
Abdus Salam và ICTP
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn
(Cao Bá Quát)
Ðối với người ngoại cuộc đặc biệt ở các nước Tây Âu và
Bắc Mĩ, tuy đã lâu lắm rồi nhưng càng ngày những tin tức, phóng sự bên Trung
và Cận Ðông càng làm cho hình ảnh phiến diện của cộng đồng những tín đồ theo
đạo Hồi bị gán nhiều nhãn hiệu không mấy tốt đẹp! Con sâu làm rầu nồi canh,
nhưng hỏi có tôn giáo nào trong chuỗi dài lịch sử mà chẳng có sâu? Dẫu rằng
‘sâu’ đôi khi cũng chỉ là những nhận thức chủ quan và cảm tính của người
bàng quan, làm sao em biết bia đá không
đau?
Bài viết tản mạn này mong chia sẻ với bạn đọc một cái
nhìn khang khác để cùng nhau suy ngẫm về thế sự thăng trầm, qua một nhân vật
phi thường giáo sư Abdus Salam (1926-1996) người Pakistan duy nhất cho đến
nay có giải thưởng Nobel Vật lý. Biết bao nhà khoa học và sinh viên ở Việt
Nam cũng như ở nhiều quốc gia đang phát triển, thuộc các lứa tuổi khác nhau
đã và đang trực hay gián tiếp ít nhiều chịu ơn ông qua ICTP
1, trung tâm quốc tế về vật lý lý thuyết thuộc UNESCO do
ông sáng lập. Không chút ngại ngần bận quốc phục với khăn áo xanh và đôi hia
đỏ, lạ lùng giữa ngàn người mang âu phục đen trong buổi lễ trao giải Nobel
tháng chạp năm 1979, bài diễn văn của Salam gợi cho ta nỗi niềm mang mác vui
buồn của bao người mê say khoa học ở những quốc gia chậm phát triển bên Á,
Phi, Nam Mĩ. Câu chuyện cũng không khỏi liên quan đến vấn đề chảy chất xám,
giáo dục nói chung và đại học chất lượng cao nói riêng ở nước ta, một đề tài
nóng bỏng.
Ðể mở đầu, mời bạn đọc mường tượng cậu học sinh tài ba
Abdus năm 14 tuổi tốt nghiệp thủ khoa trung học toàn vùng Punjab, khiến cả
tỉnh Jhang hãnh diện ào ra đường đón chào cậu nhỏ trở về quê. Vài năm sau đó
Salam được học bổng rời xóm làng đi tàu biển ròng rã cả tháng để sang Anh
tiếp tục lớp cao học và tiến sĩ về toán lý tại Cambridge, một trong vài đại
học hàng đầu thế giới với mấy chục giải Nobel. Ở thời điểm bấy giờ cách đây
khoảng 60 năm, toàn cầu vừa ra khỏi đệ nhị thế chiến, hầu hết các nước chung
quanh Pakistan trong đó có nước mình vừa thoát cảnh nô lệ Anh hoặc Pháp, nền
giáo dục trung và tiểu học còn phôi thai, đừng nói chi đến đại học lấy đâu
ra người thầy bản sứ. Vì thế việc nhà nước vừa giành được độc lập gửi sinh
viên năng khiếu ra ngoại quốc học hỏi để sau đó trở về cố hương xây dựng là
chuyện tất nhiên. Bên bờ sông Cam êm đềm của trường đại học uy tín gắn liền
với những tên tuổi đời đời lừng danh như , Darwin, Maxwell, Dirac
2, chàng thanh niên Abdus Salam của xứ thuộc địa Pakistan
không khỏi suy tư đến thời đại vàng son của khoa học mang dấu ấn đạo Hồi ở
các xứ Ả Rập, Ba Tư, Afghanistan.
