Hans Albrecht Bethe
(1906-2005) cha đẻ phản ứng nhiệt hạch trong Mặt trời, Nobel năm
1967 với thuyết chế tạo năng lượng trong các ngôi sao sáng
Hans Albrecht Bethe sinh ngày 2 tháng 7
năm 1906 tại Strasbourg [1], thuộc Alsace-Lorraine lúc đó còn là lãnh thổ
của Ðức. Ông theo học trường trung học ở Frankfurt trong 9 năm, từ 1915
đến 1924. Ông học đại học Munich trong hai năm, rồi chuyển qua đại học
Frankfurt học tiếp để lấy bằng tiến sĩ về Lý thuyết Vật lý năm 1928, dưới
sự bảo trợ của giáo sư Arnold Sommerfeld.
Ngay sau đó, ông làm huấn luyện viên vật lý, nửa năm đầu ở Franfurt và nửa
năm sau ở Stuttgart. Tháng 9 năm 1929 ông dạy ở đại học Munich, đến năm
1930 ông được thăng cấp Privatdozent [3] và tiếp tục dạy ở đấy đến 1932.
Ông đã được học bổng để đi nghiên cứu thêm tại đại học Cambridge, Anh quốc
vào mùa thu năm 1930, và tại La mã (Roma) Ý năm 1931 và 1932. Sau khi đi
La mã, ông qua dạy ở trường đại học Tubingen. Khi đảng Quốc xã (Nazi) lên
nắm chính quyền vào năm 1933, ông rời nước Ðức và di cư sang Anh quốc.
Tháng 10, năm 1933, Hans Bethe sang Anh quốc và ông làm giảng sư ở đại học
Manchester trong một năm. Năm sau, ông được học bổng nghiên cứu hậu tiến
sĩ của đại học Bristol, và vào tháng 2 năm 1935 ông được bổ nhiệm làm giáo
sư diễn giảng (Assistant
Professor) tại trường đại học
Cornell ở Ithaca, tiểu bang New York, Hoa kỳ.
Ông được thăng giáo sư
thực thụ vào năm 1937 và dạy luôn ở đại học này, ngoại trừ những năm của
cuộc Thế chiến thứ 2. Ông đã đưa ngành Vật lý
lên đến đỉnh cao
Ông là người khuyên bảo
nhiều tổng thống Hoa Kỳ về kế hoạch an ninh quốc gia, và sau thế chiến thứ
hai, ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại vũ khí hạch tâm. Là
một trong những người sáng lập ra Liên hiệp các Khoa học gia ngành Nguyên tử
(the Federation of Atomic Scientists).Trong thời kỳ
chiến tranh, ông là mấu chốt của dự án Manhattan, là người đứng đầu trong
đơn vị vật lý lý thuyết. Sau chiến tranh, ông đem những nhà vật lý trẻ
tài ba nhất từ Los Alamos sang Cornell, đặc biệt là Richard Feynman và
Robert Wilson.
Trong những năm đó, theo lời mời của
Robert Oppenheimer, Hans
Bethe nhận làm Trưởng khối Lý thuyết trong kế hoạch chế tạo bom nguyên tử ở
Los Alamos, tiểu bang California. Công việc nghiên cứu của Hans Bethe
nhắm
về lý thuyết hạch nhân nguyên tử.
Ông đã cùng Peierls đề ra lý thuyết về deuteron vào năm 1934, và sau đó đã
phát triển thêm lý thuyết này vào năm 1949. Ông cũng có nghiên cứu về radar
và các dạng sóng vi ba (microwave = micro-onde). Ông đã giải thích năng
lượng của những ngôi sao sáng hơn mặt trời là do phản ứng nguyên tử theo
chu trình carbon-oxygen-nitrogen chứ không phải phản ứng proton-proton như ở mặt
trời. Ông được giải thưởng Nobel vật lý năm 1967
do các công trình ông đã làm 30 năm trước: thuyết chế tạo
năng lượng trong các ngôi sao. Đã công bố trên 300 công trình và còn những
công trình vẫn còn giữ kín. Bethe là một nhà khoa học có trách nhiệm, một
người có lương tâm, là một nhà khoa học chân chính lỗi lạc, có nhiều đóng
góp lớn.
Hans Bethe mới qua đời
hôm chúa nhật vừa qua tại Ithaca,
ngày 6 tháng 3, năm 2005, 98 tuổi.
Công trình:
Cơ chế biến đổi Hydrogen ra Helium trong
Mặt trời
Các ngôi sao và
thiên hà gồm 98% hydrogen và helium. Năm 1939 Hans Bethe phát hiện ra
các kim loại được chế tạo từ trong tâm các sao. Trong những năm 60, các
nhà thiên văn nhận thấy rằng lượng helium so với hydrogen không thay đổi
từ sao này đến sao khác, trong khi các kim loại nặng thì sự khác biệt có thể
đến ngàn lần. Chúng luôn có cùng tỷ lệ: hydrogen chiếm 3/4 và helium 1/4 về
khối lượng. Helium hồm 2 proton và 2 neutron, rất bền nên không kết hợp
với các nucleon khác để tạo ra các nguyên tố khác và sống rất lâu ...
Bethe
khám phá ra cơ chế của năng lượng các bức xạ mặt trời, đặc biệt là năng
lượng từ sự biến đổi từ Hydrogen sang Helium trong các ngôi sao.
