Những bài cùng tác giả
Năm 2005, là năm kỷ
niệm Einstein như nhiều người biết. Ít được biết hơn là năm 2005 cũng là năm
kỷ niệm 150 năm ngày mất của Carl Friedrich Gauß, ông hoàng của toán học (princeps
mathematicorum) như các nhà toán học đồng thời và các thế hệ sau tôn vinh.
Laplace, nhà toán học Pháp nổi tiếng thời đó, bảo rằng: "Nếu ai hỏi tôi ai
là nhà toán học lớn nhất của Đức thì tôi sẽ nói rằng đó là Johann Friedrich
Pfaff; còn nếu hỏi tôi ai là nhà toán học lớn nhất châu Âu thì đó chính là
Carl Friedrich Gauß".
Gauß chào đời
cách đây đúng 230 năm
vào ngày 30 tháng 4 năm 1777,
trong một gia đình hạ lưu ở thành phố Braunschweig, miền Trung Đức
(lúc bấy giờ là vương quốc Hannover). Cha ông phải làm đủ
việc nặng nhẹ để nuôi sống gia đình. Mẹ ông, Dorothea Bentze, tuy là một phụ
nữ thông minh và đảm đang nhưng cũng
lam lũ rất nhiều trước khi về làm vợ sau của Gebhard Dietrich Gauß và sinh ra
cậu con duy nhất. Gauß rất
gần gũi và thương mẹ,
về sau phụng dưỡng bà 22 năm dài cho đến khi bà mất.

Từ nhỏ, Gauß đã nhiều lần làm cha
mẹ và thày giáo kinh ngạc về khả năng tính toán, tương truyền ông đã giúp
cha rất nhiều về việc kiểm tra sai sót trong sổ sách. Theo chính Gauß kể lại
sau này, bà Gauß không nhớ rõ ngày sinh của con mà chỉ còn biết là nhằm thứ
tư, tám ngày trước lễ Thăng Thiên (Himmelfahrt/Ascension) năm đó. Thế là cậu
bé Gauß dịp này đã tìm ra công thức xác định ngày lễ
Phục Sinh cho bất cứ một năm nào đó mà đến ngày nay vẫn còn sử dụng (tuy vậy do sai
lệch của Nguyệt lịch - không phải Âm lịch - mà công thức của Gauß chỉ đúng
đến năm 4200).
Từ những ngày đầu đi học Gauß đã
tỏ ra rất giỏi
về toán và cổ ngữ. Một câu chuyện thường được lưu truyền là cách giải tài
tình của cậu bé Gauß cho bài toán tính tổng số các số nguyên từ 1 đến 100:
Gauß nhận xét đó chính là tổng số của các cặp 1+100, 2+99, ..., mà có cả
thảy 50 cặp như vậy (theo E.T. Bell trong quyển sách nổi tiếng Men of
Mathematics, 1937, thì thật ra Gauß đã phải giải bài toán khó hơn là tính
tổng số 81297 + 81495 + 81693 +... + 100899, với cùng nguyên tắc như trên). Năm 11 tuổi,
vì hoàn
cảnh rất chật vật nên cha Gauß chỉ miễn cưỡng nghe theo trường mà cố gắng
cho cậu học tiếp ở Trung học Catharineum ở Braunschweig. May mắn là từ 1792 trở đi, công tước Karl Wilhelm
von Braunschweig khi biết đến tài năng của Gauß đã trợ cấp cho cậu theo học
Collegium Carolinum
(nay là Đại học Kỹ Thuật Braunschweig).
Trong ba năm học tại đây, Gauß vẫn đam mê số
học và cạnh đó cũng rất giỏi về cổ ngữ và sinh ngữ. Thời gian này Gauß còn
khám phá ra qui luật Bode (tỉ lệ gần đúng khoảng cách đến mặt trời của các
hành tinh trong Thái dương hệ) một cách độc lập và mở rộng định lý nhị thức
cho các số mũ hữu tỉ.
