Những bài cùng tác giả
Louis Pasteur (1822-1895) chế thuốc chủng ngừa
bệnh chó dại
"Tôi mong
các bạn dành sự quan tâm cho những lãnh địa thiêng liêng rất nhạy cảm có
tên là phòng thí nghiệm. Mong sao những lãnh địa này sẽ nhiều hơn
và chúng sẽ được tô điểm để trở thành những ngôi đền của tương lai, của
thịnh vượng và sức khỏe. Đây là nơi nhân loại sẽ lớn lên, vững mạnh và
hoàn thiện. Nơi đây, loài người sẽ học cách đọc
được sự phát triển và sự hài hòa cá nhân trong những công việc của
thiên nhiên, trong khi đó
công việc của chính loài người lại
thường là man rợ, cuồng tín và phá hoại" -
Louis Pasteur
 |
 |
Phòng thí nghiệm của Pasteur tại
Ecole Normale de Paris |
Vi trùng bệnh chó dại |
|
2/Thuở thiếu thời
của Louis Pasteur
Tuổi trẻ của Louis Pasteur đã không
cho thấy các dấu hiệu của một nhà
khoa học, một nhà khảo cứu tìm hiểu
về các bí ẩn căn bản của đời sống
con người. Khi lên 13 tuổi, Louis
Pasteur là một cậu bé có tài về hội
họa với các bức chân dung bà mẹ và
các người chị, các bức vẽ giòng sông
chảy gần nhà. Louis Pasteur ra đời
vào ngày 27-12-1822 tại Dôle, một
tỉnh nhỏ nằm bên giòng sông Doubs,
trong một căn nhà nhỏ trên đường
"Các thợ thuộc da" (Rue des
Tanneurs). Cha của Louis là ông Jean
Pasteur, trước kia là một trung sĩ
trong đạo quân của Napoléon
Bonaparte, nay làm thợ thuộc da. Năm
1827, ông Jean Pasteur đem gia đình
dọn qua tỉnh Arbois và căn nhà mới ở
gần giòng sông Cuisance và sau nhà
là một hố lớn để ngâm các bộ da bò
và da cừu.
Trong thời gian theo bậc trung học,
Louis Pasteur đã không tỏ ra là một
học sinh xuất sắc nhưng lại là một
con người kiên nhẫn với thói quen
làm việc cần mẫn. Hai năm trước khi
tốt nghiệp trung học, Louis Pasteur
được ông hiệu trưởng Romanet khuyên
nên thi vào Trường Cao Đẳng Sư Phạm
(Ecole Normale Supérieure), một ngôi
trường danh tiếng chuyên đào tạo các
giáo sư về Khoa Học, Lịch Sử, Văn
Chương và Nghệ Thuật.
Mùa thu năm 1838, khi 15 tuổi,
Louis Pasteur đã cùng với người bạn
tên là Jules, lên xe ngựa để đi
Paris, cách Arbois 250 dậm (400 km).
Sống trong một ký túc xá tại Paris,
Louis cảm thấy quá nhớ nhà nên một
tháng sau, ông Jean Pasteur phải lên
Paris, đón con trở về. Louis Pasteur
tiếp tục học trung học tại Arbois
rồi theo Đại Học Besancon cách nhà
25 dậm (40 km). Vào thời gian này,
cậu Louis nổi tiếng về vẽ chân dung
nhưng cậu vẫn không quên ước mơ thi
vào Trường Cao Đẳng Sư Phạm.
Tháng 8 năm 1842, Louis Pasteur tốt
nghiệp đại học Besancon với các hạng
ưu về vật lý, toán học và tiếng La
Tinh rồi thi đậu vào Trường Cao Đẳng
kể trên, với hạng 15 trên tổng số 22
sinh viên được tuyển chọn trên toàn
nước Pháp. Louis đã không vừa lòng
với kết quả này nên đã từ chối,
không theo học và đây là một điều
khác biệt với các sinh viên cùng lứa
tuổi. Năm sau, 1943, trong kỳ dự
tuyển lần thứ hai, Louis Pasteur
đứng hạng 4, theo học phân khoa Khoa
Học để sau này trở nên một giáo sư
về Vật Lý và Hóa Học.
Vào thời kỳ này, Paris là nơi cung
cấp các cơ hội học hành tốt đẹp nhất
cho giới thanh niên, và các sinh
viên ưa thích các bài giảng của Jean
Baptiste Dumas, một Giáo sư Hóa Học
danh tiếng. Louis Pasteur đã viết
thư về cho gia đình, cho biết: "rất
đông sinh viên tới nghe các buổi
diễn giảng của Giáo Sư Dumas. Giảng
đường rất lớn mà luôn luôn hết chỗ.
Chúng tôi phải đến trước nửa giờ để
chiếm chỗ ngồi tốt, như thể trong
rạp hát…". Ngoài Giáo Sư Dumas, các
sinh viên còn mến phục các nhà khoa
học khác như nhà vật lý Jean Baptist
Biot, nhà hóa học Antoine Jerome
Balard…
Năm 1845, Louis Pasteur là một
trong bốn sinh viên tốt nghiệp và
các giáo sư giảng dạy đã ghi chú về
Pasteur như sau: "… sẽ trở nên một
giáo sư xuất sắc". Sau đó Louis
Pasteur chỉ xin được một việc làm
tại phòng thí nghiệm của Giáo Sư
Balard và bắt đầu nghiên cứu về bản
chất của các tinh thể (crystals).