Mặt trời cháy sáng cho năng lượng 3,9 x 1026
watts từ 5 tỉ năm. Mặt Trời đốt hydrogen
trong một lò hạch nhân. Phản ứng phối hợp trong mặt Trời là một chuỗi gồm
nhiều giai đoạn trong đó Hydrogen bị đốt cháy theo sơ
đồ sau:

Chu trình bắt đầu bằng sự va chạm giữa hai proton (1H
+ 1H) để tạo ra deuteron
(2H), với sự tạo thành một positron (e+) và một
neutrino (ν). positron (e+) gặp tức khắc
điện tử tự do (e-) và hai hạt tử mang điện tích
khác nhau này triệt tiêu lẫn nhau. Năng lượng của khối lượng chúng
được tỏa ra dưới dạng 2 quang tử gamma (γ). Ngay khi
deuteron được tạo ra nó lại va chạm ngay một proton 1H khác và
tạo thành một nhân 3He và một photon γ. Hai nhân 3He gặp nhau cho
phản ứng :
3He + 3He --> 4He +
2v + 6 Y
Cuối cùng sẽ dẫn tới sự kết hợp của 4 proton và 2 electron
để tạo thành một hạt alpha (α, 4He), 2 neutrinos và 6 photons γ.
Và phản ứng cuối cùng là:
4 1H
+ 2 e-
--> 4He + 2 v + 6 Y
Năng lượng được phóng thích trong phản ứng này là:
DE
= Dmc² =
[4.(1.007285u] - 4.002603u](931 MeV/u) = 24.7 MeV
Trong đó 1.007825 u là khối lượng của một nguyên tử Hydrogène và
4.002603 u là của helium.
Neutrino và photon γ không có khối lượng, chúng không tham dự vào con toán
năng lượng tạo thành.
Chu trình Carbon-Nitrogen-Oxygen trong các ngôi sao

Carbon-12 và Proton kết hợp để tạo thành Nitrogen-13 không bền, phát ra
tia Gamma
Nitrogen-13 phân rã thành Carbon-13, phát ra Positron và Neutrino
Carbon-13 và Proton kết hợp tạo ra Nitrogen-14,
phát ra tia Gamma
Nitrohen-14 và Proton kết hợp tạo ra Oxygen-15
không bền, cho ra tia Gamma
Oxygen-15 phân rã tạo Nitrogen-15 , cho ra
Positron và Neutrino
Nitrogen-15 và Proton kết hợp tạo Helium-4 và Carbon-12
Với những sao nặng
hơn Mặt trời, những mẫu lý thuyết cho rằng chu trình CNO của sự
phối hợp hạt nhân là nguồn năng lượng chính của sự tạo ra năng lượng trong
các sao. Chu trình gồm sự phối hợp của 4 nhân của Hydrogen (1H,
protons) để tạo ra một nhân Helium (4He,
alpha particle), cung cấp năng lưựng cho ngôi sao theo
phương trình của Einstein. Carbon bình thường,12C,
được dùng làm chất xúc tác trong chuỗi phản ứng. Trong chu trình này, chỉ có
năng lượng neutrino (n)
là được sản xuất tương đối thấp nhất
(Hình của J. N.
Bahcall, Neutrinos from the Sun, Scientific American, Volume 221,
Number 1, July 1969, pp. 28-37.)
Giải thưởng
Ông được huy chương Max Planck năm 1955, huy chương
Eddington của Royal Astronomy Society cho công trình nhận định quá
trình năng lượng tạo ra trong các sao. Năm 1967 được giải Nobel vậy lý cho
công trình nghiên cứu sự sản xuất năng lượng của Mặt trời , gọi là Stellar
nucleosynthesis. Ông công nhận là nguồn của năng lượng là các phản ứng nhiệt
hạch (thermonuclear reactions) trong đó Hydrogen được biến đổi ra Helium
Trong những năm của các thập niên 80 và 90, Bethe
vận động cho việc dùng năng lượng hạch nhân phục vụ cho hòa bình. Năm
1995, lúc ấy ông được 88 tuổi, Bethe đã viết một bức thư ngỏ kêu gọi tất cả
các nhà khoa học hãy "ngưng và chấm dứt" chế tạo các vũ khí hạch nhân.
Năm 2001 ông được Bruce Medal
Người ta lấy tên ông để đặt cho thiên thạch "30828
Bethe"
[1] Strasbourg được nhượng cho Ðức
sau trận chiến 1870, lúc đó mang tên là Straßburg, thành ra ông Hans Bethe
mang quốc tịch Ðức. Sau này, Straßburg được trao trả lại cho Pháp đổi tên
là Strasbourg cho đến bây
giờ.
[2] Gymnasium : trường trung học có
học trình 9 năm dành cho học sinh ưu tú, chuyên dạy văn hóa và văn chương cổ
điển cho học sinh học tiếp lên đại học.
[3] Privatdozent : giảng viên dạy đại học, chưa vào
ngạch trật (professeur d'université non titularisé). Trước còn tương đương
như giảng nghiệm viên.
Viết theo
-
http://en.wikipedia.org/wiki/Hans_Bethe
- From Nobel Lectures, Physics
1963-1970, Elsevier Publishing Company, Amsterdam, 1972
http://nobelprize.org/physics/articles/fusion/sun_cno.html