Video
Đừng lo về những khó khăn về toán
của bạn; tôi có thể khẳng định với bạn rằng những
khó khăn của tôi còn lớn hơn.
1
Einstein, được ví như “bộ óc
thế kỷ”, cho rằng mình không thông minh hơn
người thường và rằng thông minh không phải
là yếu tố quyết định cho thành công. Mà sự
tò mò thiêng liêng (die heilige Neugier) mới
là yếu tố quyết định. Einstein đương thời
nói: “Tôi không có sự thông minh đặc biệt
nào, tôi chỉ tò mò một cách đam mê” và “Quan
trọng là người ta không ngừng hỏi”. Chúng ta
hãy nghe ông trả lời khi được hỏi vì sao ông đã tìm
thấy thuyết tương đối: “Nếu tự hỏi từ đâu
tôi đã thiết lập nên lý thuyết tương đối,
thì câu trả lời dường như nằm ở điều sau
đây: người lớn bình thường hầu như không
suy nghĩ về những vấn đề thời gian và không
gian. Anh ta nghĩ rằng mình đã làm điều đó
từ nhỏ rồi. Tôi ngược lại phát triển chậm về
mặt trí tuệ đến nỗi tôi bắt đầu ngạc nhiên
về không gian và thời gian khi tôi đã lớn
rồi. Một cách tự nhiên, tôi đã thâm nhập vào
toàn bộ vấn đề sâu hơn những đứa trẻ có năng
khiếu phát triển bình thường khác.”
2
Ông trả lời người bạn Bucky
của gia đình khi ông này hỏi về sự thông
minh: “Tôi không
thông minh hơn người thường nào. Tôi đơn
giản chỉ tò mò hơn một người trung bình, và
tôi không bỏ cuộc trước một vấn đề cho đến
khi tôi tìm được giải đáp. […] Ông có thể
xem tôi là kiên nhẫn hơn những người trung
bình trong việc theo đuổi các bài toán. […]
Không phải thông minh hơn là quan trọng, mà
là tò mò hơn và có lẽ kiên nhẫn hơn trong
vấn đề tìm giải đáp cho một bài toán.”
3 Nhiều người khác có thể
có chỉ số thông minh hơn Einstein nhiều. Họ
có thể suy nghĩ nhanh hơn, phát triển nhanh
hơn, có thể là ‘thần đồng’.
Khi có người muốn
điều tra về sự thông minh di truyền trong
dòng họ ông, Einstein đã trả lời ngay:
“…Ngoài ra tôi biết chắc rằng bản thân tôi
không có một sự thông minh nào đặc biệt. Óc
tò mò, sự đam mê và sự kiên nhẫn một cách
bướng bỉnh, cộng với sự tự phê bình, đã đưa
tôi đến những suy nghĩ của tôi. Tôi không có
một sức mạnh tư duy đặc biệt mạnh (‘cơ bắp
não’) nào, dù chỉ trong mức độ khiêm tốn. Nhiều
người có thứ đó nhiều hơn nhiều mà không
mang lại một cái gì đáng để ngạc nhiên.”
4
"Là một sự thiếu sót nếu chỉ dạy cho con
người một ngành chuyên môn. Bằng cách đó anh
ta trở thành một loại máy có thể sử dụng
được. Nhưng quan trọng là anh ta phải có một
cảm giác sinh động về cái gì đáng giá để
phấn đấu. Anh ta phải có một cảm giác sinh
động về cái gì đẹp và tốt về mặt đạo lý. Nếu
không anh ta với kiến thức chuyên môn hoá sẽ
giống như một con chó được huấn luyện tốt,
hơn là một con người phát triển hài hoà. Anh
ta phải hiểu biết về động cơ của con người,
những ảo tưởng và đau khổ của họ, để có được
một thái độ đúng với người đồng loại và với
cộng đồng."
5
Óc tò mò của tuổi thơ không bao giờ mất ở
ông, và luôn là động cơ của các khám phá. Ai
không còn tò mò, người đó như đã chết.
Einstein vì thế chống lại những ảnh hưởng có
thể giết chết hay làm giảm hại óc tò mò của
học sinh từ ghế nhà trường: đó là những cách
giáo dục với lối huấn luyện khắc nghiệt,
nhồi nhét cho thật nhiều kiến thức, học
nhưng không phải để hiểu, để khõi tư duy,
sáng tạo; hoặc tinh thần cạnh tranh vô tâm
của chủ nghĩa tư bản như ông thường kết án,
từ cách giáo dục làm cho con người trở thành
lệ thuộc hay nô lệ, đến độ con người có thể
đâm ra oán ghét cái học. Tài năng non trẻ
phải được che chở và nuôi dưỡng như một cây
con mới mọc. Bản thân ông là một thí dụ phản
biện sinh động nhất và đã từng trải nghiệm
những cách giáo dục khác nhau. “Biết dạy học
có nghĩa là dạy một cách thú vị, là giảng
bài, kể cả một bài trừu tượng, sao cho những
dây đàn cộng hưởng trong tâm hồn của học
sinh cùng rung lên và óc tò mò vẫn mãi sinh
động”.6
“Kiến
thức tự nó là khô cứng. Cần phải có người
thầy giỏi và trường tốt để làm sống nó lại”.7
Những ấn tượng của một năm giáo dục phóng
khoáng ở trường Aarau không bao giờ phai mờ
trong tâm trí ôn g: “Trường ở Aarau, bằng
tinh thần phóng khoáng và sự nghiêm túc bình
dị của những vị thầy không dựa vào quyền lực
bên ngoài nào cả, đã để lại một ấn tượng
không phai trong tôi; khi so sánh với sáu
năm học ở một trường trung học Đức gia
trưởng, tôi mới ý thức thấm thía một nền
giáo dục nhằm khuyến khích hành động tự do
và tính tự trách nhiệm hơn hẳn như thế nào
một nền giáo dục dựa trên lối huấn luyện
khắc nghiệt, lên quyền lực bên ngoài và tinh
thần hiếu thắng. Dân chủ đích thực không
phải là một lời nói sáo rỗng” như ông
nhớ lại trong bài Tự thuật lúc sinh
nhật 70 tuổi.8
Ông
nói mục đích của nhà trường là “phải để
con người trẻ phát triển lên trong một tinh
thần mà những nguyên tắc này (sự phát triển
tự do và tự trách nhiệm của cá nhân) trở
thành tự nhiên như không khí người đó thở.