Vào đầu thế kỷ 19, giáo sư Biot đã
khám phá thấy rằng các tinh thể của
vật chất có đặc tính làm lệch tia
sáng chiếu đến, và có loại làm lệch
qua bên phải, lại có loại làm lệch
qua bên trái. Louis Pasteur bắt đầu
khảo sát một loạt các hợp chất gọi
là axít tartaric và các muối
tartrate. Có hai loại tinh thể axít
tartaric được tạo thành bên trong
thùng rượu nho khi nước nho lên men,
thế nhưng đã có một bí ẩn vì một
loại dung dịch axít kể trên làm lệch
ánh sáng trong khi loại thứ hai
không có đặc tính đó. Sau cả ngàn
lần quan sát qua kính hiển vi, Louis
Pasteur đã nhận ra rằng trong số các
mặt nhỏ của hai loại tinh thể axít
tartaric, chỉ có một mặt nhỏ khác
nhau về độ dốc. Khám phá mới của
Louis Pasteur đã là căn bản cho một
thứ hóa học mới của thời kỳ bấy giờ,
đó là ngành hóa học ba chiều (stereo
chemistry).
Tháng 1 năm 1849, sau khi tốt
nghiệp văn bằng Tiến Sĩ Khoa Học,
Louis Pasteur nhận chức vụ giảng sư
về hóa học tại trường Đại Học Đường
Strassbourg và vào tuổi 26, Louis
Pasteur quen cô Marie Laurent, ái nữ
của vị viện trưởng đại học. Họ cử
hành hôn lễ vào ngày 29-5-1848 và từ
đây, bà Marie đã lo lắng mọi công
việc gia đình, để chồng chuyên tâm
nghiên cứu Khoa Học. Tại
Strassbourg, 3 trong 5 người con đã
ra đời: cô gái Jeanne sinh năm 1850
rồi một năm sau là người con trai
Jean Baptiste và hai năm sau nữa là
cô gái Cécile.
3/ Nghiên cứu vi trùng.
Vào tháng 9 năm 1954, Louis Pasteur
được Bộ Trưởng Giáo Dục Pháp bổ
nhiệm làm Giáo Sư Hóa Học và Khoa
Trưởng Khoa Học tại Đại Học Lille.
Đây là một ngôi trường mới được
thành lập tại trung tâm kỹ nghệ rất
giàu có thuộc miền bắc của nước
Pháp. Louis Pasteur với tuổi 32, đã
được giao trọng trách là giáo dục
các sinh viên làm sao đáp ứng được
các nhu cầu thực tế của địa phương.
Giáo Sư Pasteur đã khởi đầu một quan
niệm giáo dục rất tiến bộ đối với
thời bấy giờ, đó là lập ra các lớp
học buổi tối dành cho các công nhân
trẻ của thành phố kỹ nghệ, đồng thời
ông cũng dẫn các sinh viên ban ngày
đi thăm viếng các nông trại và các
nhà máy lớn. Pasteur đã từng nói:
"không có hai loại Khoa Học mà chỉ
có Khoa Học và các áp dụng của Khoa
Học. Hai thứ này liên kết với nhau
như trái cây mọc ra từ cành cây".
Tại vùng Lille, có rất nhiều nhà
máy nấu rượu. Người ta đã cho men
vào nước nho và sau tiến trình lên
men, nước nho trở thành rượu chát.
Nhưng vào thời kỳ đó, không ai biết
rõ tại sao đã có những biến đổi này.
Các nhà khoa học chỉ nói về tiến
trình lên men là "lạ lùng và còn bí
ẩn ".
Vào một ngày mùa hè năm 1856, ông
Bigo là chủ của một lò nấu rượu đã
tới trường đại học, thăm viếng Giáo
Sư Pasteur. Ông Bigo đã trình bầy
rằng một dung dịch củ cải đường
thường được chuyển thành rượu nhưng
lần này, nó đã trở thành dấm chua.
Các nhà sản xuất rượu khác cũng báo
cáo cùng một trở ngại và đây là một
điều xấu cho nền kỹ nghệ trong vùng
bởi vì sự lên men dấm đã gây thiệt
hại hàng ngàn quan tiền trong một
ngày. Không ai biết rõ nguyên do đã
sinh ra sự lên men rượu, tại sao
rượu trở thành dấm chua. Ông Bigo hi
vọng rằng vị Giáo Sư Pasteur dạy
người con trai của ông, sẽ cho các
lời khuyên. Vì vậy Louis Pasteur đã
tới thăm nhà máy nấu rượu và đã lấy
các mẫu dung dịch của cả loại tốt
lẫn loại đã bị hư hỏng. Qua kính
hiển vi, Louis Pasteur nhận thấy
rằng các tế bào men rượu (ferments)
ở dạng hình tròn rất nhỏ, nhưng
trong dung dịch bị hư hỏng, các tế
bào tròn đó đã bị các tế bào hình
que lấn át. Louis Pasteur gọi các tế
bào men rượu là "wee germs" (vi
trùng) (sau này được gọi là các vi
sinh vật = microorganisms). Ông nhớ
lại công trình khảo cứu của nhà khoa
học Charles Cagniard-Latour theo đó
các tế bào men rượu đã sinh sản bằng
cách mọc mầm (budding). Pasteur đặt
giả thuyết rằng nếu các tế bào này
sinh sản được thì chúng có sự sống
và đã sống nhờ đường trong dung dịch
củ cải đường và biến dung dịch này
thành rượu. Louis Pasteur đã cấy men
trong nhiều loại dung dịch đường và
đã nhìn thấy qua kính hiển vi các tế
bào men rượu sinh sôi nẩy nở, ngay
cả trong một môi trường nhân tạo
thiếu khí oxygen, quan niệm này trở
thành hiệu ứng Pasteur (the Pasteur
effect).