Được trợ cấp tiếp tục, năm 1795
Gauß lên học Đại học Göttingen, tuy vẫn chưa dứt khoát sẽ chuyên ngành về
toán học hay ngữ văn. Năm sau, chưa đầy 19 tuổi, Gauß đã khám phá ra cách
dựng đa giác đều 17 cạnh bằng thước kẻ và com-pa và từ đó quyết tâm theo
đuổi toán học (cùng thiên văn và vật lý). Cũng nên biết là các nhà toán học
từ thời Euklid (300 năm trước CN) đã bỏ ra nhiều công sức nghiên cứu cách
dựng các đa giác đều chỉ bằng thước kẻ và com-pa. Họ tìm ra rất sớm cách
dựng hình vuông, tam giác đều và ngũ giác đều, thêm vào đó là các đa giác
đều có số cạnh gấp đôi các hình này, cũng như đa giác đều 15 cạnh (kết hợp
ngũ giác đều và tam giác). Cả hơn 2000 năm sau đó mới có Gauß khám phá ra
cách dựng một đa giác đều khác là hình 17 cạnh (sau này trong
Disquisitiones Arithmeticae, 1801, Gauß chứng minh là có thể dựng được các
đa giác đều có số cạnh là số nguyên tố Fermat mà 17 là một). Cũng năm này,
Gauß còn tìm ra luật nghịch đảo bình phương, một kết quả cơ bản của lý
thuyết số (đại số modula) và định lý phân bố các số nguyên tố.
Một năm sau khi trở về
Braunschweig, 1799, Gauß trình luận án tiến sĩ tại đại học Helmstedt (thuộc
Braunschweig), trong đó ông đưa ra chứng minh đầu tiên cho Định lý cơ bản
của đại số học (đa thức bậc n trên trường đại số đóng như số phức
chẳng hạn có đúng n nghiệm trong đó). Bên cạnh rất nhiều chứng minh
khác của các nhà toán học đời sau, chính Gauß đã đưa ra thêm 3 cách chứng
minh khác (lần cuối vào dịp kỷ niệm 50 năm luận án của ông). Cũng nên nói
thêm rằng chính công trình này của Gauß từ đó đã đưa các số phức và cách
biểu diễn số phức (mặt phẳng Gauß) vào ứng dụng rộng rãi trong khoa học kỹ
thuật.
Được tiếp tục giúp đỡ tài chính
bởi công tước Karl Wilhelm mà Gauß rất biết ơn và gắn bó,
ông lưu lại nghiên cứu toán
học ở Braunschweig một cách độc lập.
Thời gian này Gauß hoàn thành bộ Disquisitiones arithmeticae,
một công trình toán học sâu
rộng nhất của thời bấy giờ. Trong đó ông trình bày tất cả các kết quả tìm
được một cách có hệ thống và cô đọng, chứng minh và giải đáp các vấn đề then
chốt, cùng lúc lại phác họa nhiều chiều hướng nghiên cứu mà đôi khi đến tận
ngày nay vẫn còn là thử thách. Nhiều tên tuổi toán học như Jacobi và Abel
chẳng hạn, nhìn nhận là đã phát triển lý thuyết hàm số elliptic của họ chỉ
nhờ một lời gợi ý nhỏ trong Disquisitiones.
Năm 1807, khi mới 30 tuổi,
Gauß được mời về đại học Göttingen nhận chức giáo sư thiên văn
học. Thật ra, thoạt đầu ông cũng lưỡng lự, nhưng
vào đúng lúc này vị công tước
chuộng khoa học xưa nay giúp đỡ ông lại tử trận trong chiến
tranh Napoleon nên vì sinh kế ông đã nhận
lời. Rất nhiều lần trước và sau đó Gauß được các trường đại học lớn
(và dồi dào tài
chính) hơn như Berlin, St. Petersburg, Wien hay Leipzig mời làm giáo sư,
nhưng ông từ chối tất cả, ở lại Göttingen giảng dạy và nghiên cứu cho đến
khi lìa trần. Ở đó, sau này ông còn làm giám đốc đài thiên văn Göttingen mới
được xây
dựng.
Gauß không chỉ xứng đáng là ông hoàng của toán học như các nhà toán học
đương thời và đời sau xưng tụng mà còn uyên bác và có những phát hiện đột phá trong nhiều ngành
khoa học khác nữa - như cổ kim chỉ có Archimedes, Galilei và
Newton trước ông.