Chỉ có dạy thôi thì không đạt được gì cả”.
9
Về việc học nhồi nhét, ông nói: “Tôi nghĩ
người ta có thể làm mất đi tính háo ăn của
một con thú ăn thịt sống nếu cứ bắt nó phải
ăn dưới roi vọt, ngay cả khi nó không đói,
đặc biệt khi người ta tự chọn cho nó những thức ăn dưới áp lực
đó.”
10
 |
Thầy giáo khả kính Winteler |
Trong chuyến đi Mỹ năm 1921, tại Boston, ông
được đưa cho bảng câu hỏi Edison để trả lời
để người ta xem ông trả lời đúng đến đâu như
một trắc nghiệm thông minh. Đến câu hỏi về
vận tốc âm thanh ông trả lời: “Điều đó
tôi không biết. Tôi không muốn làm nặng nề
trí nhớ của tôi với những sự kiện như thế,
những thứ mà tôi có thể tìm thấy dễ dàng
trong bất cứ tự điển bách khoa nào.”
11
Ông cũng không đồng ý
vói quan điểm của Edison cho rằng kiến thức
quan trọng hơn giáo dục đại học. Ông trả
lời: “Đối với con người, kiến thức không
quan trọng lắm. Để có kiến thức con người
không cần đến đại học. Cái đó người ta có
thể học từ sách. Giá trị của giáo dục đại
học không nằm ở chỗ học thuộc lòng thật
nhiều kiến thức mà ở chỗ tập luyện tư duy,
cái mà người ta không bao giờ học được từ
sách giáo khoa”.
12
 |
Lớp học ở Aarau với thầy Jost
Winteler của Einstein |
Nghiêm trọng nhất đối
với ông là khi “trường học chủ yếu dùng
những phương tiện gây sợ hãi, cưỡng bách và
chuyên chính giả tạo. Phương pháp đó huỷ
diệt tình cảm lành mạnh của sự sống, sự chân
thật và sự tự tin của học trò. Nó tạo ra một
loại thứ dân ngoan ngoãn”.
13
Con người không thể bị
xem như một công cụ chết. Một người trẻ khi
rời trường học không nên là một chuyên viên
mà là một “nhân cách hài hoà”, một “cá nhân
biết tự tư duy và hành động”, nắm vững những
phương pháp khoa học của ngành mình để có
thể thích nghi một cách sáng tạo với mọi
thay đổi, tiến bộ, hơn là chỉ được đào tạo
bằng sự tích luỹ kiến thức. “Sự phát
triển khả năng tổng quát nhằm tư duy và phán
đoán tự lập nên luôn luôn được đặt lên hàng
đầu chứ không phải sự tích luỹ của kiến thức
chuyên môn”.14
Hệ thống cạnh tranh, sự
chuyên môn hoá quá sớm, gánh nặng của nội
dung học, của hệ thống điểm là những thứ đe
doạ khả năng tư duy và phán đoán tự lập của
học sinh, dẫn đến sự hời hợt và “vô văn hoá”
(Kulturlosigkeit). “Khắp nơi, sự siêng
năng đắc lực, sự thành công được tôn sùng
chứ không phải giá trị của sự việc và con
người theo quan điểm của cứu cánh đạo đức
của nhân loại. Thêm vào đó là ảnh hưởng rất
tai hại về mặt đạo đức của cuộc chiến đấu
kinh tế không khoan nhượng.”
15
Einstein cho rằng tệ
nạn xấu nhất của chủ nghĩa tư bản là “làm
què quặt cá nhân…Cả hệ thống giáo dục chúng
ta đau khổ vì tệ nạn này. Một thái độ cạnh
tranh quá đáng được khắc sâu vào sinh viên,
anh ta được huấn luyện để tôn thờ sự thành
công hám lợi như một sự chuẩn bị cho sự
nghiệp tương lai.”16
Đạo đức đối với ông là
tiêu chuẩn hàng đầu: “Một tính cách tốt
và vững vàng có giá trị hơn khả năng hiểu
biết và sự uyên bác”.
17
Nền tảng của tất cả mọi giá trị của con
người là đạo đức. “Mục tiêu (của nhà
trường) phải là sự đào tạo nên những cá
nhân tự hành động và tư duy nhưng biết nhìn
thấy trong việc phục vụ xã hội nhiệm vụ cao
cả nhất của cuộc đời.”
18
Tôi
tin rằng sự sa sút khủng khiếp trong tư cách
đạo đức của con người trước nhất có liên
quan đến sự máy móc hoá và sự làm mất đi
tính chất cá nhân của cuộc sống của chúng ta
- một sản phẩm phụ bất hạnh của sự phát
triển tinh thần khoa học-kỹ thuật. Lỗi của
chúng ta…Con người nguội lạnh đi nhanh hơn
hành tinh nó đang ngồi trên đó.