Khi nghiên cứu về dung dịch sữa là
thứ dễ bị hư hỏng, Louis Pasteur
cũng thấy sữa trở thành chua khi có
nhiều loại tế bào hình que, loại đã
thấy trong dung dịch củ cải đường bị
hư hỏng của ông Bigo. Do sự khám phá
của mình, Giáo Sư Pasteur đã khuyên
các nhà nấu rượu nên dùng kính hiển
vi để khám xét các thùng rượu đang
lên men.
Năm 1857, sau hai năm khảo cứu về
dung chất củ cải đường, ông Pasteur
phổ biến một báo cáo về sự lên men
theo đó có hai loại men, một loại có
ích đã biến dung dịch củ cải đường
thành rượu và một loại có hại, hình
que, chỉ dài bằng 0.001 mm.
Báo cáo về sự lên men do các vi sinh
vật gây nên, đã tạo ra một cơn bão
phản đối trong giới khoa học vì một
số nhà khoa học thời đó tin rằng sự
lên men là do phản ứng giữa các chất
thành phần. Nhiều nhân viên của Hàn
Lâm Viện cũng không chấp nhận các
chứng cớ nêu ra. Tuy thế, Giáo Sư
Louis Pasteur vẫn tiếp tục nghiên
cứu.
Cuối năm 1857, Louis Pasteur được
gọi về Trường Cao Đẳng Sư Phạm tại
thủ đô Paris và làm giám đốc khảo
cứu khoa học. Vào thời gian này,
Louis Pasteur đã gặp các khó khăn mà
các nhà khoa học đương thời cùng
phải chịu đựng: phòng khảo cứu không
được trang bị đầy đủ dụng cụ, không
có ngân khoản và các tiện nghi khác.
Ông Pasteur phải dùng tiền riêng của
mình để biến đổi hai phòng trên lầu
của nhà trường thành một nơi khảo
cứu. Louis Pasteur tìm cách bác bỏ
lý thuyết về sự sinh sản tức thời
(spontaneous generation). Ông tin
rằng trong không khí có các vi
trùng, vì vậy ông đã nghĩ ra một
cách thí nghiệm theo đó dung dịch
nước đường được đun sôi và chứa
trong hai bình thủy tinh khác nhau,
một bình được gắn kín còn bình kia
để mở ra không khí. Sau vài ngày,
dung dịch trong bình thông với không
khí đã bị hư hỏng, trái với dung
dịch kia. Louis Pasteur cũng làm thí
nghiệm với các loại dung dịch khác
như sữa, nước canh… và đã chứng minh
được rằng vi trùng từ bên ngoài
không khí xâm nhập vào các dung
dịch. Nhưng các nhà khoa học phản
đối vẫn cho rằng việc gắn kín bình
đã làm ngưng lại sự sinh sản tức
thời. Ông Pasteur bèn nghĩ thêm một
cách khác, dùng tới loại bình chứa
dung dịch có cổ dài uốn theo hình
chữ S nhờ đó dung dịch bên trong vẫn
tiếp xúc với không khí mà không bị
bụi chứa vi trung xâm nhập. Louis
Pasteur còn khảo sát ảnh hưởng của
không khí có chứa vi trùng tại nhiều
địa điểm như trong hầm rượu, trên
đồi miền Arbois và trên miền núi cao
Mont Blanc. Chính vào thời kỳ ông
Pasteur bận tâm khảo cứu thì người
con gái đầu lòng của ông tên là
Jeanne mắc bệnh sốt thương hàn và
qua đời vào tháng 9 năm 1859.
Tháng 11 năm 1860, Giáo Sư Louis
Pasteur báo cáo trước Hàn Lâm Viện
Khoa Học Pháp về các kết quả thí
nghiệm của mình theo đó, bụi trong
không khí là nguyên do làm hư hỏng
các dung dịch. Louis Pasteur đã nghĩ
ra một phuong pháp làm sạch vi trùng
mà ngày nay được gọi là cách khử
trùng Pasteur (pasteurization). Nhờ
phương pháp này, các thực phẩm có
thể lưu trữ được lâu hơn và được
chuyên chở mà không bị hư thối. Ngày
8-12-1862, Louis Pasteur được bầu
vào Hàn Lâm Viện Khoa Học, một danh
dự cao quý nhất của các nhà khoa học
người Pháp. Các công trình nghiên
cứu của ông Pasteur đã mở đường cho
nhiều sinh viên và nhà khoa học khác
tìm kiếm các vi trùng tại các phạm
vi khác nhau.
4/ Nghiên cứu về các bệnh truyền
nhiễm.