 |
 |
 |
 |
Isaac Newton |
Paul Dirac |
Charles
Darwin |
James Clerk
Maxwell |
Thực thế, trong khoảng thời gian kéo dài 350 năm
(750-1100), ở những vùng đó có nhiều bậc thầy uyên thâm, xuyên ngành và phổ
quát như Jabir, Al-Battani, Omar Khayam, Ibn Sina (Avicenne), Ibn Rushd
(Averroes)
3 đã từng soi sáng tri thức toàn cầu từ thiên văn đến
triết học qua toán, cơ, lý, hoá, y, dược. Trong chuyến thăm viếng những
trung tâm văn hóa khoa học vang bóng một thời ở vùng Andalucia miền nam Tây
Ban Nha từ Toledo, Cordoba qua Granada, cậu Abdus ngậm ngùi ngắm nhìn bức
tranh
4 miêu tả giây phút vị vua cuối cùng Hồi giáo Boabdil năm
1492 mắt rưng rưng lệ, dâng hiến lâu đài Alhambra lộng lẫy cho nữ hoàng Công
giáo Isabella để trở về sống kiếp lưu đầy bên kia bờ Ðịa Trung Hải, giã biệt
mãi mãi xứ sở người Moro mà hơn bảy trăm năm trước (711) tổ tiên đến từ Bắc
Phi đã xây dựng nên. Cái ấn tượng thăng trầm trong lịch sử của các nền văn
hiến và của khoa học nói riêng đã đeo đuổi hoài Abdus Salam. Với tầm nhìn xa
trông rộng, ngay từ lúc đó ông bắt đầu suy nghĩ tìm phương cách để giúp các
đồng nghiệp ở những nước kém phát triển có phương tiện liên tục học hỏi,
nghiên cứu, sáng tạo hầu lấp dần cái hố xa cách khoa học kỹ thuật giữa hai
bán cầu Tây và Ðông, Bắc và Nam. Trong bài phát biểu ở Stockholm năm ấy, ông
nhắc nhở mọi người rằng sự tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên cũng như
những sáng tạo trong khoa học là di sản chung của loài người, nhiều dân tộc
đã trải qua những chu kỳ phát triển, lúc thịnh lúc suy.
Ta hãy theo Salam ngược dòng thời gian lùi về năm 1217,
thủa ấy ở xứ Scotland phía bắc nước Anh kém mở mang, dân chúng chỉ biết chăn
cừu, dệt len có chàng thanh niên Michael hiếu học rời quê hương lặn lội
xuống miền nam tìm đến thụ giáo nhà học giả Do Thái Moses bin Maimoun đang
giảng dạy tại hai trường đại học Ả Rập nổi tiếng hàng đầu thế giới ở Toledo
và Cordoba phồn vinh. Nhưng trước đó cả ngàn năm, còn có một kho tàng tri
thức tuyệt vời khác đã rọi sáng nhân loại với những bậc thầy kì diệu người
Hy Lạp từ Pythagore (định lý về tam giác vuông góc), Socrates, Plato,
Aristotle, Euclide (hình học phẳng), Archimedes, đến Ptolemy. Trải qua những
cuộc bể dâu, nền văn hóa rực rỡ ấy đã bị lãng quên, hầu như chẳng còn ai kể
cả Michael biết đến ngôn ngữ của Homer nữa. Phải chờ đến thời đại vàng son
của triết học, khoa học bên Trung, Cận Ðông từ thế kỉ thứ bảy kéo dài vài
trăm năm 3
, tủ sách tinh hoa Hy Lạp nằm trong quên lãng cả mươi thế kỉ mới được chuyển
ngữ sang tiếng Ả Rập. Năm 1231, sau khi dịch các công trình của Aristotle từ
Ả rập sang Latin để góp phần khai sáng các dân tộc Âu châu còn đang mê mẩn