19
Einstein chứng kiến trong thế kỷ 20 vô số cá
nhân phải chịu số phận nghiệt ngã trước sự
khước từ của xã hội, của số đông, của chính
quyền đại diện họ. Chính số đông đã để mình
chịu khuất phục dễ dàng trước các quyền lực
chính trị, để đẩy nhau vào nỗi bất hạnh,
trong khi “một số ít người không tham gia
vào cách suy nghĩ thô bạo của số đông, vẫn
sống theo lý tưởng tình yêu con người, không
bị ảnh hưởng bởi những đam mê của họ, thì
phải chịu một số phận bi thảm: họ bị ném ra
khỏi xã hội và bị đối xử như những kẻ bị hủi
nếu họ không chịu làm những hành động mà
lương tâm họ chống lại, và im lặng hèn nhát
về những gì họ thấy và cảm nhận.”
20
Trong quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân,
Einstein đặt nặng vai trò của cá nhân: “Bởi
vì tất cả những gì vĩ đại và cao cả đều được
tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do.”
21
Chính cá nhân
tạo ra tài sản văn hoá cho nhân loại. Ông
nói: “Có thể dễ dàng nhận thấy rằng tất
cả những tài sản vật chất, tinh thần và đạo
đức mà chúng ta nhận được từ xã hội xuất
phát từ những nhân cách đơn lẻ qua vô số thế
hệ.[…] Chỉ cá nhân đơn lẻ mới tư duy
và qua đó mới tạo ra những giá trị mới cho
xã hội.” 22
Ông
diễn tả trong “Thế giới quan của tôi”: “Chỉ
cá nhân riêng lẻ mới có thể tư duy và qua đó
tạo ra những giá trị mới, tạo ra cả những
tiêu chuẩn đạo đức mới mà dựa theo đó cuộc
sống của cộng đồng phát triển. Không có
những cá nhân sáng tạo, tự biết tư duy và
phán đoán thì khó hình dung một sự phát
triển cao của cộng đồng cũng như khó hình
dung sự phát triển của các cá nhân riêng lẻ
mà không có miếng đất nuôi dưỡng của cộng
đồng. Một xã hội lành mạnh được gắn liền với
tính tự chủ của các cá nhân cũng như với sự
gắn bó xã hội sâu sắc của họ. Người ta nói
một cách chính đáng rằng chính nền văn hoá
Hy lạp-Châu Âu-Mỹ, đặc biệt tinh hoa văn hoá
của thời Phục Hưng Ý, cái đã chấm dứt giai
đoạn trì trệ của thời trung cổ ở châu Âu, là
dựa lên sự giải phóng và sự tách biệt tương
đối của cá nhân.”
23
Sự
sản xuất hàng loạt những con người giống
nhau sẽ không làm giàu mà làm nghèo đi xã
hội: “Một xã hội
của những cá nhân được tiêu chuẩn hoá không
có sắc thái và mục tiêu riêng sẽ là một xã
hội nghèo nàn mất khả năng phát triển”.24
Không có đầy đủ tự do, đủ
lượng khoan dung của xã hội, bắt đầu từ nhà
trường, thì không thể có những nhân cách
vượt trội để làm giàu cho xã hội. Có lẽ bao
nhiêu tài năng đã bị mai một hoặc biến dạng
trên con đường họ phải đi qua, nếu các tài
năng không đủ mạnh để giữ vững cho mình một
loại tự do thứ hai - tự do nội tâm - để tiếp
tục phát triển đến đích: “Để phát triển
khoa học và hoạt động sáng tạo nói chung cần
phải có một thứ tự do khác, người ta có thể
gọi là tự do nội tâm. Đó là cái tự do của
tinh thần
thể hiện qua sự độc lập của tư duy trước các
trói buộc của thành kiến, của quyền lực và
xã hội, cũng như trước những trói buộc của
suy nghĩ lệ thường và thói quen không phê
phán. Tự do nội tâm này là một món quà hiếm
có của thiên nhiên ban cho và là một mục
tiêu đáng giá cho cá nhân. Cộng đồng cũng có
thể đóng góp rất nhiều vào việc giáo dục tự
do nội tâm này, bằng cách cộng đồng ít nhất
không ngăn cản sự phát triển của nó. Trường
học, bằng ảnh hưởng gia trưởng và bằng gánh
nặng trí óc thái quá cho những cá nhân trẻ,
có thể ngăn cản sự phát triển của tự do nội
tâm, hoặc ngược lại bằng khuyến khích tư duy độc lập, sẽ tạo thuận lợi cho nó.
Chỉ khi tự do nội tâm và tự do bên ngoài
được vun xới một cách có ý thức và lâu dài
thì mới có được điều kiện cho sự phát triển
tinh thần, cho sự hoàn thiện và cải thiện
đời sống nội tâm và bề ngoài”.
25
Nếu
Comenius, một nhà
sư phạm nổi tiếng thế kỷ 17, đã có những lời
nói như một bản tuyên ngôn của giáo dục đứng
hẳn về phía học sinh: “Bản chất con người
là tự do, yêu quyền tự quyết và ghét bắt
buộc. Cho nên nó muốn được chỉ đường đến nơi
nó phát triển, và không phải bị kéo đi, đẩy
đi, hay ép buộc”
26 thì
Einstein chính là hiện thân cao nhất, rõ nét
nhất của bản chất yêu tự do sâu sắc đó của
con người. Phải có đầy đủ tự do, con người
mới ý thức được cái khao khát từ bên trong
nội tâm của nó và mới sáng tạo được những
giá trị bền vững cho xã hội. Einstein ý thức
được “sứ mệnh” (Berufung) vật lý của mình
vào lúc áp lực của bộ máy giáo dục lên ông
giảm đi, nghĩa là
khi tìm lại nhiều tự do hơn để tự ý thức: “
Khi dọn về Aarau ở Thuỵ Sĩ năm 1896 và
vào trường đại học bách khoa
kỹ thuật, tôi lần đầu tiên mới ý thức rằng
tôi không thích như thế nào cách nhồi nhét
và học thuộc lòng, cách dạy của môn toán.
