Những bài cùng tác giả
Tôi sinh ra đúng vào năm ông Trương Văn Bền mất. Khi lớn lên trong
tuổi học trò ở trung học, tôi vẫn còn được nghe nhiều người nhắc đến
ông và sản phẩm xà bông Việt Nam mà công ty ông sản xuất với niềm tự
hào kính phục pha lẫn với một sự nuối tiếc. Ký ức sâu xa từ nhỏ đó,
tưởng chừng như mất đi theo thời gian đã trở lại cách đây vài năm khi
tôi bắt đầu tìm hiểu và viết về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Người Anh, Mỹ thường gọi những người đầu đàn trong kỹ nghệ là
“captains of industry” (dịch nghĩa là “chỉ huy trưởng kỹ nghệ”) thể
hiện ý tưởng coi những người khai phá, lãnh đạo các công ty, tập đoàn
lớn có sức mạnh trong công nghiệp, kinh tế, tài chính, như những chỉ
huy trưởng các đơn vị chủ lực trên mặt trận phát triển kinh tế xã hội.
Vì thế tôi gọi ông Trương Văn Bền là người “chỉ huy trưởng kỹ nghệ”
đầu tiên của Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Đã có một số bài viết về ông Trương Văn Bền, nhưng hầu hết đều tương
tự, có nhiều thông tin được lập lại. Trong lúc tìm hiểu về cuộc đời và
sự nghiệp của ông Trương Văn Bền, tôi đã có may mắn là liên lạc được
với một người cháu nội của Trương Văn Bền là anh Phillipe Trương, hiện
sống ở Pháp. Qua điện thư, anh Phillippe đã cho tôi biết được nhiều
thông tin thêm về ông Trương Văn Bền. Một số thông tin mới về ông, tôi
cũng tìm được qua các biên bản chính thức của các buổi họp Hội đồng
kinh tế lý tài Đông Dương (Recueil des procès-verbaux des séances
plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et financiers de
l'Indochine) mà ông Trương Văn Bền là một thành viên trong nhiều năm.
Tổng hợp các tư liệu trên, tôi xin trình bày một vài nét phác họa
chính về ông. Theo các tác giả, có thể bắt đầu từ Vương Hồng Sển hay Hứa Hoành, thì
Trương Văn Bền là người Minh Hương gốc Triều Châu, nhưng thật ra không
đúng vậy. Theo người cháu nội của ông, anh Phillipe Trương hiện nay
sống ở Pháp thì gốc ông ở Phước Châu, Phúc Kiến, ngay tại Ngũ Hổ Sơn.
Tổ tiên của Trương Văn Bền là Trương Thuận Tri, một sĩ quan tùy tùng
của tướng nhà Minh Dương Ngạn Địch. Dương Ngạn Địch và người tướng
khác nhà Minh là Trần Thượng Xuyên dẫn đoàn quân gồm binh sĩ cùng gia
đình của họ từ Quảng Đông lánh nạn nhà Thanh đi trên đoàn tàu đến Việt
Nam vào thế kỷ 17. Được phép của chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Tân, Trần Thượng Xuyên và Dương
Ngạn Dịch xuông vùng đất mới Gia Định tìm chổ trú ẩn và lập nghiệp.
Trần Thượng Xuyên đến Cù lao Phố (Biên Hòa) định cư trong khi Dương
Ngạn Địch đến vùng nay gọi là Mỹ Tho. Trương Thuận Chi ở Mỹ Tho một thời gian sau đó đến vùng Chợ Lớn ngày
nay. Một người cháu của Trương Thuận Chi là Trương Quốc Thái (sinh vào
khoảng đầu thập niên 1800) được nhà Nguyễn bổ chức Huyện Thừa ở Rạch
Giá. Sau ngày Pháp chiếm sáu tỉnh miền Nam, Trương Quốc Thái dời vào Huế và
được vua Tự Đức phong làm chức Phủ doãn ở tỉnh Bình Thuận. Sau khi
Trương Quốc Thái mất, người con của ông là Trương Quang Thanh trở về
miền Nam ở tại Chợ Lớn. Ông từ chối phục vụ trong chính quyền Pháp và
trở thành một người buôn bán bình thường. Trương Quang Thanh cũng là
một thi sĩ và họa sĩ. Ông mất vào năm 1905. Anh Philippe Trương hiện
nay vẫn còn giữ hai bức tranh do ông vẽ và nhiều bài thơ. Trương Quang
Thanh có 8 người con trai và một gái. Người con gái là bà Trương Thị
Cưởng, sau này thành hôn với ký giả Nguyễn Văn Sâm. Trương Văn Bền là
một trong 8 người con trai. Ông Trương Văn Bền sanh ngày 10 tháng 10
năm Giáp thân thời vua Hàm Nghi, (tháng 12 1884). Thưở thiếu thời, như nhiều gia đình khá giả và học thức, lúc đầu
Trương Văn Bền học chữ Hán. Sau đó năm 1896, ông bắt đầu giáo dục
Pháp, học ở các trường Ecole Municipale de Cholon, Collège de My Tho,
Lycée Chasseloup-Laubat (Saigon). Năm 1889, chính quyền thuộc địa Pháp
tổ chức lần đầu tiên kỳ thi Brevet élémentaire (cao đẳng tiểu học),