trong bóng tối thần quyền, Michael bèn đến Salerno và gặp Henrik
Harpestraeng - một người thầy thuốc riêng của vua Ðan mạch- đang ở đó học
hỏi về truyền máu và giải phẫu. Thủa ấy bộ sách kinh điển về ngành này là
của Avicenna mà chỉ Michael mới biết ngôn ngữ để dịch giùm cho Henrik cùng
chung cảnh ngộ đến từ những nuớc chậm mở mang. Toledo và Salerno thời xa
vắng ấy là hai trung tâm văn hóa chói lọi, biết bao học giả từ các xứ Ðông,
Nam giầu mạnh văn minh như Syria, Ai Cập, Ba Tư, Irak - dưới chân tháp Babel
huyền thoại - đến để trao đổi kiến thức, nhưng cũng còn vài trường hợp hiếm
hoi như Michael hay Harpestraeng từ những miền Tây, Bắc nghèo nàn vì cầu
tiến mà tìm đến để học hỏi. Ðó là sơ đồ một trung tâm cộng tác quốc tế thời
Trung cổ giữa hai nền văn hóa trình độ khá chênh lệch. Bảy trăm năm sau, chu
kì thịnh suy đã đi hết một vòng, Michael anh chàng Scottish giờ đây là chúng
tôi, Salam nói, những người của thế giới Ðông và Nam kém phát triển đang đi
về phương Tây và Bắc để học hỏi. Tìm kiếm chân lí, trau dồi kiến thức là
khát vọng hướng thượng chung của con người bất kì từ đâu đến, và sông kia
giờ đã nên đồng, đại học Toledo, Salerno uy tín thời ấy nay đã trở thành
Cambridge, Imperial College danh tiếng thời nay!

The Capitulation of Granada, tranh Francisco Pradilla y Ortiz
Abdus Salam, vài nét về con người và sự nghiệp.
Trước hết đôi dòng về những công trình kinh điển và đồ
sộ của ông về Vật lý lý thuyết hạt cơ bản mà giải Nobel trọng thưởng. Trong
Vật lý như ta biết cho đến nay chỉ có bốn
định luật cơ bản điều hành các hiện tượng thiên nhiên, đó là vạn vật
hấp dẫn, điện-từ, tương tác yếu và tương tác mạnh trong các hạt nhân nguyên
tử. Luật hấp dẫn được Newton phát hiện - và sau này thay thế bởi thuyết
tương đối rộng của Einstein - diễn tả các vật thể mang khối lượng tạo ra một
trọng lực (hay trọng trường) để hút chúng lại gần nhau. Hiện tượng điện và
từ mà sự biểu hiện cụ thể như làn sét trong cơn giông tố (điện) hay thanh
nam châm hút sắt (từ) thì con người đã trải nghiệm nó lâu lắm rồi, nhưng
phải đợi đến cuối thế kỷ mười chín với Ampère, Oersted, Faraday và nhất là
Maxwell thì cái nền tảng cơ bản tổng hợp giữa điện và từ (mang tên gọi là
điện-từ) mới được xây dựng, theo đó từ trường di chuyển tạo ra điện,
ngược lại điện cũng sinh ra từ trường, và hơn nữa ánh sáng chỉ là sóng của
điện-từ trường. Bổ túc bởi vật lý lượng tử của thế kỷ hai mươi với trường
quang tử (photon), điện-từ có tên mới là
điện động học lượng tử. Thấu triệt cơ chế vận hành của hai trường cơ
bản là điện tử (electron) và quang tử (photon) rồi sau đó chế ngự, điều
khiển được chúng, con người đã đưa công kỹ nghệ thông truyền tin đến những
thành tựu kì diệu ngày nay.