Tôi tin rằng sở thích vật lý của tôi hình
thành vào thời điểm này.”
27
Điều đó nói lên rằng khi có đủ tự do, bớt
chịu áp lực hàng ngày của chế độ học nhồi
nhét thuộc lòng, ông bắt đầu sáng tạo một
cách ý thức. Chính trong thời gian tại Sở
sáng chế ở Bern, không bị áp lực và sự lôi
cuốn của bộ máy hàn lâm, ông mới có đủ sự
yên tĩnh và bình tĩnh để phát triển, kiến
tạo những ý tưởng mới của ông. Ông không bị
nhiễu bởi vô số ý tưởng thường xuyên xâm
chiếm của bộ máy hàn lâm có thể làm cho
người ta chỉ “thấy cây mà chẳng thấy rừng”.
Chúng ta nhớ lại những bộ óc toán học hạng
nặng như Hilbert, Minkowski của đại học
Göttingen đã theo dõi và nghiên cứu đề tài
điện động lực học của các vật thể chuyển
động một cách hệ thống chỉ vài năm trước
Einstein nhưng không tìm thấy dấu vết của
thuyết tương đối. Mặc dù thuyết tương đối
hẹp đã “nằm trong không khí” nhưng chưa ai
trong bộ máy hàn lâm phát hiện ra. Einstein
không chỉ suy nghĩ một lúc về một, mà về ba
đề tài lớn nhất của thời đại. Chỉ có thể
được như thế khi một người có được sự độc
lập cần thiết làm tiền đề, không phải bị bắt
buộc chạy theo “thành tích chiều ngang” để
giữ được cái ghế hay hy vọng được tiến thân.
Ông nói: “Bởi vì nghề nghiệp hàn lâm đặt
một người nghiên cứu trẻ vào một loại tình
huống bắt buộc là phải sản xuất các bài
nghiên cứu khoa học với số lượng gây ấn
tượng - một sự cám dỗ dẫn đến sự hời hợt mà
chỉ có những cá tính mạnh mới có khả năng
cưỡng lại được.”
28
Mọi áp lực có tác dụng
làm hại cho sự phát triển. “Trong thời học
của tôi, ngay khi ngày thi được công bố, tôi
bị dồn vào một áp lực đến nỗi tôi có cảm
giác tôi không phải bước vào một kỳ thi mà
bước lên một đoạn đầu đài.”
29
Nhân danh thi cử, sinh
viên bị bắt buộc phải học thuộc lòng quá
nhiều thứ không cần thiết. “Trí óc của
tôi sau những kỳ thi (cử nhân) hoàn toàn bị
tắt nghẽn một thời gian cho hoạt động nghiên
cứu và phân tích khoa học. Khả năng trí óc
của tôi hoàn toàn bị cạn kiệt, bởi vì tôi
phải học thuộc lòng những thông tin vô bổ.”
30
Sau một năm ông mới bắt
đầu lại công việc khoa học. Giáng sinh năm
1917 tờ Berliner Tageblatt đăng một
bài báo của Einstein, tựa đề “Cơn ác mộng”.
Thi cử đối với ông là ác mộng. Ông đã đề
nghị xoá bỏ các kỳ thi tú tài, vì nó vô ích
và có hại. Khi thầy cô đã biết học lực của
một học sinh trong nhiều năm liền thì không
cần thiết phải thi nữa, để khỏi gây sự sợ
hãi trong học sinh và để học sinh khỏi phải
học thuộc lòng một số lượng quá lớn những
nội dung chỉ để trả bài.
Trong đời thường
chúng ta cũng đã từng có những giây phút
giống như thế: khi trở về với tự do, với
chính mình, chúng ta mới thấy những ý tưởng
sáng tạo được hình thành trong không gian
rộng lớn và lắng đọng, mới thấy mình có
những khao khát mà mình có lẽ chưa biết đến.

Van Gogh vẽ hoa hướng
dương (Tranh Paul Gauguin)
Van Gogh là người mà hàng
triệu người trên thế giới ngưỡng mộ các tác
phẩm tranh ấn tượng của ông nhưng có lẽ ít
ai biết rằng, ông trước nhất là một người
thất bại, một ‘Versager’, năm năm sống lang
bạt không một nơi cố định, không tiền để
sống. Vào tháng 7 năm 1880, khi xuống đến
tột cùng của nỗi thất vọng sau khi làm đủ
nghề nhưng đều thất bại, không được xã hội
chấp nhận, trong những giờ phản tỉnh khi trở
lại với chính mình, ông mới sực tỉnh thấy
mình là con người của hội hoạ. Ông liền cầm
bút lên để vẽ, vẽ về cuộc đời, để thoả mãn
một tình yêu mãnh liệt với cuộc đời trong
trái tim ông. Ông hồi sinh như cây khô gặp
nước.
Cái gì làm cho ngục tù mà
ông đang sống trong đó biến mất? Đó là “Mỗi
một tình yêu sâu sắc và đích thực. Là người
bạn, anh em và yêu mến – cái đó mở cửa ngục
tù với sức mạnh vô biên, huyền bí. Ai không
có điều đó, người đó vẫn ở trong cõi chết”.31 Ông vẽ một mạch
tám năm liền cho đến khi ngã xuống một cách
bi thảm.