Trương Văn Bền ghi tên và thi đậu dễ dàng. Ông được bổ nhiệm chức vụ
Ký lục thượng thư. Năm 1901, ông rời bỏ không làm cho chính quyền Pháp nữa và trở lại
nghề buôn bán của cha ông. Lúc đầu ông bán đậu phọng, đậu xanh, đường,
trong một cửa tiệm nhỏ tọa lạc ở số 40 rue du Cambodge (Chợ Lớn). Sau
đó ông khuếch trương mua các loại hàng sỉ từ các thương gia người Hoa
rồi bán lại cho các tiệm bán lẻ ở Chợ Lớn. Năm 1905, ông mở một xưởng
sản xuất và tinh luyện dầu ở Thủ Đức. Ông dùng máy ép bằng hơi làm ở
Mỹ, mua từ Pháp. Một năm sau, ông mở một nhà máy xay gạo ở Chợ Lớn và
một ở Rạch Các. Ông cũng có một khách sạn và một tiệm mỹ phẩm ở Chợ
Lớn. Tuy vậy các cơ sở này không thành công bằng cơ sở sản xuất dầu
của ông ở Thủ Đức. Năm 1918, ông mở thêm một cơ sở sản xuất dầu nữa ở
Chợ Lớn. Xưởng này sản xuất đủ loại dầu từ dấu nấu ăn, dầu salat
(salad oil) đến dầu dừa, dầu castor, dầu cao su và các loại dầu dùng
trong kỹ nghệ. Trong ký sự “Một tháng ở Nam Kỳ” (1918), ông Phạm Quỳnh có nhắc đến
ông Trương Văn Bền như sau: “Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước
cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc
Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông Chợ Lớn. Xem qua cái công
cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi
trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ
hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được
cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp. “
 |
 |
Trương Văn Bền |
Gia đình Trương Văn Bền (1946) |
Từ những thành công ban đầu này, năm 1918, ông bắt đầu tham dự tích
cực vào đời sống kinh tế chính trị trong xã hội. Ông được bầu làm một
hội viên trong Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil Colonial) vào năm
1920, và sau đó năm 1924 là nghị viên Phòng Thương Mại (Chambre de
Commerce). Năm 1932, ông là người Việt nam đầu tiên được bầu làm phó
chủ tịch Phòng Thương Mại và giữ chức này cho đến năm 1941. Ngoài ra
ông còn là nghị viên Phòng Canh Nông (Chambre d’ Agriculture, 1922),
thành viên của hội đồng giám đốc quản trị (board of directors) của
Thương cảng Saigon (Port Commerce de Saigon) và ứng viên Hội đồng Quản
trị Sở Lúa gạo Đông Dương từ năm 1924.
Hình 1,2,3: Thương cảng Saigon quản lý bởi công ty Messageries
maritimes mà trụ sở là Bến Nhà rồng hiện nay. Hình 4: Nhà máy xay lúa
ở Chợ Lớn Trong thập niên 1920, ông nhảy vào lãnh vực canh nông. Lúc đầu ông mua
300 mẫu ruộng ở Mỹ Tho. Vài năm sau đó, năm 1925, ông cùng một số
người khác thành lập Công ty canh nông Tháp Mười (Société Rizicolte du
Tháp Mười). Công ty có hơn 10 000 mẫu và tạo công ăn việc làm cho hàng
ngàn nhân sự ở miền Tây Nam bộ. Ông làm Tổng giám đốc và là thành viên
của hội đồng quản trị công ty. Ông giữ chức vị Tổng giám đốc cho đến
năm 1931. Vai trò quan trọng của ông trong địa hạt phát triển canh nông, kỹ
nghệ, kinh tế tài chính được đánh giá cao trong xã hội. Ông được bầu
làm hội viên của Đại hội đồng Kinh tế lý tài Đông Dương (Grand Conseil
des Intérêts économiques et financiers de l'Indochine) năm 1929. Đại
hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương được thành lập năm 1928 để nghiên
cứu và giải quyết các vấn đề, liên quan đến kinh tế và tài chính ở
Đông Dương. Các vùng ở Đông Dương như Lào, Cam Bốt, Trung, Bắc và Nam
đều có thành viên. Trong Đại hội đồng, ông đã có nhiều đóng góp sửa
đổi nhiều chính sách kinh tế bảo vệ quyền lợi người dân bản xứ và
người nghèo khó ở Nam bộ. Qua các biên bản báo cáo chi tiết các cuộc
họp Đại hội đồng được công bố mỗi năm của chính phủ toàn quyền Đông
Dương (4) (5) ta có thể thấy một vài sự kiện thể hiện tinh thần bảo vệ
phúc lợi người dân của Trương Văn Bền. Thí dụ trong quyển báo cáo phát hành năm 1939 về các đề tài tranh luận
bỏ phiếu ở Đại hội đồng năm 1938, có viết một đoạn như sau (5):
“...