 |
 |
 |
 |
Ampère |
Faraday |
Steven Weinberg |
Glashow |

Oersted
Luật hấp dẫn và điện-từ tác động ở khắp cả hai thế giới
vi mô và vĩ mô, trong khi đó tương tác yếu chỉ vận hành ở thế giới vi mô,
đặc biệt hạt neutrino (khối lượng nhỏ muôn vàn, gần như không) chỉ có tương
tác yếu mà thôi. Sự phân rã bêta (neutron phân rã ra proton + electron +
neutrino) trong các hạt nhân nguyên tử là một biểu hiện điển hình của tương
tác yếu. Nên biết thêm là thuật ngữ yếu
thoạt nghe tưởng yếu mềm ít tác động, nhưng thực ra nó chủ chốt điều hành
các phản ứng nhiệt hạch trong các thiên thể. Mặt trời cho ta ánh sáng chỉ vì
phản ứng nhiệt hạch tung hoành ở trong trung tâm nó, và mỗi giây đồng hồ
trên một phân vuông của làn da chúng ta có gần trăm tỷ hạt neutrino từ Mặt
trời bay đến! Chỉ vì cường độ của tương tác yếu quá nhỏ so với cường độ của
điện-từ nên với từng ấy neutrino rọi vào mà sinh vật trên trái đất này vẫn
điềm nhiên sinh sôi nẩy nở. Abdus Salam, người Hồi giáo, cùng với hai người
Mỹ gốc Do Thái, Sheldon Glashow và Steven Weinberg đã phát hiện ra là mặc
dầu hai định luật cơ bản điện-từ và
yếu có cường độ tương tác quá khác
biệt nhưng thực ra chúng mang rất nhiều đặc tính chung và hơn nữa có thể hòa
hợp trong một tương tác duy nhất mà Salam đặt cho cái tên là
điện-yếu. Sở dĩ có sự khác biệt giữa
hai cường độ là vì khối lượng của hạt photon (tượng trưng cho điện-từ, xin
nhớ electron trao đổi photon) bằng không mà khối lượng của hạt Z (tượng
trưng cho phân rã yếu, xin nhớ neutrino trao đổi Z) thì lại quá lớn. Thuyết
điện-yếu tiên đoán được khối lượng
cùng các đặc tính của hạt Z và sau đó thực nghiệm kiểm chứng với độ chính
xác tuyệt vời. Sự thống nhất hai hiện tượng thiên nhiên
điện-từ và
yếu thành một luật chung là cả một
cuộc cách mạng trong Vật lý ở cuối thế kỷ 20, tầm quan trọng của nó có thể
ví như sự tổng hợp giữa ba hiện tượng điện,
từ và
quang ở thế kỷ 19 với Maxwell. Lý
thuyết tổng hợp điện-yếu của đồng tác giả Glashow, Salam, Weinberg từ nay
còn mang tên gọi là Mô Hình Chuẩn
5 mà giải Nobel trọng thưởng năm 1979.
Nhưng sự nghiệp Salam không dừng lại ở giải Nobel. Trở
lại thủa ban đầu mới có hai mươi lăm tuổi đã trình xong luận án tiến sĩ về
lý thuyết trường lượng tử ở đại học Cambridge, Salam ngay lập tức được mọi
người trong ngành trân trọng đánh giá rất cao, và tìm một chức vụ giảng dạy
nghiên cứu trong những đại học uy tín ở Âu Mĩ là chuyện thường tình, nếu ông
muốn. Nhưng Salam, trung thành với lời hứa khi du học, đã quyết định trở về
đóng góp cho nền khoa học phôi thai của đất nước vừa giành được độc lập.
Nhưng chỉ ít lâu sau ông nhận ra môi trường hoạt động ở những nước kém mở
mang (trong đó có nước ông) không cho phép những người mê say nghiên cứu
khoa học nghiêm túc làm việc có hiệu quả, và hiện tượng chảy chất xám không
sao tránh nổi. Mang trong lòng một ý nguyện cao cả giúp đời (bạn đọc sẽ đoán
ra), ông bèn quay trở lại đại học Cambridge và dĩ nhiên được
giang tay đón
mời giữ chức giảng viên rồi đổi sang giáo sư thực thụ ở Imperial College,
đại học danh tiếng nhất của thủ đô London, để vài năm sau đó mới ba mươi ba
tuổi đuợc bầu vào Hàn Lâm viện Hoàng Gia Anh Quốc, viện sĩ vừa trẻ nhất bấy
giờ vừa là người ngoại quốc! Cũng thêm một dấu ngoặc trong công trình khoa
học của ông, khoảng năm 1957 khi hai nhà vật lý Trung Quốc Dương Chấn Ninh
và Lý Trung Ðạo làm việc ở Mĩ đoạt giải Nobel vì khám phá ra sự vi phạm
’’đối xứng gương’’ trong tương tác yếu, thì đồng thời Salam - bằng một cách
tiếp cận rất độc đáo liên quan đến hạt neutrino không có khối lượng - cũng
góp phần quyết định vào sự tìm hiểu cái vi phạm này.