Do yêu cầu của Bộ Trưởng Canh Nông,
Giáo Sư Dumas đã khẩn khoản nhờ ông
Louis Pasteur xuống miền Nam nước
Pháp để nghiên cứu về bệnh tầm, một
bệnh dịch đang tàn phá nền kỹ nghệ
tơ lụa của địa phương. Miễn cưỡng
phải nhận lời, nhà khoa học Pasteur
đã ra đi cùng với người học trò giỏi
nhất là Emile Duclaux và vài sinh
viên khác. Nhóm nhà nghiên cứu này
cư ngụ tại làng Alais. Louis Pasteur
đã tìm đọc tất cả các tài liệu viết
về con tầm, cách nuôi tầm cũng như
dùng kính hiển vi để quan sát các
mầm bệnh đã giết hại loài tầm. Ông
đã làm việc không ngừng trong khi
hoàn cảnh gia đình của ông gặp các
bất hạnh liên tục: ông Jean Pasteur
qua đời rồi tới lượt người con gái
Camille, 2 tuổi, thiệt mạng vào
tháng 9-1865 vì bệnh sốt thương hàn.
10 tháng sau tới lượt người con gái
Cécile, 13 tuổi, cũng chết vì bệnh
sốt kể trên. Do bị căng thẳng và
buồn phiền, ông Pasteur đã bị tai
biến mạch máu não vào đêm
19-10-1868. Nhiều người đã tưởng nhà
bác học qua đời thế nhưng chỉ 3
tháng sau, mặc dù bị liệt một phần
thân thể, Giáo Sư Pasteur vẫn trở
lại với các công trình nghiên cứu.
Năm 1870, Louis Pasteur cho phổ biến
một báo cáo về bệnh tầm do một loại
vi trùng ký sinh. Ông đã chỉ dẫn
cách tìm ra các con tầm mắc bệnh và
cách dùng loại trứng tầm tốt để tạo
nên các con tầm khỏe mạnh, và phương
pháp này đã được các nhà chăn nuôi
khắp châu Âu xử dụng. Cũng vào năm
này, bùng nổ cuộc chiến tranh giữa
nước Pháp và nước Phổ khiến cho ông
Pasteur phải rời khỏi thành phố
Paris. Ông trở lại nơi này vào cuối
năm 1871, khi chiến tranh chấm dứt
với các bệnh viện tràn ngập các binh
sĩ bị thương. Nhà bác học Pasteur vì
vậy đã nghiên cứu các vết thương và
đã khuyên các bác sĩ phải chú tâm về
vấn đề vệ sinh khi chữa trị bệnh
nhân.
Mấy năm về trước tại xứ Tô Cách
Lan, Giáo Sư về khoa Giải Phẫu
Joseph Lister của Đại Học Đường
Edinburgh, đã đọc các luận chứng của
Louis Pasteur về vi trùng rồi tìm
hiểu nguyên do các bệnh nhân bị
nhiễm trùng. Từ năm 1867, ông Joseph
Lister đã dùng dung dịch axít
carbolic để khử trùng các dụng cụ y
khoa, các vết thương và các bàn tay
của bác sĩ giải phẫu nhờ đó đã làm
giảm số tử vong của các bệnh nhân
được 97 phần trăm. Năm 1874, trong
bức thư gửi cho Louis Pasteur,
Joseph Lister xác nhận rằng nhờ lý
thuyết về vi trùng của nhà bác học
người Pháp mà ông đã thực hiện được
hệ thống thanh trùng (antiseptic
system).
Louis Pasteur không phải là một bác
sĩ y khoa nhưng các khảo cứu của ông
về vi trùng, về các bệnh truyền
nhiễm đã khiến cho nhà bác học được
bầu vào Hàn Lâm Viện Y Học của nước
Pháp vào năm 1873. Nhà bác học
Pasteur lại có các phụ tá trẻ tuổi
tài giỏi: bác sĩ Jules-Francois
Joubert, bác sĩ Emile Roux và bác sĩ
Charles Chamberland… và phòng nghiên
cứu của ông vẫn tìm kiếm nhiều
phương pháp kiểm soát các vi trùng
gây bệnh.
Sau 20 năm nghiên cứu, các khám phá
về vi trùng và bệnh truyền nhiễm của
Louis Pasteur đã được phổ biến qua
tác phẩm "Lý thuyết về vi trùng và
áp dụng trong Y Khoa và Giải Phẫu"
(The Germ Theory and its Application
to Medicine and Surgery). Tác phẩm
này cắt nghĩa sự lây lan của các
bệnh truyền nhiễm và từ nay, các nhà
khoa học bắt đầu tìm hiểu về các
bệnh dịch như đậu mùa, dịch tả…
Vào thời kỳ đó, tại miền đông của
nước Phổ có bác sĩ Robert Koch đang
tìm hiểu nguyên nhân gây ra bệnh
than, một thứ bệnh giết hại rất
nhiều cừu và các gia súc khác. Tháng
4 năm 1876, bác sĩ Kock đã dùng kính
hiển vi, tìm ra loại vi trùng gây
bệnh than, được đặt tên là "bacillus
anthracis". Như vậy bác sĩ Koch đã
chứng minh lý thuyết về vi trùng của
nhà bác học Pasteur.