Nếu
Van Gogh là một nghệ sĩ vẽ cuộc đời bằng
hình ảnh và màu sắc, vì một tình yêu sâu đậm
đối với cuộc đời, thì Einstein là một nghệ
sĩ vẽ vũ trụ bằng khái niệm, công thức,
nguyên lý, vì một tình yêu sâu đậm đối với
vũ trụ. Nếu đối với Van Gogh, ai không có
tình yêu đích thực người đó như sống trong
thế giới đã chết, thì đối với Einstein, ai
không biết rằng cái đẹp nhất là cái bí ẩn
nhất của tạo hóa, nếu ai “không còn khả
năng ngạc nhiên, sửng sốt trước nó, người đó
coi như đã chết, ánh mắt đã tắt lịm đi.”
32
Cả hai người đều cần tự do như không
gian rộng mở để mộng tưởng của nghệ thuật
bay bổng. Không có tự do, tài năng họ sẽ tàn
lụn. Cả hai đã vượt lên khỏi cuộc đời. Hai
ông không còn biết sợ hãi trước bất cứ cái
gì của cuộc đời, kể cả trước “cọp và tê
giác”, như một chương trong Đạo Đức Kinh của
Lão tử (Sự sống và Cái chết). Van
Gogh tin vào câu nói “Ai muốn giữ cuộc
đời mình, người đó sẽ đánh mất nó. Ai mất
đời mình vì một cuộc đời cao hơn, người đó
sẽ giữ được nó”
33
và đã sống như thế: ông đánh mất cuộc đời
của mình, để rồi được một cuộc đời cao cả
hơn. Einstein cũng sống như thế, ông không
bám víu vào một cuộc đời hàn lâm, dám chấp
nhận cuộc sống bên lề, để rồi cuối cùng ông
đạt đến một cuộc đời cao cả hơn.
Tôi đặt niềm tin vào
trực giác
34
Einstein là một con người tự do và tự lập.
Mười lăm tuổi ông đã tự ý bỏ trường và bỏ
nước ra đi trước sự thất kinh của bố mẹ.
Mười sáu tuổi ông đã nghĩ mình sẽ là một nhà
vật lý lý thuyết. Nhưng sau một thời gian
vào đại học ông thấy mình không phải là sinh
viên giỏi, có lúc nghĩ đến việc nối nghiệp
bố đi xây dựnng các nhà máy điện. Ông đã
từng đi thăm các nhà máy điện của bố xây ở
Bắc Ý. Ông đã đăng ký học những môn phụ
thống kê và quản trị kinh doanh để chuẩn bị
có thể bước vào nghề kinh doanh. Chính những
kiến thức về thống kê sau này đã được ông
đem sử dụng vào việc giải thích các định
luật chuyển động Brown và thuyết lượng tử
năm 1905, thay vì vào việc kinh doanh. Ông
cũng tính đến việc làm nhà giáo trung học
sau khi tốt nghiệp, nghề ông ngưỡng mộ và
thích thú, tấm bằng cử nhân sẽ cho phép ông
làm nhà giáo để theo chân vị thầy khả kính
Winteler ở Aarau. Ông đã đi kèm trẻ, dạy
thêm. Rồi khi được tin Mileva mang thai ông
chấp nhận từ bỏ các dự tính hàn lâm để đi
tìm bất cứ một nghề gì dù có thấp hèn để
cưới và lo cho nàng, ngược với ý muốn của
cha mẹ. Thêm vào đó là sự trả lời của Drude,
chủ biên tờ báo Niên Giám Vật lý của
Đức, tờ báo mà không lâu sẽ công bố những
bài nghiên cứu làm thay đổi thế giới của
ông, về việc Einstein phê phán lý thuyết
electron của ông làm Einstein thêm nãn lòng,
Drude trả lời một cách ‘độc tài’ hơn là khoa
học. Từ đó Einstein mới có câu nói: “Sự ngạo
mạn của quyền lực là kẻ thù lớn nhất của
chân lý”.
Nhưng rồi tình yêu và sự đam mê khoa học,
cùng với sự tự tin đã đưa Einstein vượt qua
những khó khăn trước mắt đế tiếp tục đi lên
trong sự nghiệp khoa học của mình. Bên cạnh
Habicht và Solovine trong “Hàn lâm viện
Olympia” ông còn gặp một người bạn quan
trọng khác trong đời: Michele Besso. Chính
Besso đã lưu ý Einstein về những tác phẩm
của Mach, và giúp Einstein đào sâu thêm
nhiệt động học. Cũng chính Besso đã lưu ý
Einstein về “chuyển động Brown” đã được quan
sát từ trước mà Einstein đang nghiên cứu các
định luật của nó. Besso và những người bạn
khác của Einstein đều là những chiến sĩ
“nghiệp dư” trong vật lý, nhưng vì thế mà
thoát khỏi ảnh hưởng của bộ máy hàn lâm để
vươn lên những ý tưởng hoàn toàn mới.
Vì sao Einstein rút ra được những kết luận
mà các bậc thầy như Lorentz, Planck không
đạt tới được? Vì ông nhìn những kết quả của
Lorentz, Planck không phải với con mắt của
người trong một trường phái tư duy hàn lâm
truyền thống, mà bằng con mắt của người
ngoài cuộc. Sự tự học có tính cách tổng hợp
có một không hai như là một cuộc ‘phiêu lưu’
trí tuệ đã giúp cho Einstein có khả năng
nhìn các kết quả của các bậc thầy dưới một
ánh sáng hoàn toàn khác.