Danh tiếng lại càng nổi bật, ngay từ năm 1957 đã nhiều
lần được đề nghị giải Nobel vì chuyện này (trước
Mô Hình Chuẩn Nobel 1979), thành
viên danh dự của rất nhiều hàn lâm viện và đại học hàng đầu, ông dùng uy tín
mình để dần dần thực hiện ý nguyện cao cả, làm một bước ngoặt mang ý nghĩa
lịch sử. Ðó là tìm phương cách chống đỡ nạn xuất cảng chất xám, giúp cho
những nhà khoa học nghiêm túc của các nước chưa phát triển tránh khỏi cảnh
tiến thoái lưỡng nan, ở hay về ? Vô hình trung trở thành phát ngôn viên tiêu
biểu của thế giới thứ ba kém mở mang về khoa học, ông đi chu du khắp đó đây,
gặp gỡ thuyết phục các chính khách, ngoại giao, văn hóa, khoa học ở UNESCO,
IAEA 6
và các mạnh thường quân ở những nước giầu mạnh để gây ngân quỹ khổng lồ,
thành lập năm 1964 ở thành phố Trieste bên bờ biển Adriatic một trung tâm
lớn quốc tế về khoa học tự nhiên ICTP
1, nơi giao lưu thường trực của những nhà khoa học ở hai
bán cầu Ðông-Nam với Tây-Bắc. Lúc đầu giới hạn trong lãnh vực Vật lý lý
thuyết sau lan rộng sang Toán
7, Cơ, Tin
Học, Sinh-Hoá, Khoa học ứng dụng, Toán áp dụng cho Tài chính. Mục tiêu là để
những nhà khoa học ở các nước đang mở mang bên Á, Phi, Nam Mĩ khi được đào
tạo xong ở các nước tiên tiến trở về cố hương phục vụ, sau đó sẽ được cung
cấp phương tiện thường xuyên thăm viếng một môi trường thuận lợi trong một
thời gian dài ngắn khác nhau để tiếp xúc, trao đổi với đồng nghiệp ở các
nước phát triển, tiếp tục nghiên cứu, trưởng thành, cập nhật, cải tiến kiến
thức chuyên môn. Sống cuộc đời tư đạm bạc, không giữ cho mình một xu, tất cả
tiền thưởng của giải Nobel, Salam tặng lại cho ICTP để giúp đỡ các đồng
nghiệp thiếu thốn ở các nước chưa phát triển, sức làm việc của ông là cả một
huyền thoại, văn phòng đêm đêm rất trễ còn thấy ánh đèn.
Cho đến nay có hơn một trăm ngàn nhà khoa học ở 122 nước,
trong đó có Việt Nam, đến ICTP làm việc. Trung bình hàng năm khoảng sáu ngàn
chuyên gia cao cấp của nhiều ngành khoa học ở khắp thế giới (phát triển và
chưa phát triển, xấp xỉ mỗi bên một nửa) đến thảo luận, trao đổi, học hỏi.