Năm 1878, Louis Pasteur khởi đầu
nghiên cứu vi trùng gây ra bệnh dịch
tả gà (chicken cholera). Nhà bác học
đã nuôi vi trùng trong nước dùng gà
(chicken broth) rồi dùng các liều
độc chất từ yếu đến mạnh chích dần
vào các con gà và đã thấy cơ thể gà
chống cự được sự xâm nhập của vi
trùng. Louis Pasteur đã gọi phương
pháp này là chủng ngừa (vaccination)
và ngày nay, kỹ thuật miễn dịch
(technique of immunization) của nhà
bác học vẫn còn được xử dụng.
Luôn luôn nhà bác học Pasteur muốn
chia xẻ các khảo cứu và khám phá của
mình với các nhà khoa học khác. Năm
1881, Louis Pasteur thuyết trình về
phép chủng ngừa trước Hàn Lâm Viện
Khoa Học Pháp thế nhưng, ông vẫn gặp
các nghi ngờ và chống đối. Một số
người thắc mắc làm sao một nhà hóa
học lại hiểu rõ về các bệnh tật của
súc vật. Viên chủ nhiệm tạp chí Thú
Y (the Veterinary Journal) đề nghị
một công cuộc thử nghiệm công khai
về thuốc chủng ngừa bệnh than
(anthrax vaccine). Louis Pasteur
nhận lời.
Vào ngày 31-5-1881 tại nông trại
Pouilly-le-Fort thuộc vùng Melun gần
thủ đô Paris, các nông gia, các bác
sĩ thú y, các nhà khoa học và nhân
viên chính phủ đã chứng kiến Louis
Pasteur cùng các cộng sự viên là
Roux, Chamberland và Louis Thuillier
chích ngừa nhóm 1 gồm 25 con cừu
bằng các liều thuốc chủng từ yếu đến
mạnh, còn nhóm thứ 2 cũng gồm 25 con
cừu, được nuôi riêng để kiểm chứng.
Sau đó, cả 50 con cừu đều được chích
bằng liều vi trùng bệnh than cực
mạnh. Kết quả là 25 con cừu của nhóm
2 đã chết và nhóm 1 đã được chủng
ngừa không bị ảnh hưởng. Sự thành
công thực là rực rỡ. Như vậy nhà bác
học Pasteur đã khám phá ra một thứ
võ khí hữu hiệu để chống lại một số
bệnh truyền nhiễm.
Tới cuối thập niên 1870, Louis
Pasteur lại nghiên cứu về bệnh chó
dại (rabies). Đây là một trong các
bệnh khủng khiếp của nhân loại với
hình ảnh các con chó điên, miệng sùi
bọt, tấn công các người qua đường.
Bằng các phương pháp tương tự khảo
cứu về bệnh dịch tả gà, nhà bác học
Pasteur đã không tìm ra được vi
trùng bệnh chó dại trong máu của các
con chó và thỏ mắc bệnh. Vào thời kỳ
đó, các nhà khoa học như Pasteur
chưa biết rằng các bệnh như bệnh
than, bệnh dịch tả gà là do vi trùng
(bacteria) nên có thể nhận ra qua
kính hiển vi, còn nguyên nhân gây
nên bệnh chó dại là các vi khuẩn
(virus), chỉ nhìn thấy được bằng các
kính hiển vi cực mạnh mà các nhà
khoa học thuộc cuối thế kỷ 19 chưa
có. Thế nhưng, do thấy người mắc
bệnh chó dại bị co giật, Louis
Pasteur đã cho rằng bộ óc và hành
tủy (medulla oblongata) là nơi trú
ẩn của các vi trùng bệnh chó dại.
Nhà bác học Pasteur sau đó đã tìm ra
loại thuốc chủng nhưng chưa có cơ
hội áp dụng, cho tới ngày 6-7-1885,
liều thuốc chủng đầu tiên của Louis
Pasteur đã cứu sống em Joseph
Meister.
5/ Di sản của nhà bác học Louis
Pasteur.
Vào năm 1888, một ủy ban khoa học
độc lập đã trắc nghiệm thuốc chủng
ngừa bệnh chó dại của Louis Pasteur
và xác nhận thứ thuốc này an toàn.
Một nhân viên trong ủy ban đã viết:
"chúng tôi tin tưởng vào giá trị của
khám phá do ông Louis Pasteur, và
khám phá này còn có thể áp dụng cho
các bệnh tật khác". Sau đó, Hàn Lâm
Viện Khoa Học Pháp cổ động một
chương trình gây quỹ để thành lập
một viện nghiên cứu. Mọi người trên
toàn thế giới đã gửi tới các đóng
góp. Ngày 14-11-1888, Viện Pasteur
được mở cửa để phục vụ cho sức khỏe
công cộng và nhà bác học Pasteur đã
mời nhiều nhà khoa học thuộc các bộ
môn khác cùng nhau nghiên cứu. 15
bác sĩ và khoa học gia đã cộng tác
với Viện Pasteur. Giáo Sư Pasteur
cũng huấn luyện một số nhà khảo cứu
trẻ, đáng kể là bác sĩ Roux và bác
sĩ Alexandre Yersin đã tìm ra độc tố
và cách chữa trị bệnh yết hầu
(diphtheria), một căn bệnh đã giết
hại hàng ngàn trẻ em mỗi năm, và một
vị phụ tá xuất sắc nhất của Louis
Pasteur là Elie Metchnikov đã phát
hiện ra các cách cơ thể chống lại vi
trùng, rồi nghiên cứu về tính miễn
nhiễm.