Ông Trương Văn Bền đọc một đề nghị như sau và đặt ra trước Đại Hội
đồng để được biểu quyết với sự đa số tuyệt đối
Đại hội đồng
Chiếu rằng trong dự án tổng ngân sách năm 1939, chính phủ có nhiệm vụ
thi hành những công trình mới (thủy lợi và vét kinh) từ quỹ trương mục
Nam kỳ một số tiền là 724000 đồng;
Chiếu rằng những công trình này cho tới nay được thực hiện mà không
lấy ý kiến từ các thành viên của Nam kỳ được bầu vào Hội đồng;
Chiều rằng trong năm 1938, Sở Công chánh chỉ chi tiêu trong các chương
trình trên một số tiền 470000 đồng so với ngân sách tiên đoán cho dự
án là 745000 đồng;
Chiếu rằng làm các kênh đào ở Nam kỳ thường luôn có kết quả tốt trên
phương diện thoát nước, cải tiến đất cũng như làm giảm mực nước sông
Cửu Long trong mùa lũ;
Chiếu rằng các công trình này được trả từ các quỹ đã có;
Trên cơ sở tiền thâu được từ thuế (*) trên xuất cảng gạo và dịch vụ
liên quan vào khoảng 6000000 đồng; Đề nghị sau đây được đưa ra biểu quyết
1.- Các điều được xóa bỏ là điều 122, điều thứ nhất (các công trình
thoát nước và thủy lợi ở Nam kỳ);
2.- Hoàn lại 0$50 trên mỗi đồng tiền thuế xuất cảng gạo và các dịch vụ
liên quan thâu được ở Nam kỳ. Tiền hoàn lại sẽ được ghi vào Chương 9,
điều 8 Số tiền hoàn là 1500000 x 0.50 = 750000 đồng ((* ) ở toàn Đông Dương, chú thích của tác giả) Đại biểu ông Marinetti chú thích là trong số lượng gạo xuất cảng ở
cảng Saigon có 200000 tấn là từ Cam Bốt. Ông Tổng thư ký phủ nhận những phê bình về vấn nạn của Sở thủy lợi mà
sự thành lập được đòi hỏi tức thì cách đây không lâu. Trái với những điều mà ông đại biểu Trương Văn Bền nêu lên, phương
thức tín dụng mỗi năm được chi tiêu trong giai đoạn thi hành hợp đồng
với Công ty Đào vét (Société des Dragages) nói chung phù hợp với số
lượng tiền ghi trong ngân sách. Ông tổng thư ký kêu gọi sự chú ý của
Đại hội đồng về tính cách đặc biệt của các công trình thủy lợi cần
thời gian dài thực hiện và vì thế cần thiết một sự liên tục dựa trên
kỹ thuật chuyên biệt. Ông Trương Văn Bền đòi hỏi lần nữa là có sự biểu quyết qua lá phiếu đề
nghị của ông, và sự đào kênh lại. Ông Combot ủng hộ đề nghị của ông Trương Văn Bền, và bày tỏ sự ngạc
nhiên là các công trình thủy lợi đã được thực hiện mà không có sự đòi
hỏi, yêu cầu nào của dân chúng ở các vùng liên hệ. Ông giám đốc tài chánh cho hội đồng biết là sự bỏ phiếu của đề nghị sẽ
không có ảnh hưởng đến tài chánh năm 1939. Sau khi đọc, đề nghị của ông Trương Văn Bền được chấp thuận với 25
phiếu thuận và 5 phiếu chống. ...“ Một thí dụ khác như trong quyển báo cáo năm 1940 về các đề tài tranh
luận bỏ phiếu ở Đại hội đồng năm 1939 có đoạn nói về quản lý tiêu
chuẩn dược phẩm. Trong cuộc tranh luận giữa các thành viên về thuốc cổ
truyền đông y, ông Trương Văn Bền cũng phát biểu phản đối đạo luật của
chính phủ ban hành ngày 24/10/1939 hạn chế và quản lý chặt chẽ sự sử
dụng thuốc bắc cổ truyền trong quần chúng. Ông nói lên sự bất bình của
đa số quần chúng về đạo luật trên. Ông phàn nàn là Đại hội đồng, các công dân bảo hộ và nhiều nhân vật
người An Nam thuộc nhiều thành phần khác nhau đã không được hỏi ý kiến
trước khi có quyết định và đòi hỏi là đạo luật được đình chỉ, chờ sự
thành lập một ủy ban để quản lý vấn đề thuốc ta cổ truyền và thuốc tây
một cách hợp lý và hài hòa. Đa số người dân không có khả năng mua
thuốc tây và do đó họ đều dùng thuốc ta cổ truyền, mặc dầu có sự lạm
dụng của một số đông y sĩ. Một số thành viên trong Đại hội đồng như
ông Thương Công Thuận, Trần Văn Kha, Tôn Thất Viên Đề ủng hộ ý kiến
của ông Trương Văn Bền. Ông Tổng thư ký Đại hội đồng tán thành nhưng
cho rằng phải có một sự quản lý nào đó ít nhất để tránh lạm dụng toa
thuốc độc hại. Về phương diện thực tiễn thì khó có thể quản lý được vì
người chẩn bệnh cũng là người làm và chế thuốc. Ông Phan Văn Giao ủng hộ đạo luật của chính phủ để quản lý thuốc ta.