Hội nghị quốc tế, seminar, lớp cao cấp chuyên hay đa ngành là những sinh
hoạt thường xuyên của ICTP. Ngoài ra ICTP còn mở rộng thêm một hệ đào tạo
sau cử nhân với Sissa (Scuola Inter. Sup. Studi Avanzati), cấp học bổng để
giúp các sinh viên ở những nước đang phát triển sang Trieste theo lớp cao
học. Các thầy của Sissa phần lớn là giáo sư thỉnh giảng, biệt phái một thời
gian từ các Ðại Học danh tiếng Âu Mĩ, đến giảng dạy và sau kỳ thi sát hạch
cuối năm tuyển chọn các sinh viên tài năng để mang về đại học mình làm luận
án tiến sĩ, rồi sau đó còn tùy. Từ nhiều năm qua, riêng Việt Nam thường
xuyên có hàng chục nhà khoa học ở các Ðại học hay Viện Khoa Học và Công Nghệ
đến làm việc vài ba tháng ở ICTP để cải tiến, trao đổi, học hỏi, cập nhật
kiến thức chuyên môn, không kể nhiều sinh viên cũng theo con đường Sissa để
đi xa hơn nữa bên Âu Mĩ. Ðặc biệt sau năm 1975, khi Việt Nam bị và tự khép
kín với thế giới (trừ Ðông Âu ra), ICTP hầu như là cơ quan duy nhất để các
nhà giáo đại học và nghiên cứu sinh trong nước có cơ hội ra ngoài tiếp xúc
với xã hội tiên tiến, cởi mở. Khi Salam mất, thay thế ông làm giám đốc ICTP
là Miguel Virasoro người Argentina gốc Do Thái, rồi Katepalli Sreenivasan
người Ấn Ðộ, chi tiết này mang ít nhiều ý nghĩa.
Biết bao nhà khoa học của một số nước như Argentina, Ðại
Hàn, Ấn Ðộ, Trung Quốc, Ðài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ đã qua Trieste làm việc và từ
tình trạng kém mở mang, một vài xứ đã nhảy vọt ngoạn mục. Theo gương Salam,
đặc biệt mấy nước ở Ðông Á mới lập ra ở Pohang (Ðại Hàn) một trung tâm
nghiên cứu khoa học vừa cơ bản vừa ứng dụng mang tên Asian Pacific Center
for Theoretical Physics (APCTP) với Dương Chấn Ninh (Nobel 1957) làm chủ
tịch danh dự lúc đầu.
Ðến đây người viết không khỏi liên tuởng đến buổi truyền
hình trực tiếp đêm hòa tấu vì hòa bình Israel-Palestine với dàn nhạc giao
hưởng West-Eastern Divan tại thành phố Ramallah đầy tang tóc. Nhạc sĩ phần
lớn đến từ vùng Andalucia mà Salam từng thăm viếng lúc mới sang Âu Châu du
học. Trình diễn xong bản Sinfonia concertante của Mozart và
Symphony số năm
của Beethoven, nhạc trưởng tài ba Daniel Barenboim người Do Thái bùi ngùi
ngỏ vài lời tưởng niệm cố nhân Edward Said, một nhà tư tưởng lớn người
Palestine giáo sư Văn Học Sử của Ðại Học Columbia. Hai vị dự tính cùng nhau
hoà nhịp dương cầm ở Ramallah góp phần thức tỉnh lương tâm, thiện chí, kêu
gọi hòa bình giữa hai dân tộc, nhưng tiếc thay Said ra đi hơi đột ngột. Vui
biết mấy khi Khoa Học và Âm Nhạc, Do Thái với Hồi, Ấn Ðộ với Pakistan tay
trong tay cùng thế giới đại đồng vươn lên tìm cái Thực và cái Ðẹp. Con người
nhìn xa thấy rộng Abdus ở trên cao chắc hẳn cũng mỉm cười, mà duyên tiền
định hay sao tiếng Ả Rập Salam là Hòa bình!
Mời bạn đọc thưởng thức
Recuerdos de la Alhambra của Francisco Tarrega :
http://www.youtube.com/watch?v=S1C2Euf3u5s&mode=related&search=
Xin cám ơn anh bạn Vũ Ngọc Quỳnh đã gợi ý cho
kèm bản nhạc này vào bài viết.
Chú thích
1
The Abdus Salam
International Centre for Theoretical Physics (http://www.ictp/it/).
2
Isaac Newton
(1643-1727), nhà bác học vạn năng đã đặt nền móng cho cơ học, quang học,
luật vạn vật hấp dẫn cho vật lý. Sau triết gia Ðức Gottfried Leibniz, ông
cũng là người đã sáng tạo ra phép tính vi tích phân cho toán học. Mời bạn
đọc câu thơ của Alexander Pope: Nature and
nature's laws lay hid in night, God said "Let Newton be" and all was light !