Ngày 27-12-1892, các nhà khoa học
thuộc nhiều quốc gia đã họp mặt tại
Đại Giảng Đường của Trường Đại Học
Sorbonne ở Paris để kỷ niệm lần sinh
nhật thứ 70 của Louis Pasteur. Nhà
bác học Pasteur vì bị liệt nửa người
bên trái, được Tổng Thống Pháp Sadi
Carnot dìu vào Hội Trường. Rất nhiều
nhân vật lừng danh trên thế giới đã
lên tiếng ca ngợi ông Louis Pasteur,
kể cả Giáo Sư Joseph Lister. Vì
không đủ sức khỏe, nhà bác học
Pasteur đã không đọc nổi bài diễn
văn và người con trai của ông phải
đọc thay ông. Sau đó các người
ngưỡng mộ đến viếng thăm căn phòng
thí nghiệm mà nhà bác học đã làm
việc trong 6 năm cuối đời, trong số
này có ông Charles Chappuis, người
bạn cũ 50 năm và hiện là Viện Trưởng
Danh Dự của Hàn Lâm Viện Dijion.
Vào tháng 4 năm 1895, Louis Pasteur
được đưa tới thăm phòng thí nghiệm
của bác sĩ Roux và được mời coi qua
kính hiển vi thứ vi trùng của bệnh
dịch "plague bacillus" mới được tìm
thấy một năm về trước và nhà bác học
Pasteur đã phải thốt lên: "A !
thì ra còn quá nhiều việc phải làm".
Ngày 28-9-1895, nhà bác học Louis
Pasteur qua đời, linh cữu được quàn
tại giáo đường mà ngày nay là Nhà
Bảo Tàng của Viện Pasteur ở Thủ Đô
Paris. Vào buổi tang lễ, một số công
trình nghiên cứu của Louis Pasteur
đã được trình bày trước dân chúng,
gồm các tác phẩm: "Hóa học phân tử
bất đối xứng" (Molecular
dissymmetry, 1848), "Sự lên
men"(Fermentations, 1857), "Về sự
sinh sản tự nhiên"(Spontaneous
generation, 1862), "Các khảo sát về
rượu nho" (Studies of wine, 1863),
"Các bệnh của loài tầm"(Silk worms
diseases, 1865), "Các khảo sát về
rượu bia" (Studies of beer, 1871),
"Các bệnh truyền nhiễm" (Infectious
diseases, 1877), "Thuốc chủng ngừa"
(Vaccines, 1880), "Ngừa bệnh chó
dại" (Prevention of rabies, 1885).
Theo phương pháp khảo sát của Louis
Pasteur, các nhà khoa học của phòng
nghiên cứu của bác sĩ Robert Koch đã
tìm ra độc tố của vi trùng bệnh uốn
ván (tetanus toxin) vào năm 1890 rồi
qua đầu thế kỷ 20, nhiều liều thuốc
chủng ngừa hữu hiệu đã được khai
triển để trị các bệnh đậu mùa, lao
phổi, sốt vàng da, tê liệt
(poliomyelitis), dịch tả, sởi,
thương hàn, ho gà, cúm, dịch hạch…
Các khảo cứu khoa học của Louis
Pasteur đã là căn bản dùng cho hơn
100 phát minh của các Viện Pasteur
và kể từ năm 1900, 8 khoa học gia
của các Viện Pasteur đã đoạt được
các Giải Thưởng Nobel lừng danh về
Sinh Học và Y Khoa.
Nhà bác học Louis Pasteur đã từng
nói với các người cộng tác: "các
bạn đã mang lại cho tôi niềm vui sâu
đậm nhất của một người có niềm tin
không lay chuyển được, đó là Khoa
Học và Hòa Bình sẽ chiến thắng sự
Ngu Dốt và Chiến Tranh… và Tương Lai
sẽ thuộc về những ai làm lợi ích
nhiều nhất cho Nhân Loại đang đau
khổ ".
Louis Pasteur là một nhà nghiên cứu
khéo léo với trí tò mò không giới
hạn, có thiên tài về quan sát, đã
tận tụy suốt đời cho các công trình
khảo cứu để bảo vệ Kỹ Nghệ và Khoa
Học. Louis Pasteur là một nhà bác
học thực hiện được bốn lý tưởng:
Niềm Tin, Hi Vọng, Lòng Bác
Ái và
Khoa Học (Faith, Hope, Charity and
Science). Do các công trình khảo cứu
và các kết quả hữu ích dùng cho Canh
Nông, Kỹ Nghệ và Y Khoa, Louis
Pasteur xứng đáng được người đời sau
ca ngợi là Vị Ân Nhân của Nhân
Loại./.
Võ Thị Diệu Hằng viết:
1822 : 27 tháng 12 . Louis
Pasteur ra đời tại Dole (Jura)
1840 : Ðậu Tú tài Văn chương tại Besançon. Thầy hướng dẫn học sinh tại
trường trung học College de Besançon
1853 : Pasteur được giải Société de Pharmacie de Paris nhờ nghiên cứu và
tổng hợp acide racémique từ acide tartrique. Khám phá acide tartrique
không hoạt động (inactif)
1860 : Nghiên cứu thành phần không khí tại Arbois cho vấn đề "tự sinh"
(génération spontanée). Nghiên cứu
thuyết Tự sinh
1895 : 28 tháng 9. Pasteur qua đời tại Villeneuve-l'Étang.