Ông yêu, rồi sợ “ngộp thở” trong tình yêu.
Ông thương cha mẹ nhưng rồi sợ phải đi theo
dấu chân của cha mẹ. Ông sử dụng thực chứng
luận để khám phá trong thuyết tương đối hẹp,
nhưng rồi là người giải phóng khoa học và
triết học khỏi ảnh hưởng cố hữu trăm năm của
nó. Ông đọc tác phẩm của nhiều bậc thầy,
bước vào các thế giới của họ nhưng không bao
giờ dừng lại ở đâu cả. Ông là lữ hành đi
mãi, một loại “sói đồng hoang”, chiêm
ngưỡng, chia sẻ, tham gia vào các thế giới
khác nhau, nhìn thấy chúng như những lăng
kính sặc sỡ dưới những góc cạnh khác nhau,
nhưng không bao giờ thuộc về thế giới nào,
mà vượt ra khỏi chúng để thấy những cái mà
người trong những thế giới kia không thấy.
Đó là tính cách của Einstein.
35
Những khám phá
của ông năm 1905 là những khám phá nằm ở
ranh giới của cách ngành khoa học khác nhau:
Chuyển động Brown giữa Cơ học và Nhiệt động
học, Lượng tử quang học giữa Nhiệt động học
và Điện động học, Thuyết tương đối giữa Cơ
học và Điện động học.
Ông không khép mình vào bộ máy hay một thế
giới cố định nào. Wilhelm Ostwald sau khi
đúc kết những nghiên cứu của mình về lịch sử
các thiên tài khoa học đã đi đến kết luận:
“Những người khám
phá của tương lai đều là các học sinh tồi
hầu như không ngoại lệ! Chính những con
người trẻ có năng khiếu nhất chống đối lại
hình thức phát triển tinh thần mà nhà trường
áp đặt lên chúng! Trường học vẫn lại luôn tỏ
ra là một kẻ thù dai dẳng và khắc nghiệt của
tài năng thiên phú!”
36
Con người
khoa học không chỉ sống bằng sự kiện, kiến
thức, con số hay lô gích, còng lưng học
thuộc lòng -những thứ đó cộng lại mãi cũng
không bao giờ đưa con người lên đỉnh cao của
khoa học, đến các vùng xa xôi của vũ trụ,
hay sâu thẳm của vật chất - mà con người còn
sống bằng óc tưởng tượng, “phantasie”, những
ý tưởng sáng tạo táo bạo. Đằng sau mớ công
thức hỗn độn mới chính là những ý tưởng khai
sinh chúng ra. Ông nhìn lại: “Nếu suy nghĩ
lại về tôi và về cách tư duy của mình, tôi
gần như đi đến kết luận rằng khả năng tưởng
tượng đối với tôi quan trọng hơn năng khiếu
của tôi trong việc tiếp thu kiến thức tuyệt
đối”.37
Óc
tưởng tượng là đôi cánh của trực giác dẫn
đường của ông, và trực giác như một ngọn đèn
dẫn lối cho ông đi trong cuộc khám phá.
Einstein vốn sống cô đơn. Bất cứ ở nơi nào,
Thuỵ Sĩ, Prag, Berlin hay Princeton ông đều
có cảm giác là người xa lạ và ngoài cuộc. Cô
đơn là quy luật khắc nghiệt dành cho những
nhà khoa học hay hoạt động trí óc đam mê.
Không có cô đơn hầu như không có khoa học. “Đó
hầu như là định luật mà hầu như tất cả những
người bề tôi của vị thần khắc nghiệt là Khoa
học phải tuân theo, rằng cuộc đời họ kết
thúc trong sự đau buồn, càng đau buồn khi họ
càng hết lòng với nhiệm vụ của họ.”
38
như Oswald bình
luận sau cái chết tự vẫn của Boltzmann. Hay
như Freud nói: “Khoa học chính là
sự khước từ trọn vẹn nhất của nguyên lý ham
muốn (Lustprinzip) có thể có được cho hoạt
động tâm lý chúng ta.”
39 Ngoài
cái cô đơn do khoa học Einstein còn nỗi cô
đơn riêng của một người không lúc nào thuộc
hẳn vào thế giới này. Năm hai mươi hai tuổi
ông đã có cảm giác luôn có một bức tường
ngăn cách giữa ông và thế giới của những
người khác. Einstein nói “Tôi
ngược lại
càng luôn có khuynh hướng cô đơn, một nét
càng tăng lên với tuổi càng
cao. Thật là lạ khi người ta nổi tiếng rộng
rãi như thế mà lại cô đơn. Nhưng sự thật là
loại nổi tiếng này, như nó đã được sắp đặt ở
tôi, đẩy đương sự vào thế phòng thủ để rồi
dẫn đến sự cô lập.”
40
Ông quan
sát đời như một khúc phim đi qua trước mặt:
“Quả là khó hiểu cái gì đã thúc đẩy con
người khiến cho người đó xem công việc quan
trọng kinh khủng như thế? Cho ai? Cho người
đó?- Người ta sắp ra đi kia mà. Cho cộng
đồng? Cho hậu thế? Không, đó vẫn là
điều khó hiểu.”
41
Cuối
đời ông phải chứng kiến nhiều người
thân của ông lần lượt ra đi: Năm 1936
Grossmann mất, người đã giúp đưa Einstein
vào Sở Sáng chế và giúp ông đến với hình học
Riemann; Elsa, người vợ thứ hai mất, năm
1948 người vợ thứ nhất Mileva mất, 1951 em
gái Maja mất, tháng 3.1955 Besso mất, người
bạn đã giúp Einstein tinh luyện các ý tưởng
mình cho thuyết tương đối hẹp; Paul
Ehrenfest, bên cạnh Maja có lẽ là người thân
nhất của ông, đã tự kết liễu cuộc đời vào
năm 1933.
