vớt ra để ráo 3 - 5 phút sau đó đưa vào
đống ủ.
Đưa rơm rạ này vào đống ủ, thường có kích thước 1 x 1,5 x 1,8m. Cứ xếp rơm
rạ lên cao độ 30 - 50cm thì ngừng lại để rắc lớp urê. Lại xếp tiếp một lớp
rơm rạ khác cao 30 - 50cm. Lại rắc tiếp urê sao cho đống ủ cao tới 1,5m. Cần
phân phối urê sao cho cứ 1 tấn rơm rạ khô chỉ dùng vừa hết 5kg urê. Khi rắc
lưu ý phần dưới rắc ít đạm urê, càng lên trên càng nhiều lần.
Nên ủ rơm trên nền bê tông, bên dưới có lót ni lông, không ủ trực tiếp trên
nền bê tông và cũng không ủ trên nền đất, nền gạch. ủ xong lấy ni lông phủ
kín cả đống ủ. Dùng dây thừng hoặc dây ni lông buộc chặt xung quanh đống ủ
có hình thang.
Sau 3 ngày rỡ ra. Lấy nguyên liệu phía trên ủ xuống dưới. Khi có độ dầy
30-50cm tiến hành rắc phân lân (nên dùng loại lân meng chảy mịn -
thermophotphat, của nhà máy phân lân Văn Điển), cũng làm lần lượt như trên
chỉ có thay đạm bằng lân, và đảo lớp rơm từ trên xuống dưới từ dưới lên
trên. Làm sao khi ủ hết rơm thì cũng vừa hết phân lân và vẫn theo nguyên tắc
khi rắc phân lân thì dưới rắc ít, trên rắc nhiều. Dùng hết 30kg phân lân
nung chảy cho 1 tấn rơm khô. Cũng đậy ni lông và buộc như lần 1. Sau 3 ngày
lại rỡ ra và làm lại như lần 2.
Lần 3 thay phân lân bằng bột nhẹ, tức là CaCO3. Cũng làm nhu trên, cách
30-50cm lại rắc bột nhẹ 1 lần, dưới rắc ít trên rắc nhiều. Sao cho rơm ở lớp
trên đảo xuống dưới, dưới đảo lên trên khi xếp rơm vào ủ lại. Cứ 1 tấn rơm
khô dùng hết 25kg bột nhẹ. Cũng phủ ni lông và buộc chặt lại như 2 lần trên.
Sau 3 ngày lại rỡ ra, kiểm tra độ ẩm, nếu cần thì bổ sung nước cho khỏi khô
quá, đảo tung đống rơm lên rồi ủ lại như các lần trước nhưng không bổ sung
thêm nguyên liệu gì nữa. ủ thêm 3 ngày là đủ. Tất cả cần ủ tổng cộng là 12
ngày. Khi đó rút một nắm nguyên liệu ở một góc nào đó, nắm vào bàn tay và
bóp lại, nếu thấy một vài giọt nước rỉ ra là tốt, khi thả thay ra thấy
nguyên liệu vẫn kết dính với nhau thành một nắm. Nếu thấy nước chảy ra nhiều
hơn thì cần hong phơi nguyên liệu 10 - 20 phút rồi kiểm tra lại độ ẩm theo
cách nói trên. Nếu không thấy nước rỉ ra kẽ ngón tay cần pha 5kg vôi ướt vào
100 lít nước sạch, sau đó thêm nước này dần dần vào nguyên liệu cho đến khi
nào kiểm tra độ ẩm thấy vừa đủ mới thôi. Tiếp tục đậy ni lông ủ thêm 3 ngày
nữa (thành ra 15 ngày cả thẩy).
Chú ý khi đảo đống ủ làm 4 cần giảm chiều dài và tăng thêm chiều cao cho
đống ủ.
Sau khi hoàn thành quá trình ủ rơm ta cho vào các ngăn của giá hay xếp ngay
trên nền nhà thành các luống ruộng 1m, chiều dài tuỳ ý (phụ thuộc vào kích
thước giá hoặc nền nhà). Chiều cao lớp nguyên liệu là 20 - 22cm. Nên dùng
tay cuốn rơm rạ lại thành từng bó phía trên có dang tròn, cao 2°Cm, đường
kính 10 - 15cm. Xếp theo chiều thẳng đính vào luống. Trước đó đã đặt bao tải
dứa lót phía bên dưới luống.