Ông Tôn Thất Viên Đề còn đặt ra câu hỏi là tại sao thuốc Tây lại rất
đắt qua đó ông Giao cho là vì những người trung gian đã lợi dụng kiếm
lời quá cao nên mới có sự thể như vậy. Ông Baffeleuf, chủ tịch Đại hội
đồng nói rõ cho ông Đề là ông (Baffeleuf) cũng là thành viên trong Ủy
ban trung ương kiểm soát nên ông bảo đảm với ông Đề là sự tăng giá
thuốc chỉ có được phép sau khi có sự điều nghiên kỹ lưỡng. Ông
Baffeleuf đồng ý là luật mới đã gặp nhiều phản ứng bất lợi và đưa ra
đề nghị của Đại hội đồng là luật mới ra quá sớm và cần có sự nghiên
cứu lại kỹ lưỡng trong quản lý để áp dụng từ từ và đúng mức trong giai
đoạn chuyển tiếp (4). Đáng để ý là trước đó vào năm 1931, bác sĩ Yersin cũng đã trình bày
trước Đại hội đồng về sự cần thiết trồng cây quinine làm thuốc chống
sốt rét ở Đông Dương và sự liên hệ hợp tác giữa viện Pasteur Saigon và
các cơ quan liên hệ của phòng canh nông ở Đông Dương. Từ năm 1923, bác
sĩ Yersin cho biết là ông đã nghiên cứu các mẫu vỏ cây quinine từ các
cây được thử trồng sao cho thích hợp với khí hậu ở một số đồn điền ở
Đà Rằng (Dran) và Di Linh (Djiring) trên Tây Nguyên với độ cao như các
cây quinine trồng thành công ở Java khoảng 1500 m. Trước đó năm 1917,
Yersin đã thử ở Hòn Bà gần Nha Trang. Bác sĩ Yersin hy vọng là sẽ
thành công phát triển cây quinine và kỹ nghệ chế biến thuốc chống sốt
rét cho toàn cõi Đông Dương với sự trợ giúp của Đại hội đồng. Theo quyển « Tự Điển Tác Giả Việt Nam » của ông Nguyễn Q. Thắng (NXB
Văn Hóa, 1999) thì ông Trương Văn Bền cũng có viết 3 tác phẩm: Phương
pháp chế tạo xà phòng (1918), Phương pháp cải tạo các giống lúa (1932)
và Phương pháp lấy dầu thông (1932) (2). Ở Nam Kỳ, các cơ quan tư vấn tối cao, phụ tá cho Thống đốc như Hội
đồng Quản hạt Nam Kỳ, Đại hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương, Hội đồng
Canh nông, và Phòng thương mại, đều có ông Bền là hội viên. Mặc dầu ở địa vị cao và có thế trong xã hội, ông không bao giờ khoe
khoang tự mãn, trái lại ông rất khiêm tốn, tập trung vào công việc
phát triển kỹ nghệ, kinh tế, kinh doanh mang đến phúc lợi cho quần
chúng.

Pont des Malabars et quai (Bến Bình Đông, dọc kênh Tàu Hủ, Chợ Lớn) Nói về kinh nghiệm trong thương trường và bí quyết thành công, ông
Trương Văn Bền có cho biết một số ý kiến như sau (trích nguồn (3)) “…
Đầu những năm 1930 trong dịp Tết Nguyên đán, các báo Sài Gòn thường
đăng phỏng vấn quảng cáo thương mại. Những bài này thường rất ăn khách
do người đọc thích tìm hiểu bí quyết thành công của các nhà kinh doanh
nổi tiếng. Trong đó có bài phỏng vấn ông Trương Văn Bền đăng trên báo
Sài Gòn Xuân 1939 đã thu hút rất nhiều độc giả thời bấy giờ quan tâm.
Mặc dù thời đó không có những khái niệm chuyên môn như tiếp thị, đầu
tư, thương hiệu... Nhưng nội dung chủ yếu của bài báo lại xoay quanh
những vấn đề này. Có thể nói, bài phóng sự đó đã có ý nghĩa cần thiết
không những đối với những nhà kinh doanh cùng thời mà còn là con đường
sáng cho doanh nhân ngày nay suy ngẫm và so sánh. Trong bài báo phóng viên hỏi tại sao người Việt thường thất bại trong
thương mại và kỹ nghệ. Không cần suy nghĩ lâu, ông Trương Văn Bền trả
lời: “ Tại người mình ưa bắt cá hai tay, ưa làm nhiều việc quá. Việc
này chưa xong, họ đã xoay qua làm việc khác, thành thử không việc nào
vẹn toàn. Rốt cuộc hỏng cả”. ông nói tiếp: “Lý do thứ nhì là do không
thông thạo việc nên thất bại. Bất cứ việc gì, trước khi làm mình phải
biết rõ việc ấy. Phải học, phải nghiên cứu kỹ càng mới được. Người Tây
trước khi làm việc gì họ cũng học trước cả. Cho đến một việc đứng bán
hàng, ta cho là tầm thường và tưởng ai ai cũng có thể làm được. Nhưng
đối với họ đó là việc quan trọng cũng có sách có trường dạy hẳn hoi,
dạy từ cách tiếp khách, khoe hàng làm sao cho người khách mua rồi thì
còn trở lại. Người mình có một cái rất bậy là chỉ thấy cái lợi trước
mắt, chỉ cốt làm sao bán được món hàng lúc ấy mà thôi, không chịu hiểu
rằng người khách thấy mình bị tiếp đãi không được như ý, hoặc bị lừa
gạt mua nhầm hàng xấu, về sau không thèm trở lại nữa, vì vậy mà ế ẩm.
Như tôi đây cơ sở đã vững vàng rồi mà ngày nào cũng tìm sách, tìm báo
đọc thêm”. Khi được hỏi về bí quyết thành công, ông Bền nói: “ở xứ mình, trong
giới kỹ nghệ còn trống chỗ nhiều, muốn lập kỹ nghệ nào cũng dễ lắm.