Nếu
Einstein trong đời không bám víu vào một bến
đỗ nào, cho dù đó là quê hương, quốc gia,
bạn bè hay gia đình, ông luôn luôn là một
“người lữ hành cô độc”, ông chẳng thuộc vào
đâu với tất cả trái tim, luôn luôn có một
cảm giác không bao giờ dứt của sự xa lạ và
cô đơn, thì trong tư duy khoa học cũng thế,
ông cũng không bám víu vào một phương pháp
khoa học hay một triết lý nào, ông vẫn là
người “lữ hành cô đơn” không bến đỗ trên
đường đi tìm chân lý của mình, cho dù con
đường ông đi sẽ đưa ông về một chân trời vô
định và chỉ còn một mình ông trên đó. Ông là
người khai phá, người của tiền tuyến, không
bao giờ biết bám víu vào miếng đất mình đã
chinh phục, khai phá, và tiếp tục đi tìm
những vùng đất hoang mới, với trái tim luôn
rộng mở, bỏ lại phía sau tất cả quảng đường
mình đã đi cho dù nó đã được trải bằng hoa
vinh quang. Ông cũng không xây dựng một
“trường phái” nào, không muốn áp đặt tư duy
cho ai. Ông nói với tư cách là người thầy
với trái tim rộng mở : “Tôi không bao giờ
dạy học sinh; tôi chỉ cố gắng tạo ra những
điều kiện để chúng có thể học.”
42
Oppenheimer viết năm 1965
lúc kỷ niệm 10 năm ngày mất của Einstein: “Ông
dĩ nhiên có nhiều khủng khiếp những môn đệ,
theo nghĩa những người, qua việc đọc các tác
phẩm của ông hay nghe ông dạy, đã học hỏi từ
ông và có một cái nhìn mới về vật lý, về
triết lý của vật lý, của bản thể của thế
giới chúng ta sống trong đó. Nhưng ông không
có, theo thuật ngữ kỹ thuật, một trường phái
nào cả.” 43
 |
Lo âu giữa phương trình và chính trị
|
Khi mất, Einstein để lại di
chúc yêu cầu đem tro của mình rải vào không
gian ở nơi không ai biết. Ông trở về vũ trụ
mà ông hằng chiêm ngưỡng, ông không muốn
thấy có những chuyến “hành hương” của hậu
thế, hoặc không muốn gây sự ‘quan tâm’ cho
những kẻ có thể vẫn còn thù hằn ông mặc dù
không hiểu ông như đã từng xảy ra lúc đương
thời. “Cái đắng và cái ngọt đến từ bên
ngoài, cái vất vả đến từ bên trong, từ sự
phấn đấu của chính mình. Tôi làm việc chủ
yếu do bản tính tự nhiên của tôi thúc đẩy.
Xấu hổ vì qua đó đã nhận được quá nhiều sự
kính trọng và yêu thương. Cũng có những mũi
tên của sự thù địch bắn về tôi; nhưng chúng
không bao giờ trúng đích, bởi có thể nói
chúng thuộc về một thế giới khác mà tôi
không ở trong đó. Tôi sống trong sự cô đơn,
sự cô đơn mà trong thời trẻ là đau khổ,
nhưng trong những năm của sự chín mùi lại
ngọt ngào.” 44 Không phải nỗi cô đơn chỉ luôn luôn
“ngọt ngào” như ông nói, mà có những lúc nó
như một lời than trách ở tuổi bảy mươi: “Tôi
hầu như chưa bao giời cảm thấy xa lạ với con
người như hiện tại, hay đó là một ảo giác
của sự lãng quên?”
45
Einstein là người đã sống trọn vẹn theo
phương châm và lý tưởng của Immanuel Kant:
“Bầu trời đầy sao trên tôi và quy luật
đạo đức trong tôi” , đúng theo ý tưởng
triết học và đạo đức của Kant để lại mà ông
đã hằng có ấn tượng: “Cái (thế giới) thực
không phải để tặng cho ta, mà được đặt ra
như một điều bí ẩn cho ta giải” (Das
Wirkliche ist uns nicht gegeben, sondern
aufgegeben).
Có
lẽ những lời sau đây của Schleiermacher, nhà
thần học tin lành của Phổ thế kỷ 19, tưởng
nhớ đến Spinoza, cũng có thể dùng để tưởng
nhớ Einstein: “Linh
hồn vũ trụ chiếm ngự ông, cái Vô hạn là sự
khởi đầu và kết thúc của ông, Vũ trụ là tình
yêu duy nhất và vĩnh cửu của ông. Trong sự
hồn nhiên thánh thiện và sự khiêm nhường sâu
sắc, ông nhìn thấy chính mình trong thế giới
vĩnh hằng, và biết rằng mình là hình ảnh
trung thực thân yêu nhất của nó đến dường
nào. Ông là con người đầy tín ngưỡng, và
tràn đầy Linh hồn vũ trụ. Ông đứng đó, một
mình và vượt lên tất cả, và không có gì sánh
được, một bậc thầy của nghệ thuật, nhưng cao
cả vượt lên khỏi đám đông trần tục, một ánh
lửa dẫn đường có một không hai mãi mãi chiếu
sáng.”