Nếu làm giá nhiều tầng thì tầng nọ phải cách tầng kia 50-60cm. Chiều cao
của giá không nên quá 2m để dễ chăm sóc. Dưới đáy từng tầng đều có lót bao
tải dứa.
Khi làm trên nền nhà, trước khi trải bao tải dứa nên rắc lên nền nhà một lớp
vôi bột khô.
Vào luống được 7 ngày thì dùng nhiệt kế cắm sâu khoảng 8 - 10cm, để 5 phút
lấy ra xem nhiệt độ. Nếu đạt 22 - 25°C là tốt. Nếu nhiệt độ là 25 - 28oC là
do xếp nguyên liệu quá chặt tay nên sinh nhiệt. Khi đó cần tháo bỏ bớt một
vài nắm nguyên liệu ra và xếp lại nguyên liệu từ trên quay đảo xuống dưới,
dưới quay lên trên. Sau 1 ngày mới cấy giống.
Nếu 7 ngày mà thấy nhiệt độ đạt yêu cầu thì bắt đầu cấy giống vào luống.
Dùng cào làm bằng thép với 3 - 5 răng, các răng dài 5cm, cách nhau 3cm, cán
dài hay ngắn tuỳ điều kiện cụ thể. Cào xới đều trên mặt luống theo từng m2
một. Cứ 1m chiều dài của luống thì dùng 1 túi giống đã có sợi nấm mọc trắng
hết (0,5kg). Chỉ cào theo một hướng (hoặc ngang hoặc dọc), không cào ngang
dọc lẫn lộn. Khi cào nếu có phần nguyên liệu mắc vào rãnh cào thì ta lấy ra
gom lại để sau dùng làm nguyên liệu phủ trên bề mặt luống. Thường làm giống
bằng thóc. Khi đó bóp giống tơi ra và rắc vào những đường rãnh cào trên bề
mặt luống. Phần giống nào mắc trên bề mặt thì dùng tay gạt xuống rãnh. Sau
cùng phủ một lớp mỏng nguyên liệu lên trên bề mặt luống, dày khoảng 1,0 -
1,5cm. Cấy giống xong dùng giấy báo hay giấy bao xi măng phủ kín toàn bộ bề
mặt luống. Dùng bình phun mù nước để làm ẩm trên khắp bề mặt lớp giấy phủ.
Tạo ẩm như vậy trong 15 ngày liền (không tạo ẩm vào ban đêm).
Đến ngày thứ 15 bỏ lớp giấy phủ trên mặt luống ra, lấy tay nhấc một nắm nhỏ
nguyên liệu ra thấy có sợi nấm trắng mọc toả lan đều trên nguyên liệu. Bắt
đầu đến giai đoạn phủ đất.
Lấy đất ruộng ở tầng canh tác, luyện thật kỹ như kiểu làm "pháo đất". Lăn
tròn rồi khoanh lại như chiếc vòng lớn và để nơi râm mát trong 12 giờ. Nếu
thấy vòng đất bị đứt ra từng đoạn là đất lẫn cát, không dùng được. Nếu đất
rạn châm chim là dùng được. Thử được đất tốt mới khai thác để về dùng. Cứ 1
tấn nguyên liệu cần chuẩn bị 500kg đất.
Tải mỏng đất ra phơi trên sân. Dùng dung dịch Formol 0,05% để phun vào đất
nhằm khử trùng đất. Phơi đất 15 ngày, trời mưa thì đậy che, khi nắng lại mở
ra phơi.