Không cần phải có vốn nhiều. Vốn ít, càng tốt hơn. Ban đầu không nên
làm rình rang, đã vô ích mà còn có hại, cứ khởi sự nho nhỏ, đi lần lần
từng bước. Cần nhất phải có chí nhẫn nại. Như tôi đây bị thất bại đã
mấy phen, nhưng có thất bại mới có thêm kinh nghiệm. Thứ nhất là bền
chí. Thứ hai là phải có sức khỏe, làm gì thì làm mỗi buổi sáng tôi
cũng dậy sớm tập nửa giờ thể dục. Không có sức khỏe, hay đau ốm thì
dẫu tài giỏi đến bực nào cũng thành vô dụng. Tóm lại sức khỏe, sự học
hỏi, sự bền chí là những điều kiện của sự thành công”.
…
“ Trương Văn Bền cũng là hội viên của hội đồng quản trị Sở lúa gạo Đông
Dương khi sở này được thành lập năm 1924, chủ tịch Liên hiệp canh nông
(Union d’Agriculture), chủ tịch nhà băng Tín dụng Canh nông Chợ Lớn
(Caisse de Crédit Agricole du Cholon) năm 1932, phó chủ tịch Phòng
Canh nông (Chambre d’ Agriculture) trong thời gian 1932-1941 và là
thành viên của Hội đồng sản xuất kỹ nghệ Đông Dương (Conseil de
production industriel d’ Indochine) khi được thành lập vào năm 1941.
Ông thành lập năm 1941 hai nhà máy xay lúa sản xuất hơn 100 tấn gạo
mỗi ngày. Trong bài diễn văn của ông Henri Maspéro (nhà sử học chuyên về Trung
Hoa, anh của George Maspero, tác giả sách “Vương quốc Champa”) đọc
nhân dịp khai hoạt của Hội đồng quản hạt (Conseil Colonial) ngày 12
tháng 02 năm 1920, nói về ông Trương Văn Bền như sau (2): «.. Cuối cùng, ông Bền đủ tất cả điều kiện và khả năng đại diện ở Hội
đồng này các kỳ vọng mới của đồng bào ông. Trong thời điểm mà người An
Nam không còn nghĩ đến việc đóng vai trò tích cực vào sự phát triển
kinh tế ở Nam kỳ, ông đã, bằng phương tiện sức của chính mình, tạo ra
một kỹ nghệ mà ông biết rõ, bằng sự bền chí, ý chí, thông minh sáng
tạo và làm việc, đã đặt ông vào hàng quan trọng bậc nhất. Những đồng
bào của ông khi bầu ông vào đây, đã cho thấy từ đây họ chú ý và tham
dự vào đời sống kinh tế của thuộc địa, và sự nhận hiểu mà họ có với
các đồng bào của họ, đã mở đường và là một gương mẫu tốt cho họ.” Tuy là trong hội đồng quản hạt Nam Kỳ, ông không hoàn toàn theo Pháp.
Ông Ngo Van trong « Vietnam 1920-1940 révolution et contre-révolution
sous la domination coloniale » có ghi: « Quelques autres conseillers,
dont l’avocat Gallet, défenseur de Nguyên An Ninh, et Truong Van Bên,
le (Nguyên Tan Duoc) suivirent dans la voie de la critique » (p.54)
(2) (“Những thành viên khác trong hội đồng, trong đó có luật sư
Gallet, người bảo vệ Nguyễn An Ninh, và ông Trương Văn Bền đã theo ông
Nguyễn Tấn Dược trong đường lối chỉ trích”) Ngày 21 tháng 03 năm 1926, theo lời kêu gọi của ông Dejean de la Bâtie
và Nguyễn An Ninh để chống sự trục xuất nhà báo Trương Cao Dong ra
Annam ông Trương Văn Bền đã có mặt tại vườn Xoài. Theo bài báo của ông
Dejean de la Bâti trong La Cloche Fêlée (23.03.1926) : « Président : M
Le Quang Lien dit Bay, constitutionnaliste, assisté de M. Truong Van
Ben, conseil colonial constitutionnaliste, et Phan Van Truong, avocat
et directeur de La Cloche Fêlée… » (p. 60) (2). Ngoài lúa gạo, ông nhận thấy nhiều tiềm năng cho các sản phẩm canh
nông khác ở miền Nam như dừa. Từ năm 1928, khi ông thành lập xưởng chế
dầu ở Chợ Lớn sản xuất các loại dầu ăn và dầu công nghiệp và bắt đầu
từ năm 1932, ông mở thêm nhà máy làm xà bông từ dầu nông sản. Vào thời
gian này và trước đó, hầu hết xà bông dùng trong nước và ở Đông Dương
là nhập cảng từ Pháp. Chỉ có một số ít xà bông làm từ các xưởng nhỏ
thủ công ở Chợ Lớn với chất lượng kém nên có giới hạn rất nhỏ và càng
không thể cạnh tranh và so sánh với xà bông nhập từ Marseille, một
thành phố Pháp. Xà bông là sản phẩm mang lại cho ông nhiều tiếng tăm và tiếp cận mọi
người nhiều nhất. Tên của Trương Văn Bền gắn liền với xà bông Việt
Nam, xà bông “Cô Ba”. Hãng xà bông của ông tọa lạc trên đường Rue de
Cambodge (nay là Chợ Kim Biên, quận 5). Công ty của ông gọi là Trương
Văn Bền và các con – Dầu và Xà bông Việt Nam (Truong Van Ben & fils –
Huilerie et Savonnerie Vietnam). Xưởng dầu của ông ở Chợ Lớn mỗi tháng
sản xuất khoảng 1500 tấn dầu dừa và hãng xà bông Trương Văn Bền sản
xuất khoảng 600 tấn xà bông và 10 tấn glycerine trong năm 1943, vào
thời kỳ khó khăn ở nhiều nước do chiến tranh đệ nhị thế chiến. Công ty
Trương Văn Bền và các con là công ty quan trọng nhất sản xuất dầu và
xà bông trên toàn cõi Đông Dương. Xà bông Việt Nam và xà bông thơm “Cô Ba” được nhiều người ưa chuộng vì
chất lượng tốt và giá phải chăng cho mọi người tiêu dùng. Trên thị
trường, xà bông Việt Nam và xà bông thơm “Cô Ba” đánh bạt xà bông thơm
“Mac Xây” (Marseille) của Pháp nhập từ chính quốc. Ngoài Việt Nam, xà
bông “cô ba” được dùng rộng rãi ở Lào và Cam Bốt, được xuất khẩu qua
Hong Kong, Tân Đảo (Nouvelle Caledonie) và một số các nước châu Phi.