46
Đó là Einstein - nhà vật
lý trên ngọn hải đăng. Hiểu được một phần
cái huyền bí của vũ trụ mà Einstein đã khám
phá, hiểu được cái vĩ đại, rộng lớn và cao
cả của ông, đó là một niềm hạnh phúc lớn -
và cũng để hiểu được một phần của chính mình
và của những gì đang diễn ra xung quanh.
Chưa kết thúc được quyển sách này nếu không
đặt được hai câu hỏi thời sự cho thế giới
hôm nay: thứ nhất, với xã hội hôm nay, liệu
có thể có một Einstein thứ hai khi mà nền
giáo dục khắp nơi càng ngày càng chất thêm
những gánh nặng cho học sinh, sinh viên,
biến thanh thiếu niên thành những chú ‘ngựa
thồ’ cho nền kinh tế ngày càng cạnh tranh
quyết liệt, khi thước đo của xã hội ngày
càng dựa trên tiền, bằng cấp, tên tuổi của
đại học, khi áp lực công bố báo cáo lên nhà
nghiên cứu ngày càng nặng thêm chứ không nhẹ
bớt đi, khi “publish or perish” (công bố hay
tiêu vong)? Thứ hai, nếu có, các quốc gia sẽ
hành xử thế nào với một Einstein mới?
Einstein đương thời không phải là con người
‘dễ chịu’, ngoan ngoãn, như chúng ta đã
biết. Liệu ông có được để yên đi theo con
đường của ông, được tự do để tư duy, bày tỏ
suy nghĩ, tín điều, kể cả tín điều chính trị
và những suy nghĩ xã hội, giáo dục, tư tưởng
mà không phải sợ phải bị theo dõi, chụp mũ,
phân biệt đối xử, trù dập hay bị trục xuất
ra khỏi nước? Ở mức độ nào “ Những kinh
nghiệm xấu luôn lập lại một cách mới” như
ông nói? Ở mức độ nào con người học được từ
quá khứ: “Nhưng rồi tôi biết con người chung
quy thay đổi ít, cho dù cái mốt mà họ chạy
theo làm cho họ xuất hiện vào những thời
khác nhau như thể khác nhau, và cho dù khi
những xu thế thời đại như xu thế hiện nay có
mang đến cho họ vô số đau khổ. Chẳng có cái
gì còn lại hơn là một trang giấy nghèo nàn
trong các sách sử, trong đó những sự ngu dại
của cha ông sẽ được phơi bày cô đọng lại
trước mắt cho tuổi trẻ của các thế hệ sau”?
47
Hy
vọng thế kỷ 21 sẽ ra khỏi đêm dài của những
thế kỷ trước. Nhưng ai biết đâu được. Thế kỷ
20 cũng tưởng đã chia tay với những thế kỷ
trước, nhưng đã trở thành thế kỷ khủng khiếp
nhất của nhân loại. Năm 2005 được công nhận
là năm Einstein hay năm vật lý hàm chứa ý
nghĩ chúng ta phải nhìn lại mình qua tấm
gương của Einstein và học hỏi ở con người
đặc biệt này. Cuộc đời của Einstein hơn là
một tấm gương, có lẽ là một sự khải thị,
‘Offenbarung’ hay “revelation”, và một ‘tin
lành’ cho nhân loại. Kỷ niệm Einstein là để
nhớ và suy ngẫm lại tin lành ấy.
Một hoạ sĩ Đức bang
Bayern đã từng vẽ Einstein năm 1927 cho
phòng triển lãm mỹ thuật của thành phố
Nürnberg, năm 1938 phải bỏ xứ chạy trốn mật
vụ Đức Gestapo, một lần hỏi một cụ già vì
sao ông ngưỡng mộ Einstein khi mà ông không
hiểu gì về lý thuyết của Einstein. Ông nhận
được câu trả lời thành khẩn như sau: “Ông
biết không, khi nghĩ đến giáo sư Einstein,
tôi luôn cảm thấy tôi không còn hoàn toàn
một mình nữa!”
48
Năm
nay hàng triệu triệu con người trên quả đất
khi tưởng nhớ đến Einstein chắc chắn cũng
không cảm thấy mình lẻ loi, cho dù sự tồn
tại của họ như thế nào, nó có được một phần
như Einstein đã sống hay không. Einstein vừa
là ngọn hải đăng luôn rọi sáng chúng ta vừa
là một người đồng hành của chúng ta, một
‘đồng minh’, như giáo sư Jürgen Renn, Viện
trưởng Viện Max Planck Lịch sử Khoa học
Berlin, người chủ trì chương trình tưởng
niệm lớn Einstein tại Đức đã nói. Ông viết: ”Chính hôm nay chúng ta cần sự tưởng niệm
Einstein như một nhà khoa học dấn thân, luôn
đồng cảm, để định hướng cho chúng ta, khi ta
gặp những vấn đề thời sự của khoa học, chẳng
hạn trách nhiệm của khoa học cho một trật
tự thế giới hoà bình, hay sự khắc phục những
ranh giới của sự yếu hèn, hoặc sự mở rộng
khoa học với yêu cầu đem kiến thức của nó
đến với mọi người”.
49
Vâng chúng ta cần Einstein vừa là một ngọn
hải đăng vừa là một bạn đồng minh, một người
đồng hành.
 |
Tranh của Lou Grant, Thiên tài vũ
trụ đang làm việc. |
 |
"Albert Einstein đã sống ở đây” |
NXB
Tổng hợp Thành Phố HCM xuất bản
tháng 2 năm 2007 và được
Công ty Cổ phần Phát hành sách
Thành phố Hồ Chí Minh
FAHASA độc
quyền phát hành.
Sách được tái bản lần thứ hai,
tháng 6 năm 2007.
Hai địa chỉ bán qua mạng:
|
|