Rắc đất đã bỏ ra thành từng hạt, từng viên to bằng khoảng hạt ngô phủ lên
khắp bề mặt của luống. Độ dày lớp đất phủ khoảng 1,0 - 1,5cm. Tuyệt đối
không dùng đất vụn, đất bột hoặc các cục đất quá lớn. Phủ đất xong phun mù
nước (phun sương bằng bình bơm thuốc sâu chưa đựng thuốc sâu), cứ 2 giớ phun
mù một lần, phun liên tục trong 3 ngày đầu (chỉ phun ban ngày). Lấy thử một
viên đất bẻ ra để quan sát. Nếu thấy có màu nâu từ ngoài vào trong là đất đã
đạt đủ độ ẩm. Nếu ở giữa viên đất có màu trắng đục là chưa đủ độ ẩm. Khi đó
phải phun thêm 1 ngày nữa rồi lại kiểm tra độ ẩm lại theo cách này.
Sau 2 ngày tạo ẩm ta bắt đầu phun tưới cho các luống. Nếu trời hanh khô mỗi
ngày phun không quá 4 lần, nếu trời ẩm ướt chỉ phun 1 lần vào lúc chiều tối.
Khi phát hiện thấy quả thể nấm bắt đầu xuất hiện lấm tấm như hạt đỗ hạt ngô
màu trắng thì phải tăng thêm số lần phun tưới. Dùng bình phun, quay ngửa vòi
phun để phun mù. Phun nhiều lần trong một đợt tưới. Trời hanh khô phun
nhiều, nhưng không quá 6 lần. Trời mưa ẩm, thì không nên phun. Từ lúc nấm
xuất hiện đến khi thu hái được quả thể là khoảng 72 giờ.
Khi cân nấm đã mọc lên được 2 - 3cm kể từ mặt đất thì cần thu hái. Cần chọn
quả thể nào to hái trước. Một tay giữ phần đất sát chân nấm, một tay đặt vào
chân nấm nhổ thẳng lên cho ra cả phần rễ. Dùng dao sắc cắt bỏ phần rễ của
từng quả thể sau đó mới cho nấm vào rổ. Hái nấm xong nếu thấy bề mặt luống
có chỗ nào bị lõm xuống thì phải dùng đất dự trữ bổ sung vào. Sau khi hái
mỗi đợt phải phun nước ngay để giữ ẩm.
Nếu không bán nấm tươi thì cần cắt rồi sấy hoặc tiến hành muối nấm trong các
can nhựa.
Các phòng nuôi trồng nấm A.blazei cần sạch và kín, càng tối càng tốt. Không
nên mở cửa ra vào nhiều. Tuy nhiên phải có hệ thống thông gió.
Sau mỗi đợt nuôi trồng nấm cần dừng lại 5 ngày để làm vệ sinh và khử trùng
phòng nuôi trồng. Dùng vôi bột rắc toàn bộ nhà xưởng (5kg vôi bột/100m2) sau
đó dùng Formol nồng độ 0,05% để phun. Đốt để xông khói trong thời gian là 5
giờ. Sau 5 ngày mới trồng tiếp. Mỗi năm nên để 3 tháng trái vụ không trồng
nấm để khử trùng nhà xưởng.
Trên đây chỉ là một công thức phối trộn dùng rơm rạ và phân khoáng, bột nhẹ.
Môi trường sản xuất còn có thể được ủ theo một trong các công thức khác sau
đây:
1. Phân gia súc khô (lợn, trâu, bò) 55%
Rơm rạ khô 40%
Khô dầu 2 - 3%
Thạch cao 1%
Supe lân 0,5%
Nước Khoảng 160%
2. Rơm rạ 1000kg
Bột tiết 40kg
Phân ngựa 100kg
Urê 10kg
Supe lân 40kg
CaCO3 20kg
Đất phủ 500kg
Nước khoảng 2500 lít
3. Phân ngựa 1000kg
Phân gà 100kg
Thạch cao 25kg
Nước 200 - 800 lít
4. Phân gà (40% độ ẩm) 800kg
Rơm rạ khô 1000kg
Thạch cao 75kg
Nước 5000 lít
5. Rơm rạ 1000kg
Phân gà 100kg
Thạch cao 10 - 20kg
Nước Tạo đủ độ ẩm 65%
Dựa vào các công thức nói trên, căn cứ vào các nguyên liệu sẵn có ở từng địa
phương người trồng nấm Agaricus blazei có thể tự xây dựng ra các công thức
phối trộn để thử nghiệm.