Sản phẩm xà bông Việt Nam của Trương Văn Bền và các con Trương Văn Bền là một doanh nhân luôn tìm hiểu với tầm nhìn xa và nhạy
bén đến những áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất thực tiễn và
đầu tư khuếch trương tìm những hướng đi mới. Với đầu óc thoáng và rộng
rãi, ông đã thiết lập thành công cơ sở sản xuất và kinh doanh của công
ty ông rất hữu hiệu và hiện đại. Ông không tự tìm hiểu và học hỏi để
trở thành chuyên viên làm xà bông có chất lượng tốt như nhiều người
lầm tưởng. Ban đầu ông gởi một kỹ sư giỏi qua Paris để tìm hiểu kỹ
thuật làm xà bông với một kỹ sư người Pháp ở nhà máy làm xà bông
Mazet. Lúc đó đã có hai nhà máy làm xà bông của Pháp ở Saigon do các
ông Mazet và Boris làm chủ.
  Trong hồi ký của ông, ông viết về sự chọn lựa tên sản phẩm xà bông của
ông như sau (2): “ Tôi đang tìm kiếm tên nào kêu, dễ gọi, dễ nhớ để đặt tên cho Xà-bông
mà chưa kiếm ra. Ngoài Bắc, phong trào cách mạng Việt Nam quốc dân
đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu nổi lên nhiều chỗ và đã bị thất bại
đau đớn, đến lúc Tây xử tử họ ở Yên Bái thì mười người như một, trước
khi đút đầu vô máy chém đều bình tĩnh hô to : “Việt Nam vạn tuế” gây
một luồng dư luận sôi nổi ở trong nước và thế giới. Tôi không bỏ lỡ vội chụp lấy vụ này, lấy tên Việt-Nam đặt cho xà-bông,
gọi Savon Việt-Nam để nêu lòng ái quốc đang bồng bột ở trong xứ,
xà-bông Việt-Nam là của người Việt làm cho người Việt, người Việt yêu
nước phải dùng đồ Việt Nam”.

Về sự chọn lựa biểu tượng của xà bông Việt Nam, ông đã dùng hình ảnh
của một người con gái đẹp Việt nam rất đậm dân gian Nam bộ là “Cô Ba”.
Không biết trong trường hợp nào ông đã dùng hình ảnh của một người phụ
nữ “cô Ba” với nét đẹp có duyên Nam bộ, nhưng biểu tượng này của vùng
đất miền Nam đánh trúng tâm lý dễ dàng nhận diện và quen thuộc của con
người trong vùng đã là một yếu tố quan trọng để sản phẩm của ông được
tiếp nhận rộng rãi. Một trong những tin đồn huyền thoại dân gian kể
lại thì “Cô Ba “ chính là con gái Thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, người
đàn bà đẹp nhứt Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20. Theo ông Hứa Hoành (1) thì
cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh
“Cô Ba”, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản
phẩm hàng hoá của mình bán chạy. Nhưng các giai thoại và tin đồn như
trên về “Cô Ba” đều không đúng. Thật ra người phụ nữ ấy chính là người
vợ của ông. Ta có thể thấy hình ảnh trên nhãn hiệu và ảnh của phu nhân
ông Trương Văn Bền là một. Vả lại, trước kia trong phong làm việc của
ông tại công ty Xà Bông Việt Nam có tương bằng đồng đen hình vợ ông
dùng làm mẫu cho hình trên hộp xà bông (2). Với sự ra đời của hãng xà bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt
Nam hãnh diện có được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần vào công
cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai. Trong sự tiếp thị sản phẩm trên thị trường cạnh tranh lúc đầu và sau
này cho đến khi ông mất để khuếch trương thương hiệu, Trương Văn Bền
đã khôn khéo sáng tạo không kém những doanh nhân nổi tiếng hiện nay
như Bill Gates của Microsoft. Trên báo chí ở Việt Nam từ khi xà bông
Việt nam được sản xuất vào năm 1932, trong mục quảng cáo thường đăng
“Dùng xà bông xấu, mục quần áo” hoặc “Người Việt Nam nên xài xà bông
Việt Nam” của Hãng Xà bông Trương Văn Bền. Trong các cuộc triển lãm
được mở cửa hàng năm tại các tỉnh và Sài Gòn, bao giờ gian hàng của
ông Bền cũng được thiết kế ấn tượng nhất với mô hình một cục xà bông
khổng lồ gây được sự chú ý và tò mò đặc biệt của người xem. Chưa dừng
lại ở đó, tại các gian hàng còn có bán xà bông gọi là chào hàng với