Khám phá của ông cho rằng hầu hết
các bệnh nhiễm trùng là do những mầm bệnh, mang tên "lý
thuyết về mầm bệnh", là một trong
những khám phá quan trọng nhất trong lịch sử y học. Sự nghiệp của ông
trở thành nền móng cho ngành vi sinh, và là cột móc đánh dấu bước ngoặc
của y học hiện đại.
Tóm tắt những đóng góp to lớn của
Pasteur cho vi sinh và y học:
Thứ nhất, ông đấu tranh đòi thay
đổi thực hành trong bệnh viện để giảm thiểu lây lan bệnh do vi khuẩn.
Thứ hai, ông phát hiện ra rằng có
thể dùng dạng vi khuẩn đã làm yếu để chủng ngừa chống lại dạng vi khuẩn
độc.
Thứ ba, Pasteur thấy rằng bệnh
dại lây nhiễm nhờ một tác nhân rất nhỏ không nhìn thấy dưới kính hiển
vi, nhờ đó mở ra thế giới các virus.
Kết quả là ông đã triển khai
được kỹ thuật tiêm vaccin cho chó chống bệnh dại và điều trị người bị
chó dại cắn. Và thứ tư, Pasteur đã phát triển phương pháp "tiệt trùng
kiểu Pasteur" (pasteuriser), một quy trình dùng sức nóng để tiêu diệt vi
khuẩn có hại trong các loại thực phẩm dễ thiu thối mà không làm hỏng
thực phẩm.
Sự nghiệp của Pasteur
Mỗi khám phá trong sự nghiệp của
Pasteur đều là những mắt xích của một chuỗi không tách rời bắt đầu bằng
tính bất đối xứng phân tử và kết thúc bằng phòng bệnh dại, theo con
đường nghiên cứu trên men, tằm, bệnh của rượu và bia, vô trùng và
vaccin.
Từ tinh thể học tới phân tử bất
đối xứng
Năm 1847 ở tuổi 26, Pasteur tiến
hành công trình đầu tiên về tính bất đối xứng phân tử, nêu lên cùng một
lúc các nguyên lý của tinh thể học, hóa học và quang học. Ông đã đề ra
định luật cơ bản: tính bất đối xứng
phân chia thế giới hữu cơ với thế giới vô cơ.
Nói một cách khác, các phân tử bất đối xứng luôn là sản phẩm của sinh thể
sống. Công trình của ông trở thành cơ sở cho một ngành khoa học mới -
ngành hóa học lập thể.
Nghiên cứu sự lên men và sự tự
sinh
Theo yêu cầu của một nhà sản xuất
rượu tên là Bigo ở miền bắc nước Pháp, Pasteur bắt đầu nghiên cứu xem
tại sao rượu lại bị nhiễm những chất ngoài ý muốn trong quá trình lên
men. Ông đã sớm chứng minh được rằng mỗi giai đoạn của quá trình lên men
đều liên quan với sự tồn tại của một loại vi sinh vật đặc thù hay con
men - một sinh vật mà người ta có thể nghiên cứu bằng cách nuôi cấy
trong một môi trường vô trùng thích hợp. Nhận định sáng suốt này là
cơ sở của ngành vi sinh.
Pasteur đã giáng một đòn quyết
định vào thuyết tự sinh, học thuyết đã từng tồn tại trong 20 thế kỷ cho
rằng cuộc sống có thể tự này sinh từ những chất liệu hữu cơ. Ông cũng
phát triển lý thuyết mầm bệnh. Cùng thời gian này, ông khám phá ra sự
tồn tại của sự sống trong điều kiện không có oxy: "Lên men là hậu quả
của sự sống không có không khí". Khám phá về sự sống yếm khí đã mở ra
con đường nghiên cứu những mầm bệnh gây nhiễm trùng huyết và bệnh hoại
thư, cùng với nhiều bệnh nhiễm trùng khác. Nhờ Pasteur, người ta
có thể phát minh ra những kỹ thuật tiêu diệt vi khuẩn và kiểm soát ô
nhiễm.
Kỹ thuật "tiệt trùng kiểu
Pasteur"
Hoàng đế Napoleon III đã đề nghị
Pasteur nghiên cứu những bệnh ảnh hưởng đến rượu đang gây thiệt hại cho
ngành sản xuất rượu. Năm 1864, Pasteur tới khu vườn nho ở Arbois để
nghiên cứu vấn đề này. Ông đã chứng minh rằng bệnh của rượu là do vi
sinh vật gây ra, những vi sinh vật này có thể bị tiêu diệt bằng cách đun
nóng rượu đến nhiệt độ 55°C trong vài phút. áp dụng cho bia và sữa, cách
xử lý này, được đặt tên là "tiệt trùng kiểu Pasteur" đã
nhanh chóng thông dụng trên khắp thế giới.
Nghiên cứu bệnh nhiễm trùng ở
người và động vật
Năm 1865, Pasteur bắt đầu nghiên
cứu những bệnh của tằm đang làm lụn bại ngành tằm tơ ở Pháp. Ông đã tìm
ra tác nhân gây bệnh và cách lan truyền những tác nhân này - theo qui
luật lây và di truyền - và cách ngăn ngừa bệnh. Bổ sung thêm nghiên cứu
về sự lên men, giờ đây ông có thể khẳng định mỗi bệnh là do một vi
khuẩn đặc trưng gây ra và những vi khuẩn này là những yếu tố ngoại lai.