Tài liệu tham khảo:
1. Antitumor effect of a peptide-glucan preparation extracted from
Agaricus blazei in a double-grafted tumor system in mice.
Ebina T, Fujimiya Y. Division of Immunology, Miyagi Cancer Center Research
Institute, Natori, Miyagi, Japan.
Biotherapy 1998;11(4):259-65
2. Selective tumoricidal effect of soluble proteoglucan extracted from the
basidiomycete, Agaricus blazei Murill, mediated via natural killer cell
activation and apoptosis.
Fujimiya Y, Suzuki Y, Oshiman K, Kobori H, Moriguchi K, Nakashima H,
Matumoto Y, Takahara S, Ebina T, Katakura R. Division of Immunology, Miyagi
Cancer Center Research Institute, Natori, Japan.
Cancer Immunol Immunother 1998 May;46(3):147-59
3. Anti-tumor polysaccharide from the mycelium of liquid-cultured Agaricus
blazei mill.
Mizuno M, Minato K, Ito H, Kawade M, Terai H, Tsuchida H. Graduate School of
Science and Technology, Kobe University, Japan.
Biochem Mol Biol Int 1999 Apr;47(4):707-14
4. Tumor-specific cytocidal and immunopotentiating effects of relatively low
molecular weight products derived from the basidiomycete, Agaricus blazei
Murill.
Fujimiya Y, Suzuki Y, Katakura R, Ebina T. Division of Immunology, Miyagi
Cancer Center Research Institute, Natori, Japan.
Anticancer Res 1999 Jan-Feb;19(1A):113-8
5. Polysaccharides from Agaricus blazei stimulate lymphocyte T-cell subsets
in mice.
Mizuno M, Morimoto M, Minato K, Tsuchida H. Division of Science of
Biological Resources, Graduate School of Science and Technology, Kobe
University, Japan.
Biosci Biotechnol Biochem 1998 Mar;62(3):434-7
6. [A stable culturing method and pharmacological effects of the Agaricus
blazei].
[Article in Japanese]
Higaki M, Eguchi F, Watanabe Y. Lab. of Forest Products Chemistry, Tokyo
University of Agriculture, Japan.
Nippon Yakurigaku Zasshi 1997 Oct;110 Suppl 1:98P-103P
7. Antitumor effects of a new polysaccharide-protein complex (ATOM) prepared
from Agaricus blazei (Iwade strain 101) "Himematsutake" and its mechanisms
in tumor-bearing mice.
Ito H, Shimura K, Itoh H, Kawade M. Department of Pharmacology, Mie
University School of Medicine, Japan.
Anticancer Res 1997 Jan-Feb;17(1A):277-84
8. Inhibitory action of a (1-->6)-beta-D-glucan-protein complex (F III-2-b)
isolated from Agaricus blazei Murill ("himematsutake") on Meth A
fibrosarcoma-bearing mice and its antitumor mechanism.
Itoh H, Ito H, Amano H, Noda H. Laboratory of Marine Biochemistry, Faculty
of Bioresources, Mie University, Japan.
Jpn J Pharmacol 1994 Oct;66(2):265-71
9. [Antimutagenic and bactericidal substances in the fruit body of a
Basidiomycete Agaricus blazei, Jun-17].
[Article in Japanese]
Osaki Y, Kato T, Yamamoto K, Okubo J, Miyazaki T. Tokyo College of Pharmacy,
Japan.
Yakugaku Zasshi 1994 May;114(5):342-50
10. Illustration for China popular edible mushroom
Vân Nam Xuất bản xã, 1999
11. Cơ Thông Nhung tài bồi kỹ thuật đồ thuyết
Hà Bắc Khoa học Kỹ thuật Xuất bản xã, 2003
12. Trung Quốc dược dụng khuẩn sinh sản dự sản phẩm khai phát
TrungQuốc nông nghiệp xuất bản xã, 2000
©
http://vietsciences.org
và
http://vietsciences.free.fr
-Nguyễn Lân Dũng, Dương Văn Hợp, Phạm Thế Hải |