giá rẻ hơn bên ngoài đến 25%. Trương Văn Bền còn đưa nhãn hiệu xà bông
Trương Văn Bền vào những loại hình nghệ thuật dân tộc được người Việt
yêu thích như vọng cổ, thơ lục bát đề cao tinh thần dân tộc, lòng yêu
nước... khiến cho từ giới bình dân đến trí thức người Việt đều biết
đến sản phẩm của ông (3). Sau đây là là vài đoạn trong nhật ký của ông Trương Văn Bền (2): « Thấy xà-bông bán chạy tôi làm thêm một chảo nữa. Nay nhiều thêm thì
phải làm quảng cáo dữ mới bán được. Một mặt phải kiếm thế ép mấy hàng
tạp hóa mua xà-bông Việt Nam về bán, vì tiệm tạp hóa hầu hết của khách
trú, chúng xấu bụng không mấy khi chịu mua đồ của người Việt-Nam chế
tạo về bán, chi trừ khi nào món đồ ấy đã được thông dụng đem cho chúng
một mối lợi hàng ngày thì chúng mới chịu mua. Tôi bèn huy động một tốp
người cứ lần lượt hàng ngày đi hết các tiệm tạp hóa hỏi có xà-bông
Việt-Nam bán không ? Hễ có thì mua một, hai xu, bằng không thì đi chỗ
khác, trước khi bước chân ra khỏi tiệm nói với lại một câu « Sao không
buôn xà-bông Việt-Nam về bán ? Thứ đó tốt hơn xà-bông khác nhiều ».
Hết người này tới người khác, thét rồi chủ tiệm cũng phải đẻ ý lấy làm
lạ, phải hỏi lại chỗ bán xà-bông Việt-Nam, cho người mua thử về bán.
Tốp thì ôm đờn ca vọng cổ tán dương tính chất của Xà-bông Việt Nam,
tốp thì đi đánh võ rao hàng, rồi đá banh tôi cũng cho mặc áo thêu
Xà-bông Việt Nam. Nói tóm lại tôi không bỏ lỡ một dịp nào mà không làm
quảng cáo, nên Xà-bông Việt-Nam bán chạy lắm ». (Đoạn này cho biết là
năm 1922, ông đã dùng quảng cáo để bán hàng) « Nhờ sức mạnh của quảng cáo, xà-bông Việt-Nam tiến phát mau lắm, chỗ
nào cũng buôn xà-bông Việt-Nam, ai nấy chỉ dùng xà-bông Việt-Nam thôi.
Thấy mối lợi như vậy nhiều người chóa mắt cũng làm xà-bông để tranh
dành, như Bà Đốc phủ Mầu ra xà-bông « Con Cọp », Balet ra xà-bông «
Nam-Kỳ » cũng đầu người đờn bà như Việt-Nam, Nguyễn Phú Hữu ra xà-bông
« 3 sao » ở Cần Thơ, v.v. nhưng tranh đua không lại Xà-bông Việt-Nam,
đều bị thất bại, bỏ cả. Số sản xuất của Xà-bông Việt-Nam lần lần lên
tới 200 tấn, bán cùng Saigon, lục tỉnh, Trung kỳ, Bắc kỳ, Ai lào, Cao
miên. » « Năm 1941, tôi chịu cho sở binh lương một ít lợi quyền, nên bán được
giá cao, chở đi Madagascar, Réunion, v.v. Mấy xứ thuộc địa Pháp này
vẫn mua xà-bông Mạc-Sây, nay chiến tranh giao thương bế tắc nên phải
mua của tôi, mà chính là mấy hãng ở Mạc-Sây thiệt thọ mua để bán đi
các nơi ». Ông cũng cho biết: « Trong 6 năm thế giới chiến tranh (1939-1945) mấy
hãng dầu và xà-bông làm ăn tấn phát lắm, một cơ hội may cho mấy hãng
Tây như Borris, Mattrat và Delaunay, vì chiến tranh, việc xuất nhập
cảng khó khăn. Trong ủy ban giám đốc hầu hết là người Pháp nhưng tôi
là nhân viên Hội đồng quản hạt, hãng xà-bông của tôi lại sản xuất
nhiều hơn họ nên họ phải để tôi làm Chủ tịch ». Vì thế cũng không lạ gì, tên tuổi và sản phẩm của Trương Văn bền nổi
tiếng và là niềm tự hào của nhiều người, nhất là ở trong Nam. Mặc dầu
ông mất từ năm 1956 nhưng cho đến đầu thập niên 1970, nhiều người vẫn
còn nhắc đến ông với sự kính trọng trong tình đồng bào và tình cảm
thân cận gần gũi như trong nhà. Ông đã chỉ ra và làm gương cho nhiều
người đi sau để khuếch trương tiềm năng tháo vát sáng tạo và tinh thần
của người Việt Nam trong kinh tế và thương mại. Cũng theo ông Hứa Hoành (1) thì trong bảng lượng giá để đánh thuế của
Phủ toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội, năm 1941, ông Trương Văn Bền phải
đóng cho chính phủ một số tiền lên tới 107.000 đồng (trong khi đó, giá
vàng khoảng 60 đồng/lượng). Điều này chứng tỏ công ty Trương Văn Bền
và các con là một trong những công ty làm ăn rất phát đạt ở Đông Dương
tạo ra của cải công ăn việc làm cho bao người và thúc đẩy kinh tế phát
triển trong nhiều lãnh vực.