Thật vậy, ngoài toán học Gauß còn
nghiên cứu về trắc địa,
vật lý (điện từ, từ trường, địa từ), thiên văn và quang học. Năm 24 tuổi ông đã nổi tiếng vì tính được chính xác quỹ đạo của thiên thể
Ceres. Trong thời gian thiên thể này
bị che khuất nhiều nhà thiên văn
tên tuổi đã dự đoán nơi tái xuất hiện
của Ceres trên bầu trời nhưng đều sai. Phương pháp
tính quỹ đạo này của Gauß được công bố năm 1809 (lý thuyết chuyển động của
các thiên thể nhỏ chịu ảnh hưởng hấp dẫn của các thiên thể lớn hơn) và được
sử dụng cho đến ngày nay (chỉ sửa đổi đôi chút để đem vào máy tính). Cùng
lúc ông còn đưa ra cách tính bình phương cực tiểu và phân bố Gauß để giảm
ảnh hưởng sai sót trong số liệu, giờ vẫn còn là căn bản cho các ngành khoa
học thực nghiệm. (Nhờ công trình thiên văn này Gauß được
trao tặng giải thưởng Lalande của viện Hàn lâm khoa học Pháp, sau đó ông còn
được Nga hoàng mời về làm giám đốc đài thiên văn của viện Hàn Lâm Petrograd,
cũng như các đại học Berlin và Wien mời cộng tác, nhưng ông đều chối từ.)
Hệ thống quang học mà Gauß áp dụng trong các kính viễn vọng
thiên văn hay trắc địa chính là nguyên tắc của ống kính máy ảnh chúng ta vẫn dùng. Ông
mở đường cho khoa trắc địa với nhiều đóng góp quan trọng và đã tự thực
hiện công cuộc đo đạc vương quốc Hannover. Trong dịp này ông phát minh
thiết bị
heliotrope cho phép đo chính xác góc và một điểm ở xa, và đưa ra cách dùng tọa
độ cong (curvilinear coordinates). Cùng với Wilhelm Weber, một nhà vật lý và
là bạn đồng hành nghiên cứu về điện từ và từ trường trái đất trong nhiều
năm, ông đã phát minh và thực hiện hệ thống điện tín đầu tiên trên thế giới.
Hai người còn khám phá ra định luật Kirchhoff trong vật lý.
Ngoài ra Gauß còn phát triển hệ thống đơn vị từ trường, mở rộng định luật
hấp dẫn Newton cho các lực điện từ và đặt nền móng cho lý thuyết thế vị
(potential theory), mở đầu cho ngành vật lý toán.
N gược lại, công cuộc trắc
địa cho vương quốc Hannover đã dẫn
dắt Gauß phát triển thêm phân bố Gauß và nhất là
nghiên cứu về hình học vi phân trong toán học. Ông nghiên cứu các đường
geodesics (đường ngắn nhất trên các bề mặt cong), đưa ra khái niệm độ cong
của một bề mặt (độ cong Gauß) và chứng minh là độ cong này là một tính chất
nội thể của bề mặt, không phụ thuộc vào cách lồng bề mặt ấy vào một không
gian nào đó. Những năm cuối
đời Gauß còn đặt nền mống cho ngành toán bảo hiểm mà lúc ấy còn phôi
thai. Ông cũng theo dõi và nghiên cứu về tài chính, và khác
với hầu hết các nhà khoa học đương thời, biết đầu tư rất khéo léo vào các dự
án kinh tế thời bấy giờ (Nga hoàng có lần ngỏ ý mời Gauß sang làm bộ trưởng
tài chính nhưng ông cũng từ chối).
Ngày nay - ngoài toán học ra - tên ông còn lưu lại trong rất
nhiều định luật, phương pháp và cả hằng số hay đơn vị nữa.