Với hiểu biết này, Pasteur có thể đặt ra những qui tắc cơ bản của tiệt
trùng. Ngǎn ngừa được lây nhiễm, phương pháp tiệt trùng của ông đã
cách mạng hóa ngành ngoại khoa và sản khoa.
Từ năm 1877-1887, Pasteur vận
dụng cơ sở vi sinh học vào cuộc chiến chống các bệnh nhiễm trùng. Ông
tiếp tục tìm ra ba vi khuẩn gây bệnh cho người: tụ cầu, liên cầu và phế
cầu.
Điều trị và phòng ngừa bệnh dại
Louis Pasteur đã tìm ra phương
pháp làm yếu các vi sinh vật độc là cơ sở cho chủng ngừa. Ông đã phát
triển các vaccin chống bệnh tả ở gà, bệnh than và bệnh heo đóng dấu. Sau
khi nắm vững phương pháp chủng ngừa, ông đã áp dụng khái niệm này vào
bệnh dại. Ngày 6/7/1885, lần đầu tiên Pasteur đã thử phương pháp
điều trị bệnh dại của mình cho người: bé Joseph Meister đã được
cứu sống.
Thành lập Viện Pasteur
Ngày
1/3/1886, Pasteur trình bày kết quả phương pháp điều trị bệnh dại của
ông trước Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và kêu gọi thành lập một trung tâm
vaccin dại. Đông đảo dân chúng và cộng đồng quốc tế đã vận động tài trợ
cho việc xây dựng Viện Pasteur, một viện nghiên cứu tư đầu tiên được
Tổng thống pháp Jules Gresvy công nhận năm 1887 và được người kế nhiệm
ông là Sadi Carnot khánh thành năm 1888. Theo mong ước của Pasteur, Viện
được xây dựng thành một cơ sở điều trị bệnh dại, một trung tâm nghiên
cứu các bệnh nhiễm trùng và một trung tâm giảng dạy.
Nhà khoa học 66 tuổi đã dành trọn
7 năm cuối cùng của cuộc đời cho Viện nghiên cứu vẫn mang tên ông. Trong
thời gian này, Pasteur cũng được hưởng niềm vui của danh tiếng và được
tôn vinh khắp thế giới bằng những huân huy chương có uy tín.
Sự nghiệp của ông được tiếp tục
và được mở rộng trên kháp thế giới nhờ lớp lớp học trò.
Con người của tự do và nghiêm
ngặt
Sự nghiệp của Pasteur không phải
đơn giản là phép cộng những khám phá của ông. Nó còn tiêu biểu cho cuộc
cách mạng phương pháp luận khoa học. Pasteur đặt lên trên hết hai nguyên
tắc không thể bàn cãi của nghiên cứu hiện đại: tự do sáng tạo nhất thiết
phải đi với thử nghiệm nghiêm ngặt. Ông dạy các học trò của mình:
"Đừng có đưa ra điều gì mà
anh không thể chứng minh bằng thực nghiệm"
Louis Pasteur là người theo chủ
nghĩa nhân văn, luôn luôn làm việc theo hướng cải thiện địa vị của con
người. Ông là một người tự do chưa bao giờ ngập ngừng khi nhận những vấn
đề mà trong thời đại của ông người ta vẫn thường cho rằng chúng sẽ thất
bại.
Ông đặc biệt coi trọng việc phổ
biến kiến thức và ứng dụng nghiên cứu. Trong cuộc đời của một nhà khoa
học, lý thuyết và phương pháp Pasteur đã được đưa vào thực tiễn vượt xa
khỏi biên giời nưới Pháp.
Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng
quốc tế của sự nghiệp ông, các học trò của Pasteur đã đi khắp thế giới
tới bất cứ nơi nào cần đến sự giúp đỡ của họ. Năm 1881, Viện Pasteur
ngoài nước Pháp đầu tiên được thành lập ở Sài gòn, Việt Nam), mở đầu cho
mạng lưới các Viện Pasteur quốc tế.
Vì ông đã làm thay đổi vĩnh viễn
thế giới, tổ quốc quê hương ông và cả thế giới luôn coi ông là một ân
nhân của nhân loại.
Sự tiến bộ của nhân loại
"Tôi cầu khẩn các bạn dành sự
quan tâm cho những lãnh địa thiêng liêng rất nhạy cảm có tên là các
phòng thí nghiệm. Mong sao những lãnh địa này sẽ nhiều hơn và chúng sẽ
được tô điểm để trở thành những ngôi đền của tương lai, của thịnh vượng
và sức khỏe. Đây là nơi nhân loại sẽ lớn lên, vững mạnh và hoàn thiện. ở
đây, loài người sẽ học cách đọc được sự phát triển và sự hài hòa cá nhân
trong những công việc của tự nhiên, trong khi công việc của chính loài
người lại thường man rợ, cuồng tín và phá
hoại" - Louis Pasteur
©
http://vietsciences.free.fr
và http://vietsciences.org
Phạm Văn Tuấn và Võ Thị Diệu Hằng
|