Sau năm 1948, Trương Văn Bền rời Việt Nam và sống tại Paris. Ông trở
thành hội viên của Phòng thương mại Quốc tế (International Chamber of
Commerce) và đi chu du khắp nơi trên thế giới. Ông viết hồi ký ở Paris
và khi ông mất, anh Phillipe Trương cho đến nay giữ tập hồi ký này của
ông. Ông Trương Văn Bền cũng là bạn ông Hui Bồng Hỏa (chú Hỏa), gia
đình hai bên thỉnh thoảng thăm viếng ở Saigon và Nước Ngọt nơi hai ông
có cư dinh (2). Ông Bền có nhiều con, trai lẫn gái. Một người con là ông Trương Khắc
Trí, từng là chủ tịch ban quản trị Việt nam Công Thương Ngân Hàng (lập
năm 1953) tại Sài gòn và là tổng giám đốc công ty xà-bông Việt Nam từ
1959 đến 1965. Ông Trương Khắc Huệ, sau khi tốt nghiệp trường đại học
hóa học tại Marseille, tham gia vào công ty Trương Văn Bền làm giám
đốc kỹ thuật từ năm 1945 đến 1965 và tổng giám đốc từ năm 1965-1970.
Ông Huệ cũng là hội trưởng nghiệp đoàn kỹ nghệ dầu và xà-bông miền Nam
Việt Nam (1965-1975) và là tổng thư ký Tổng Đoàn Công Ty kỹ nghệ Việt
Nam (1969-1975). Trong thời gian này, ông Trương Khắc Huệ là nguời tạo
ra những sản phẩm mới như xà-bông hương ngài và nhứt là bột giặt (2).
Người con trai út, ông Trương Khắc Cần, quản lý công ty từ năm 1970
đến 1975. Thời kỳ sau khi Trương Văn Bền mất, từ năm 1959 cũng là thời kỳ nhiều
biến động trong lịch sử Việt Nam. Xà bông Việt Nam của Trương Văn Bền
vẫn chiếm lĩnh phần lớn thị trường cho đến khoảng giữa thập niên 1960,
khi hàng hóa, xà bông, bột giặt Mỹ bắt đầu tràn ngập miền Nam. Các
công ty mới ở Việt Nam cũng thành lập sản xuất bột giặt thay thế phần
lớn nhu cầu dùng xà bông để giặt giũ. Công ty Trương Văn Bền và các
con, lúc đó đã đổi thành Hãng xà bông Việt Nam, vẫn nỗ lực cạnh tranh,
sản xuất thêm sản phẩm bột giặt Việt Nam cạnh tranh với các loại bột
giăt Mỹ và bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi. Sau năm 1975, nhà nước mới trưng thu một phần cơ sở của Hãng Xà bông
Việt nam để trở thành Nhà máy hợp doanh Xà bông Việt Nam thuộc Bộ Công
nghiệp nhẹ. Năm 1995, đơn vị này trở thành công ty Phương Đông thuộc
Bộ Công nghiệp. Tháng 7/1995, công ty Phương Đông liên doanh với tập
đoàn Proter & Gamble lập một nhà máy mới ở Bình Dương (1). Một thời quá khứ ngang dọc vang danh của nhà kỹ nghệ và doanh nhân nổi
tiếng Việt Nam nay chỉ còn là ký ức. Một nghĩa cử tốt đẹp ít nhất
chúng ta nên có để nhớ tới một trang lịch sử doanh nghiệp rất đáng tự
hào, gương sáng cho tương lai và thế hệ mới ngày nay trong thời đại
toàn cầu hóa. Cần ghi lại, phổ biến, khuyến khích học hỏi tinh thần
doanh thương, mạo hiểm trên doanh trường nhưng đầy trách nhiệm với xã
hội của Trương Văn Bền. Công ty Phương Đông ngày nay cũng nên tự hào
ghi vào lịch sử công ty của mình những thành tích đáng khâm phục của
người tiên phong mở đường cho công kỹ nghệ doanh thương Việt Nam.
Tham khảo
(1) Hứa Hoành, Những nhà phú hộ và người lừng danh ở Nam kỳ,
http://namkyluctinh.org/a-lichsu/huahoanh/huahoanh-phuho%5B4-kynghe%5D.htm
(2) Phillipe Truong, theo thông tin trong các điện thư do Phillipe gởi
cho tác giả
(3) Khuyết danh, Trương Văn Bền (1883-1956),
http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=467:truong-van-ben-1883-1956&catid=88:nhung-nha-kinh-te&Itemid=270
(4) Gouvernement general de l'Indochine, Recueil des procès-verbaux
des séances plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et
financiers de l'Indochine, Session ordinaire de 1939, Imprimerie
d'extrême-orient, Hanoi, 1940,
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k56273414.image.f115.tableDesMatieres
(5) Gouvernement général de l'Indochine, Recueil des procès-verbaux
des séances plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et
financiers de l'Indochine, Session ordinaire de 1938, Imprimerie
d'extreme-orient, Hanoi, 1939, pp. 201-202,
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5453910r.image.f203.tableDesMatieres
và
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5453910r.image.f000204.tableDesMatieres
Nguyễn Đức Hiệp
|