Ngoài ra, Gauß còn có ý tưởng nghiên cứu hình học phi Euklid rất sớm,
tuy không công bố rộng rãi. Tương truyền, khi nghe
Wolfgang Bolyai, bạn học từ những ngày Göttingen, loan báo về khám phá của
con mình là János Bolyai về hình học phi Euklid, ông thành thực bảo là "đã
tự nghĩ đến từ lâu" nên đã làm tình bạn sứt mẻ một thời gian. Chắc vì bài
học đó, sau này, khi theo dõi nghiên cứu khác của Lobachevsky
về hình học phi Euklid, Gauß rất quan tâm ủng hộ. Đến những năm cuối đời, học trò
cuối cùng của ông là Bernhard Riemann đưa ra quan
điểm kết hợp các loại hình học (ở mỗi nơi có thể mang tính chất khác nhau
nhưng kết hợp với nhau thành một khối mà sau này là cơ sở toán học cho
thuyết tương đối của Einstein), Gauß đã tích cực khuyến khích Riemann đệ trình làm luận án Habilitation.
Gauß có khả năng làm việc có một không hai. Ngay cả trong những lúc khó khăn
nhất như khi bà vợ đầu của ông (và đứa con thứ ba) mất năm 1809 hay những năm tháng đi đo đạc
lãnh thổ Hannover, ông vẫn nghiên cứu và đăng tải hàng chục bài nghiên cứu
và trao đổi với các khoa học gia khác. Tuy vậy ông rất thận trọng, chỉ công
bố kết quả nghiên cứu khi đã thật sự chắc chắn, có khi cả chục năm sau khi
bắt đầu tìm ra lời giải. Do đó mà các nhà toán học đồng thời đôi khi cảm
thấy ông có vẻ không hợp tác tích cực. Nhật ký và bản thảo
làm việc của ông còn ghi lại vô số kết
quả chưa ai biết đến (hình học phi Euklid đã đề cập là một
thí dụ). Tuy vậy, Gauß vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến
khắp các nhà toán học thời bấy giờ. Nhà toán học trẻ tuổi Galois, trước buổi đọ kiếm quyết định cuộc đời,
đã khẩn khoản yêu cầu chuyển bản thảo công trình của mình cho Gauß.
Gauß thích cuộc sống trầm lặng, bình thường không tham gia hội hè đình đám
nhiều ở Göttingen, mà chỉ thích đi dạo và vào thư
viện trường đọc sách. Thời bấy giờ tình hình chính trị khá bất ổn và kinh tế
suy sụp nhưng ngược lại, khoa học lúc đó phát triển khá mạnh. Người ta mở
rộng các trường đại học, việc trao đổi thảo luận với các nhà khoa học trong
ngoài nước trở nên phổ biến, ngay cả ngành thiên văn cũng được dư luận chú ý
tới. Gauß chăm sóc việc xây đài thiên văn mới ở ngoại thành Göttingen và từ năm 1816
trở đi ông sống và làm việc luôn ở đó (chuyện này cũng có lợi về vệ sinh, vì
khi bùng nổ bệnh dịch tả, ông bảo là "đài thiên văn của tôi là nơi bảo đảm
sức khỏe nhất ở Göttingen!"). Tuy suốt đời làm việc với khoa học, nhưng Gauß
cũng thích văn chương, nhất là đọc các tác phẩm của Jean Paul, một nhà văn
nổi tiếng đương thời mà ông rất hâm mộ. Gauß đọc nhiều và học nhiều, những
năm cuối cuộc đời ông còn học thêm thành thạo tiếng
Nga.

Sau khi Gauß mất, một người bạn ông là giáo sư sinh học Rudolph Wagner được
chấp thuận mổ óc ông để tìm hiểu bộ óc thiên tài này. Đến nay bộ óc của Gauß
vẫn còn được giữ nguyên vẹn ở trường đại học Göttingen. Kết quả không có gì
đặc biệt, đúng như Wagner trước đó đã tả lại người bạn của mình như sau
"Nhìn Gauß người ta có cảm giác nhận biết đây đúng là ông hoàng của khoa
học, nhưng điều này không bao giờ lộ ra phong cách bề ngoài của ông".
Tham khảo:
Walter Bühler: Gauß – eine biographische Studie, Springer Verlag
1987
Felix Klein: Vorlesungen über die Entwicklung der Mathematik im
19.Jahrhundert, Springer
Ngoài ra:
http://www.gaussjahr.de/index_en.php
http://www.math.uni-goettingen.de/Personen/Bedeutende_Mathematiker/
http://www.math.uni-hamburg.de/math/ign/gauss/gaussbio.html
© http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Tú Ân
|