Charles Darwin (1809-1882), nhà vạn vật học với thuyết thanh lọc và
tiến hóa tự nhiên của các sinh vật, trong đó loài người cũng không là ngoại
lệ.
James
Maxwell (1831-1879), nhà vật lý đã tổng hợp các hiện tượng dao động
của điện và từ trường, hơn nữa ông phát hiện ra ánh sáng là sóng điện từ.
Paul
Adrien Maurice Dirac (1902-1984), người kết hợp cơ học lượng tử với
thuyết tương đối hẹp, đã tiên đoán sự hiện hữu của phản vật chất mà hạt
positron (phản electron) là một thí dụ. Ưng dụng gần đây nhất của positron
là máy chụp hình cơ thể PET (positron emission tomography) trong y học. Ông
cũng là người đầu tiên sáng tạo ra spinor (một đối tượng hình học, trung
gian giữa vô hướng (scalar) và vectơ) và hàm ‘kỳ dị’ δ(x) mà sau này theo
thứ tự hai nhà toán học hàng đầu người Pháp Elie Cartan và Laurent Schwartz
triển khai.
3
Jabir Ibn Haiyan
(cuối thế kỷ thứ 8) người cha của hóa học và cũng là một danh y, công trình
của ông được dịch sang chữ Latin mở đường cho ngành hóa học sau này ở Châu
Âu.
Jabir
Ibn Aflah (khoảng 1100) nhà thiên văn và toán học đã khai sinh ra các
hàm lượng giác sinus, cosinus.
Al-Batanni (mất năm 929) toán học, thiên văn, ông định rõ một năm có
365 ngày, 5 giờ, 46 phút, 24 giây, hiệu đính lại lịch trình các nhật thực và
nguyệt thực của Ptolemy, công trình của ông được Copernicus sau này dùng và
cảm tạ.
Omar
Khayam (1048-1123) nhà thiên văn, đại số học (người đầu tiên giải
phương trình bậc ba của các hình conic), thi sĩ đắm say tiên tửu như Lý Bạch
đời Ðường vài trăm năm trước !
Avicenne (980-1037) bậc danh y không ai bì kịp thời Trung cổ, bộ sách
đồ sộ của ông về chữa trị bệnh tật được đánh giá như một kho tàng chuẩn tắc
về y học.
Averroes (1126-1198) nhà toán học kiêm thầy thuốc được biết đến nhiều
như một người bình giải sâu sắc về các công trình (do ông dịch thuật) của
nhà triết học vạn năng Aristotle.
4
The Capitulation of Granada, by Francisco Pradilla y Ortiz: Boabdil
confronts Ferdinand and Isabella. 1882 :
http://es.wikipedia.org/wiki/Imagen:Reconquista-rendicion-granada.jpg#filehistory
5 Nói
theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn trong cuốn sách ‘’Cấu trúc của những cuộc cách
mạng trong khoa học’’, mô hình chuẩn
(the standard model) là một mẫu hình
(paradigm), một nền tảng trên đó những khám phá mới sẽ chỉ bổ xung vào,
nhưng không bác bỏ. Mai sau khi nào có một khám phá đưa mô hình chuẩn đến
mâu thuẫn, không sao giải thích nổi thì một mẫu hình mới sẽ ra đời, bao gồm
mô hình chuẩn như một trường hợp đặc biệt. Cũng như cơ học cổ điển của
Newton là mẫu hình kéo dài hơn hai trăm năm cho đến khi thuyết tương đối hẹp
ra đời với Einstein, Lorentz, Poincaré; và cơ học cổ điển Newton chỉ là một
trường hợp đặc biệt (của những hệ thống chuyển động với vận tốc nhỏ so với
vận tốc ánh sáng) của cơ học tương đối tính.
6 International Atomic Energy Agency
(cơ quan nguyên tử năng quốc tế) trụ sở ở Wien (Áo).
7
Giáo Sư Lê Dũng Tráng hiện đang chủ
trì viện Toán của ICTP.
Đã đăng trên Diễn Đàn Forum (Có bổ sung cho Vietsciences)
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Phạm Xuân Yêm